« Quay lại

Công tác sản xuất và sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh bằng chế phẩm sinh học Compost Makeer trên địa bàn huyện Anh Sơn.

Để phát triển nền nông nghiệp bền vững, việc sử dụng các chế phẩm sinh học đang là xu hướng tất yếu ở tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng. Việc ứng dụng các chế phẩm sinh học không chỉ giúp tăng chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, nâng cao cạnh tranh, xây dựng niềm tin cho người tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu.

Phần lớn diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã bị suy thoái, xói mòn và mất dần khả năng canh tác. Nguyên nhân chính là do người dân quá lạm dụng các loại phân bón hóa học, thiếu nguồn phân bón hữu cơ bổ sung thường xuyên. Mặt khác, lượng phế thải từ sản xuất nông nghiệp (rơm rạ, cây xanh…) và từ các nhà máy chế biến (bùn, bã mía…) do không xử lý kịp thời đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Quy trình sản xuất chế phẩm sinh học Compost Maker gồm các chủng vi sinh vật; vi sinh vật phân giải xenllulo; vi sinh vật phân giải lân; vi sinh vật cố định đạm và vi sinh vật hỗ trợ trên nền than bùn có mật độ các chủng vi sinh vật từ 10 8 -10 9 CFU/g. Việc sản xuất vi sinh vật từ phụ phẩm khá đơn giản và dễ thự hiện: xử lý thô nguồn nguyên liệu phế phụ phẩm từ sản xuất nông nghiệp và các nhà máy chế biến, phối trộn với chế phẩm Compost Maker và một vài phụ liệu khác như đạm, kali, rỉ mật…, độ ẩm cuối cùng của hỗn hợp cần đạt từ 45-50%. Ủ hỗn hợp với chiều cao tối đa của đống ủ 0,5 mét (nơi ủ có mái che để tránh mưa). Sản phẩm phân bón hữu cơ thu được tơi xốp, đạt mật độ các chủng vi sinh vật đưa vào xử lý lớn hơn hoặc bằng 10 6 CFU/g, không chứa các chủng vi sinh vật gây hại (như các loại nấm Fusarium, Aspergillus niger và vi khuẩn gây bệnh héo xanh trên cây họ cà…), hàm lượng nitơ, kali, photpho hữu hiệu đạt tiêu chuẩn về phân bón.

Chế phẩm Compost Maker và phân bón hữu cơ vi sinh đã rút ngắn thời gian xử lý các hợp chất hữu cơ các chủng vi sinh vật phân giải nhanh; rút ngắn thời gian xử lý phế phụ phẩm; nhiệt độ sinh khối ủ tăng sau 1-2 ngày và đạt cực đại 45 - 70 0 C sau 7-15 ngày. Sản phẩm tạo ra các chất giàu cácbon chuyển hóa màu và dễ bị mùn, khử được mùi hôi, an toàn đối với cây trồng, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tạo ra nền sản xuất nông nghiệp hữu cơ bền vững.

Trong giai đoạn từ năm 2016 đến nay, Anh Sơn là một trong những đơn vị được đánh giá đi đầu về triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất phân bón vi sinh trong sản xuất nông nghiệp: Về công tác đào tào, tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật: UBND huyện phối hợp với Trung tâm ứng dụng tiến bộ KHCN tỉnh tổ chức 10 lớp tập huấn cho 21 xã thị trấn với gần 1500 lượt người tham gia để chuyển giao quy trình kỹ thuật sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh cho hộ nông dân trên địa bàn huyện. Về kết quả sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh: UBND huyện đã giao cho phòng KTHT, phối hợp với Trung tâm ứng dụng KHCN tỉnh nhận men Compost Maker và cung ứng cho người nông dân, hướng dẫn quy trình, kỹ thuật để người nông dân áp dụng sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ phế phụ phẩm nông nghiệp.

Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của sở KHCN, sự hỗ trợ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ của Trung tâm ứng dụng tiến bộ KHCN tỉnh; Sự quan tâm của các cấp ủy Đảng chính quyền, và các đoàn th từ cấp huyện đến cơ sở trong việc chỉ đạo việc triển khai ứng dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất; Phòng KTHT, Hội nông dân huyện đã tích cực, trực tiếp hướng dẫn, phối hợp Trung tâm ứng dụng tiến bộ KHCN tỉnh tổ chức các cuộc tập huấn chuyển giao KHKT, tuyền truyền, vận động nông dân thực hiện; Phòng NN&PTNT, Phòng KTHT và Hội nông dân đã phối hợp tổ chức sản xuất khảo nghiệm, các cuộc hội thảo để đánh giá, so sánh với các loại phân vi sinh khác bán tại thị trường, để cho người dân thấy rõ hiệu qu từ đó áp dụng, triển khai thực hiện; Mô hình ứng dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất phân bón vi sinh trong sản xuất nông nghiệp phù hợp điều kiện thực tiễn, nhu cầu tại địa phương…. Kết quả từ năm 2016 đến nay, trên địa bàn toàn huyện đã sản xuất được 10.000 tấn phân vi sinh. đặc biệt từ sau khi UBND tỉnh Nghệ An ban hành Quyết định số 16/2012/QĐ-UBND và Quyết định số 15/2018 về việc hỗ trợ chế phẩm sinh học để sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ phế phụ phẩm nông nghiệp, gắn với Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, trên địa bàn huyện đã sản xuất được trên 10.000 tấn phân vi sinh,  điển hình tại một số xã có sản lượng ứng dụng rất lớn như các xã Cẩm Sơn, Hội Sơn, Phúc Sơn, Khai Sơn, Cao Sơn, Tào Sơn, Lạng Sơn…

  Sau 5 năm triển khai thực hiện, qua các cuộc hội thảo, chúng ta có thể khng định: Việc ứng dụng KHCN bằng cách sử dụng men Compost Maker để sản xuất phân hữu cơ vi sinh trên địa bàn huyện Anh Sơn là thành công, điều đó được chứng minh qua thực tế, hiệu quả: Kết quả, sản phẩm ứng dụng công nghệ năm sau cao hơn năm trước, giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước. Hiện tại và trong thời gian tới, các hộ nông dân trên địa bàn vẫn tiếp tục ứng dụng và nhân rộng; Quy trình ứng dụng đã chuyển giao được đến tận người nông dân. Yêu cầu về kỹ thuật không cao, các thao tác đơn giản, mỗi người nông dân không phân biệt vùng miền, lửa tuổi đều có thể tự mình triển khai thực hiện; Chất lượng, hiệu quả sử dụng phân hữu cơ vi sinh rất tốt: Vừa giảm chi phí đầu tư trong trồng trọt, vừa tăng tốc độ phát triển cho cây trồng, giữ ẩm chống hạn, chống sâu bệnh, cho năng suất cây trồng cao và tăng độ phì cho đất; Tăng khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng của cây lên 30–60% tổng lượng phân hóa học bón cho đất, hạn chế việc sử dụng, giảm sự thất thoát phân hóa học, giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Tăng năng suất cây trồng lên từ 10-15%, sản phẩm nông nghiệp tạo ra an toàn và đảm bảo chất lượng; Việc ứng dụng Khoa học Công nghệ đã góp phần bảo vệ môi trường từ việc thu gom, sử dụng các phụ phẩm nông nghiệp; Tận dụng được sức lao động nhàn rỗi từ nông dân.

Tiềm năng sử dụng các chế phẩm sinh học trong phát triển NNBV rất lớn, là một hướng đi đúng đắn, hướng tới một nền nông nghiệp hữu cơ, sinh thái bền vững và thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, trên thực tế, việc sử dụng chế phẩm sinh học ở Việt nam còn rất hạn chế. Thời gian tới, huyện Anh Sơn tiếp tục xây dựng kế hoạch giao chỉ tiêu cho các xã, thị, sản xuất phân vi sinh phục vụ SX nông nhiệp. Duy trì ổn định bình quân hàng năm sản xuất từ 3 đến 5 nghìn tấn phân vi sinh hạn chế đầu vào sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, tuyên truyền, vận động nhân dân tiếp tục mở rộng cho các hộ nông dân tham gia sản xuất phân vi sinh.

Nguyễn Văn Bình

 

Tin khác


 

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.