« Quay lại

Công tác nhân rộng các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp

Nghệ An là tỉnh có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước hơn 1,64 triệu ha, trong đó diện tích nông nghiệp 1,46 triệu ha, chiếm gần 90%, khu vực nông thôn trên 2.5 triệu người, chiếm trên 80% dân số toàn tỉnh. Vì vậy nông nghiệp, nông thôn có vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng về an sinh xã hội, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh của Tỉnh. Thời gian qua, tuy gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng ngành nông nghiệp và PTNT của tỉnh vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định và đạt được những kết quả quan trọng: Trong giai đoạn 2011-2016, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 4,65 %/năm; sản lượng lương thực đạt trên 1,2 triệu tấn; tổng đàn trâu, bò đạt 721.800 con; tỷ lệ che phủ rừng đạt 57%; tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản đạt 175 nghìn tấn; có 152 xã và 02 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới. Năm 2017, tuy thời tiết bất lợi, nhất là vụ hè thu, vụ đông thường xuyên gặp mưa bão, các dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi bùng phát nhưng ngành vẫn vững được tốc độ tăng trưởng 4,58%, tổng sản lượng lương thực cản năm ước đạt 1.266.000 tấn, độ che phủ rừng được nâng lên, dự kiến cuối năm 2017 đạt 57,2%, tổng sản lượng thủy sản cả năm ước 178.800 tấn, đạt 109% so với kế hoạch đề ra. Trong kết quả chung đó có sự tham gia đóng góp không nhỏ của hoạt động khoa học và công nghệ trong việc nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp.

1. Kết quả nghiên cứu khoa học trong ngành nông nghiệp

Công tác nghiên cứu khoa học nói chung trên địa bàn tỉnh Nghệ An những năm gần đây đã được đẩy mạnh phục vụ cho các chương trình kinh tế trọng điểm của tỉnh. Trong ngành nông nghiệp, nhiều đề tài, dự án đã được triển khai nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả nhằm mục tiêu tăng năng suất, chất lượng giống cây trồng, vật nuôi, nâng cao hiệu quả giá trị sản xuất nông nghiệp. Từ 2011-2017, toàn tỉnh đã triển khai thực hiện 70 đề tài nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp. Cụ thể kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ trên các lĩnh vực nông nghiệp từ năm 2011 - 2017 như sau:

Mô hình trồng cây Thanh Long ruột đỏ tại xã Diễn Phú, Diễn Châu

- Lĩnh vực trồng trọt: Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực trồng trọt là 26 đề tài. Các đề tài nghiên cứu chủ yếu là ứng dụng các giống cây trồng có năng suất cao, chất lượng tốt, giống mới thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu vào thay thế các giống trồng cũ có năng suất thấp, không hiệu quả, như đề tài: Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tạo giống và phát triển cây Trám đên ở huyện Thanh Chương; Nghiên cứu phát triển một số giống đậu mới thay thế vừng trên đất sản xuất lạc Xuân; Nghiên cứu tuyển chọn bộ giống lúa mới thích hợp với điều kiện sinh thái tỉnh Nghệ An; Ứng dụng tiến bộ KHCN xây dựng mô hình trồng cây Thanh Long ruột đỏ tại xã Diễn Phú, Diễn Châu; Nghiên cứu chuyển giao và phát triển giống lạc mới năng suất cao L27 (L19) ở tỉnh Nghệ An... Bên cạnh ứng dụng các giống cây trồng mới, nhiều biện pháp kỹ thuật canh tác và các tiến bộ kỹ thuật trong trồng trọt được ứng dụng vào sản xuất đã góp phần thay đổi tập quán canh tác, phương thức trồng trọt của người dân, như đề tài: xây dựng mô hình sản xuất và chế biến chè theo hướng VietGAP tại huyện Anh Sơn; Áp dụng các giải pháp kỹ thuật tiến bộ xây dựng mô hình sản xuất mía nguyên liệu đạt năng suất cao và hiệu quả kinh tế cao trên địa bàn tỉnh Nghệ An; Xây dựng mô hình sản xuất gắn với tiêu thụ rau an toàn và hoa chất lượng cao tại Nghệ An...

Mô hình sản xuất và chế biến chè theo hướng VietGAP tại huyện Anh Sơn

- Lĩnh vực chăn nuôi: Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học lĩnh vực chăn nuôi là 10 đề tài. Các đề tài, dự án chủ yếu là đưa vào các giống gia súc, gia cầm mới có năng suất, chất lượng cao vào lai tạo. Các biện pháp phòng trừ dịch bệnh cho gia súc, gia cầm. Bên cạnh đó các phương thức chăn nuôi mới cũng được ứng dụng theo hướng cung cấp sản phẩm thịt, trứng, sữa có chất lượng tốt và đẩy mạnh quy mô chăn nuôi phục vụ cho công nghiệp chế biến. Một số đề tài, dự án có giá trị khoa học và thực tiễn cao như: Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật bảo quản tinh dịch lợn trên 48 giờ tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất giống lợn; Xây dựng mô hình áp dụng công nghẹ vi sinh để chế biến thức ăn cho lợn và trâu, bò từ cây ngô tại Nghệ An; Ứng dụng tiến bộ KHCN xây dựng mô hình chăn nuôi gà an toàn sinh học tại vùng tái định cư thủy điện Bản Vẽ huyện Thanh Chương...

Hướng dẫn ủ chua thức ăn cho gia súc tại xóm Ngọc Quang, xã Thanh Ngọc (Thanh Chương)

- Lĩnh vực thủy sản: Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học lĩnh vực thủy sản là 20 đề tài, dự án. Các đề tài, dự án chủ yếu tập trung ứng dụng khoa học công nghệ xây dựng mô hình nuôi thương phẩm các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao như: cá Rô đầu vuông trên địa bàn toàn tỉnh, cá Chim trắng vây vàng tại Quỳnh Lưu, cá trắm đen tại huyện Yên Thành, Tương Dương, Quế Phong, cá Tầm ở huyện Quế Phong, cá Diêu Hồng tại huyện Hưng Nguyên... Ứng dựng các công nghệ tiên tiến vào quy trình nuôi như nuôi tôm thẻ chân trắng bằng công nghệ SEM, VietGAP. Bên cạnh đó, nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật đã đóng được nhiều tàu thuyền lớn có công suất lớn di đánh bắt dài ngày, cùng với việc áp dụng các biện pháp bảo quản, chế biến thủy sản có hiệu quả nên sản lượng đánh bắt ngày càng tăng và cung cấp nhiều loại thủy sản có giá trị kinh tế phục vụ xuất khẩu.

- Lĩnh vực lâm nghiệp: Có 8 đề tài nghiên cứu khoa học lĩnh vực lâm nghiệp. Các đề tài, dự án chủ yếu tập trung Điều tra, lập danh mục các loại động, thực vật quý hiếm, thực trạng, giải pháp bảo tồn các loại động, thực vật quý hiếm tại Khu bảo tồn thiên nhiên miền tây Nghệ An. Ngoài ra còn xây dựng một số mô hình ứng dụng công nghệ trong sản xuất giống lâm nghiệp, ứng dụng các giống cây lâm nghiệp có giá trị khoa học và giá trị kinh tế cao vào sản xuất như giống keo lai giâm hom. Một số đề tài, dự án có giá trị khoa học và thực tiễn cao như: Nghiên cứu đề xuất mô hình bảo tồn và phát triển bền vững lâm sản ngoài gỗ nhằm phục vụ phát triển KT-XH ở khu dự trữ sinh quyền miền Tây Nghệ An; Đánh giá nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu tại Vườn quốc gia Pù Mát – Nghệ An, đề xuất biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý...

Ngoài ra còn một số đề tài, dự án khoa học công nghệ về nông lâm kết hợp, các lĩnh vực khác trong sản xuất nông nghiệp như: Xây dựng mô hình Nông Lâm kết hợp tại xã Mường Ải, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An; Hỗ trợ xây dựng mô hình chế biên sứa thương phẩm ăn liền tại huyện Diễn Châu...

 2. Kết quả nhân rộng và ứng dụng khoa học công nghệ trong ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015-2017

Nhằm đẩy mạnh hoạt động ứng dụng khoa học công nghệ vào ngành nông nghiệp, ứng dụng kết quả các đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ một cách hiệu quả, thời gian qua trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã triển khai thực hiện nhiều mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, trong đó có ứng dụng nhiều kết quả nghiên cứu của các đề tài khoa học lĩnh vực nông nghiệp.

Bảng 1: Tổng số mô hình được xây dựng giai đoạn từ 2011-2017

TT

Lĩnh vực

Ngân sách nhà nước

Tổ chức CTXH

Dự án

Phối hợp DN

Tự phát

Tổng

NS TW

NS Tỉnh

Huyện

NTM + CS đất Lúa

 1

Trồng trọt

17

156

95

362

491

77

169

35

1402

 2

Chăn nuôi

8

99

34

171

720

91

25

36

1184

 3

Lâm Nghiệp

5

76

4

3

78

27

10

6

209

 4

Thuỷ sản

36

25

18

20

39

13

20

34

205

 5

Gia trại, Trang trại.

 

 

 

 

 

 

42

1860

1902

 6

Ngành nghề NN

 

 

 

2

84

2

 

 

88

 7

Cơ giới

3

3

1

 

 

 

 

 

7

 8

Tổ hợp tác

 

 

 

 

4

 

 

 

4

 9

Cánh đồng mẫu

13

 

27

 

 

 

93

 

133

 Tổng số

82

359

179

558

1416

210

359

1971

5.134

Kết quả hầu hết các mô hình thành công, đạt yêu cầu đề ra, hiệu quả cao, so sánh với sản xuất truyền thông tăng ít nhất từ 10%, có những mô hình tăng đến 70%; các mô hình thực hiện đúng các bước triển khai về kỹ thuật, đảm bảo đủ khối lượng đầu tư; các đối tượng cây con, tiến bộ kỹ thuật mới phù hợp, nhiều mô hình có ý nghĩa thực tiễn cao đã được nhân rộng được người dân tiếp nhận và đem lại hiệu quả kinh tế cao. 

Bảng 2: Số mô hình được nhân rộng:

TT

 

Lĩnh vực

 

Ngân sách nhà nước

 

Các đoàn, hội

Dự án

Phối hợp DN

Tự phát

Tổng

NS TW

NS Tỉnh

Địa phương

NTM

 1

Trồng trọt

12

129

71

212

319

46

114

17

920

 2

Chăn nuôi

8

85

32

145

590

74

30

25

989

 3

Lâm Nghiệp

2

60

3

2

39

11

8

2

127

 4

Thuỷ sản

34

21

18

18

30

8

19

21

169

 5

Gia trại, Trang trại

 

 

 

 

 

 

38

1562

1600

 6

Ngành nghề

 

 

 

 

72

2

 

 

74

 7

Cơ giới

3

3

 

 

 

 

 

 

6

 8

Tổ hợp tác

 

 

 

 

4

 

 

 

4

 9

Cánh đồng mẫu

12

 

25

 

 

 

88

 

125

 Tổng số

71

298

149

377

1054

141

297

1627

4.014

           Việc ứng dụng chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật thông qua xây dựng mô hình phát triển sản xuất trong nông nghiệp và tuyên truyền nhân rộng đã có hiệu quả cao, thực tế đã có nhiều mô hình được nhân rộng với tỷ lệ 78,1%, góp phần làm tăng nhanh năng suất, sản lượng và chất lượng các loại cây trồng, vật nuôi, tăng nhanh khối lượng và giá trị nông sản hàng hoá, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, tăng nhanh giá trị sản phẩm trên một héc ta diện tích.

          Một số mô hình nổi bật có tác động lớn trong sản xuất nông nghiệp như: Các mô hình sản xuất lúa chất lượng cao theo hướng VietGAP đã đưa nhanh các giống lúa thuần, lúa lai chất lượng cao và quy trình kỹ thuật đảm bảo an toàn ứng dụng vào sản xuất đạt trên 3.500 ha, thâm canh lúa cải tiến SRI trên 3.000 ha, sản xuất giống lúa mới năng suất chất lượng trên 10.000 ha đã tạo nên vùng sản luất lúa lớn, chuyên canh mang tính hoàng hóa, sản xuất lúa gạo tập trung tạo ra chuỗi giá trị từ hạt gạo; Các mô hình sản xuất ngô giống mới lấy hạt năng suất cao đạt trên 12.000 ha, sản xuất ngô nếp tím, ngô nếp Max68 vụ đông đạt trên 4.000 ha phục vụ nhu cầu chế biến ngô chiên tại các nhà hàng; Các mô hình sản xuất rau các loại, nấm ăn theo hướng VietGAP với quy mô gần 2.000 ha; chuyển đổi đất cấy cưỡng sang trồng dưa chuột, bí xanh, rau bắp cải, xu hào theo hướng an toàn VietGAP 520 ha; Ứng dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật thâm canh các giống mía mới năng suất cao nhân rộng gần 14.000 ha; Mô hình trồng keo tai tượng ngoại (keo Úc) đã nhân rộng 10.500 ha bước đầu cho thấy sinh trưởng phát triển vượt trội và bộ rễ ăn sâu hơn cây keo lai; Mô hình chăn nuôi lợn thịt, lợn nái toàn sinh học, chăn nuôi hướng VietGAP 1500 con; Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi gà an toàn sinh học, chăn nuôi gà theo hướng VietGAP theo hai hình thức nuôi nhốt hoàn toàn và nuôi nhốt kết hợp với chăn thả trên 100.000 con; Chăn nuôi dê nhốt 1.370 con...

          3. Kết quả về sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2017

          Tổng diện tích canh tác nông nghiệp ứng dụng CNC là 9.502 ha, chiếm 3,1% diện tích canh tác nông nghiệp, trong đó: Người dân đầu tư sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC là 6.768 ha, chiếm 71% tổng diện tích nông nghiệp ứng dụng CNC; doanh nghiệp đầu tư là 2.734 ha, chiếm 29%.

Giá trị sản xuất bình quân của nông nghiệp ứng dụng CNC từ 200-250 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 2-3 lần so với sản xuất nông nghiệp truyền thống, trong đó sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGap đạt bình quân 250 – 300 triệu đồng/ha, sản xuất cam ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt kết hợp bón phân tự động đạt bình quân từ 600 – 700 triệu đồng/ha. Cụ thể trên một số lĩnh vực như sau:

 - Trong trồng trọt: Đã có 425 ha rau củ quả, 264 ha cam, 315 ha chè nguyên liệu,  6 ha chanh leo, 25 ha cây dược liệu, 896 ha mía nguyên liệu, 560 ha lạc, 5.410 ha lúa và 1600 ha cỏ và ngô thức ăn chăn nuôi bò sữa.     

- Trong chăn nuôi: Tổng đàn bò sữa được nuôi ứng dụng CNC đạt 47.600 con; Tổng  đàn lợn được nuôi ứng dụng CNC đạt 13.300 con; Chăn nuôi trang trại có ứng dụng công nghệ cao gần 70 trang trại, đạt khoảng 15% tổng số trang trại, gia trại chăn nuôi.

- Trong thủy sản: toàn tỉnh đã triển khai xây dựng 7 vùng nuôi tôm thẻ chân trắng áp dụng tiêu chuẩn VietGAP trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu và thị xã Thái Hòa, trong đó có 5/7 vùng được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP với diện tích 150 ha. Năng suất đạt xấp xỉ 5 tấn/ha/vụ, tăng gấp 2 lần so với nuôi tôm vùng ngoài dự án. Trong khai thác thủy sản đã ứng dụng công nghệ máy tời thu lưới trên tàu lưới vây xa bờ, máy dò ngang, hầm bảo quản sản phẩm thủy sản sau đánh bắt bằng vật liệu PU và vật liệu Composite làm sàn và vỏ tàu.

- Trong lâm nghiệp: Ứng dụng công nghệ nhà lưới, nhà màng có hệ thống điều khiển bán tự động và công nghệ tưới phun, tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước điều kiển tự động cho 6 vườm ươm cây giống lâm nghiệp (trên 30 vườn ươm); Ứng dụng công nghệ cơ giới hóa đồng bộ trong khâu làm đất cho gần 170 ha/năm, chiếm 1% diện tích kế hoạch trồng rừng hàng năm. Trong công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng đã ứng dụng công nghệ viễn thám, công nghệ thông tin (thiết bị điện tử, di động và hệ thống thông tin địa lý GIS).

Các công nghệ tiên tiến đã được triển khai áp dụng như: Công nghệ giống (của các nước Châu Âu, Hàng Quốc, Đài Loan, Nhật Bản…), công nghệ nhà kính hiện đại (của Isarel); công nghệ thông tin điều kiển tự động về tưới tiết kiệm nước, nhiệt độ, độ ẩm, dinh dưỡng, ánh sáng (của các nước Isarel, Đài Loan, Mỹ).

4. Một số tồn tại hạn chế trong việc nhân rộng và ứng dụng khoa học công nghệ trong ngành nông nghiệp

Bên cạnh những thành công, kết quả đạt được nêu trên, công tác nhân rộng các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp còn một số hạn chế, tồn tại chính sau:

- Vẫn còn một số đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ trong ngành nông nghiệp chưa có giá trị khoa học và thực tiễn cao, hoặc chưa phù hợp với điều kiện tự nhiên tỉnh Nghệ An, việc nghiên cứu chỉ mới dừng lại mang tính chất tài liệu tham khảo, chưa ứng dụng nhân rộng được trong thực tiễn.

- Việc xây dựng mô hình và nhân rộng các mô hình ứng dụng các kết quả khoa học công nghệ trong ngành nông nghiệp vẫn còn một số vấn đề thực sự chưa đáp ứng yêu cầu, các mô hình không nhân rộng, hoặc có nhân rộng nhưng quy mô còn hạn chế, phát triển mô hình thiếu tính bền vững.

            - Sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC trên địa bàn tỉnh mới tập trung chủ yếu vào việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản. Hầu hết mới ứng dụng CNC ở từng khâu của quá trình sản xuất, mà chưa có nhiều sản phẩm ứng dụng CNC theo chuổi giá trị sản phẩm, nên hiệu quả mang chưa cao, thiếu tính bền vững. Việc ứng dụng các công nghệ thông tin, tự động hóa sản xuất, công nghệ sinh học, các quy trình canh tác tiên tiến (ICM, VietGAP)… còn hạn chế.

- Công tác xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp ứng dụng CNC mới tập trung ở một số doanh nghiệp lớn; người tiêu dùng rất khó phân biệt được sản phẩm nông nghiệp ứng dụng CNC với sản phẩm thông thường; việc hình thành và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp ứng dụng CNC gặp rất nhiều khó khăn.

         - Kết quả nghiên cứu công nghệ cao trong nông nghiệp vẫn còn khiêm tốn, một số tiến bộ kỹ thuật áp dụng trong sản xuất chủ yếu đang triển khai dưới hình thức mô hình trình diễn, việc nhân ra diện rộng còn hạn chế.

          Có thể nói, hoạt động khoa học công nghệ trong ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh thời gian qua đã có những bước chuyển biên tích cực và hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Góp phần cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ hoạch định các chủ trương, chính sách, quy hoạch và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà; đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh. Nhờ có các đề tài, dự án khoa học công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp mà nhiều đối tượng giống cây trồng vật nuôi mới đã được đưa vào ứng dụng góp phần đa dạng hóa cây trồng vật nuôi, tạo thêm công ăn, việc làm cho người nông dân, nâng cao giá trị thu nhập của người nông dân trong sản xuất nông nghiệp. Công tác ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ đã được triển khai sâu rộng đến tận cơ sở, các mô hình, dự án nhân rộng đã phục vụ thiết thực cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Hoạt động phổ biế, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ đã được chú trọng đúng mức, nhiều mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ đã được áp dụng vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp và mang lại hiệu quả thiết thực./.

Nguyễn Văn Lập

Sở NN và PTNT

 

 

 

Tin khác

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.