« Quay lại

Tình hình phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở Nghệ An

1. Thực trạng sản xuất và chế biến nông sản

Trong bối cảnh tình hình chính trị, kinh tế trên thế giới và khu vực có những biến động khó lường, sản xuất, chế biến các nông sản chủ lực của tỉnh Nghệ An cơ bản vẫn giữ được ổn định, một số sản phẩm chủ yếu có tăng trưởng khá, trở thành điểm sáng trong cả nước. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp ước đạt 4,97/KH 4,3-4,5%) trong đó nông nghiệp 3,54%; lâm nghiệp 7% và ngư nghiệp 11,85%. Cơ cấu kinh tế nội ngành chuyển dịch theo hướng tích cực, đến cuối năm 2019: Nông nghiệp 77,22%; Lâm nghiệp 6,71%; Ngư nghiệp 16,07%. Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp ước đạt 47,94%.

Đối với cây lương thực: Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm ước đạt 233.838 ha. Tổng sản lượng lương thực cây có hạt ước đạt 1.214.126 tấn bằng 99,85% so với cùng kỳ 2018. Trong đó diện tích gieo trồng lúa cả năm đạt 187.098 ha, sản lượng lúa đạt 998.369 tấn. Cơ cấu giống lúa chuyển đổi tích cực: Diện tích lúa lai giảm, người dân chuyển sang sản xuất lúa chất lượng, giá trị cao, dễ tiêu thụ như AC5, QJ1; Vật tư NA6, nếp 8787, lúa thảo dược,... 

Đối với cây công nghiệp hàng năm: Cây Lạc có diện  tích gieo trồng 2019 ước đạt 13.505 ha bằng 95,50% so với năm 2018. Năng suất đạt 26 tạ/ha, sản lượng ước đạt 35.113 tấn. Sắn nguyên liệu đạt 7.300 ha đạt 100% kế hoạch, năng suất đạt 370 tạ/ha. Sản lượng đạt 270.000 tấn. Tổng diện tích cây mía: cả năm ước đạt 22.885 ha bằng 91,83% so với năm trước, năng suất đạt 630 tạ/ha, sản lượng đạt 1.442.000 tấn.

Diện tích chè đạt 7.500 ha trong đó diện tích cho sản phẩm 6.800 ha, năng suất bình quân đạt 115 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi đạt trên 78.200 tấn. Chế biến trên 15.000 tấn chè khô các loại.  Cây cao su toàn tỉnh ước đạt 12.000 ha trrong đó diện tích cho sản phẩm 6.500 ha, năng suất đạt 11,54 tạ/ha, sản lượng đạt 6.000 tấn.

Diện tích cam, quýt tập trung ước đạt 7.757 ha trong đó diện tích cho sản phẩm ước đạt 3.500 ha, sản lượng đạt 58.100 tấn.  Cây chanh leo đạt 500 ha, năng suất bình quân 35 tấn/ha, sản lượng ước đạt 175.000 tấn quả.

2. Phát triển công nghiệp chế biến

Hiện nay toàn tỉnh có 03 nhà máy chế biến mía đường đang hoạt động là nhà máy đường Sông Con - Tân Kỳ; Nhà máy đường Sông Lam - Anh Sơn và nhà máy đường NASU tại Quỳ  Hợp. Tổng công suất thiết kế 3 nhà máy đạt 14.000 tấn mía cây/ngày. Công suất thực tế dự kiến đạt 11.500 tấn mía cây/ngày trong đó Nhà máy đường NaSu đạt 8.500 tấn/ngày; Nhà máy đường Sông Con đạt 2.000 tấn mía cây/ngày; Nhà máy đường Sông Lam đạt 750 tấn/ngày.

Diện tích trồng mía đang bị sụt giảm nghiêm trọng

Năm 2019, các nhà máy chế biến đường trong tỉnh không đầu tư thay thế, sửa chữa lớn mà chỉ duy tu, bảo dưỡng. Nhà máy đường NaSu bổ sung thêm thiết bị lọc bã mía nhằm giảm thiểu tạp chất thô trong nước mía. Các nhà máy chế biến đường của tỉnh bắt đầu hoạt động vào tháng 12/2019, dự kiến kết thúc vào tháng 4/2020.

Hiện nay giá đường xuống quá thấp, giá bán buôn của các nhà máy cao nhất chỉ đạt 10.500 đồng/kg. Những nhà máy có thiết bị cũ, hiệu suất thu hồi đường thấp như Sông Lam, Sông Con gặp nhiều khó khăn. Giá thu mua nguyên liệu cũng chỉ đạt 720.000 – 750.000 đ/tấn không thu hút được người dân trồng mía. Một số diện tích thuộc diện quy hoạch trồng mía, người dân đã tự ý chuyển đổi sang trồng các loại cây khác có giá trị cao hơn.

Chế biến chè  hiện đang gặp khó khăn trong thu mua nguyên liệu, đầu ra sản phẩm, vốn đầu tư sản xuất nên nhiều cơ sở tư nhân sản xuất quy mô nhỏ năm 2019 đã ngừng hoạt động. Cả tỉnh hiện có khoảng 36 cơ sở chế biến chè còn hoạt động tập trung ở các địa phương: Thanh Chương, Anh Sơn. Có 8 dây chuyền chế biến chè đen và 12 dây chuyền chế biến chè xanh thuộc các doanh nghiệp, còn lại là các cơ sở chế biến tư nhân. Sản lượng chè chế biến hàng năm trên 14.000 tấn.

Ngoài Công ty TNHH 1 thành viên ĐTPT chè Nghệ An trên địa bàn tỉnh có các nhà máy của các đơn vị lớn như: Công ty Trường Thịnh, Công ty Rồng Phương Đông tham gia thu mua, chế biến chè xuất khẩu. Các cơ sở tư nhân chủ yếu chế biến sản phẩm chế biến thô, sơ chế làm nguyên liệu đầu vào cho các cơ sở chế biến ngoại tỉnh. Các sản phẩm được đóng bao bì, nhãn mác, có nguồn gốc xuất xứ đến tận tay người tiêu dùng chiếm tỷ trọng ít. Năm 2019, HTX chè Thanh Đức xã Thanh Đức - huyện Thanh Chương  đã được hỗ trợ xây dựng vùng nguyên liệu VietGAP, sử dụng biện pháp hái tay, chế biến chè xanh với bao bì, nhãn mác, tem truy xuất nguồn gốc đầy đủ cho mục đích tiêu dùng trực tiếp trong nước. 

Cây cao su toàn tỉnh ước đạt 12.000 ha trrong đó diện tích cho sản phẩm 6.500 ha, năng suất đạt 11,54 tạ/ha, sản lượng đạt 6.000 tấn.

Trên địa bàn tỉnh có 6 cơ sở chế biến mủ cao su trong đó: Huyện Quỳ Hợp 02 cơ sở; Huyện Nghĩa Đàn 02 co sở; Huyện Tân Kỳ 02 cơ sở. Thiết bị chế biến đang còn ở dạng bán thủ công trong đó có 4 cơ sở áp dụng chế biến mủ cốm và 02 cơ sở chế biến mủ tờ. Công suất chế biến mỗi cơ sở giao động từ 3,5 - 5 tấn mủ tươi/ngày. Sản lượng cao su mủ khô toàn tỉnh năm 2019 ước đạt 4.500 tấn.

Diện tích cao su của Công ty CP ĐTPT Cao su Nghệ An ước đạt 3.363 hatrong đó diện tích bắt đầu khai thác khoảng 250 ha với sản lượng 8-10 tấn mủ tươi/ha. Toàn bộ số mủ trên được vận chuyển sang Hà Tĩnh để chế biến. Công ty đang có kế hoạch xây dựng 1-2 nhà máy chế biến mủ cao su trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Hiện nay giá cao su mủ khô giao động từ 27-28 triệu đồng/tấn, các đơn vị chế biến cao su Nghệ An hiện đang bán sản phẩm cho các đơn vị trong nước để xuất khẩu, chủ yếu sang thị trường Trung Quốc.

Nghệ An hiện nay chỉ có 1 cơ sở chế biến cà phê của Công ty ĐTPT Cà phê - Cao su Nghệ An có công suất thiết kế 200tấn/ngày. Năng suất thực tế thấp, thiếu nguyên liệu, nguồn nguyên liệu chủ yếu tại địa phương. Sử dụng công nghệ chế biến ướt, sản phẩm làm ra là cà phê nhân. Năm 2019, nhà máy đã dừng sản xuất, cà phê quả tươi sản xuất tại Nghệ An không nhiều, chủ yếu bán cho các đơn vị ngoại tỉnh chế biến.

Hiện tại trên địa bàn Nghệ An có 01 nhà máy chế biến nước dứa cô đặc với công suất 200 tấn dứa quả/ ngày (tương đương 35.000 tấn dứa quả/năm chế biến được 8.750 tấn nước dứa cô đặc/năm). Để đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường, thời gian gần đây, Công ty CP Thực phẩm NaFood chế biến thêm các loại quả khác như chanh leo, gấc,... Năm 2019, hoạt động nhà máy chế biến quả của Công ty CP Thực phẩm NaFood ổn định. Công ty CP Thực phẩm NaFood đang phát triển nhà máy ra ngoại tỉnh.

Nhà máy nước tinh khiết và nước hoa quả Núi Tiên – nơi sản xuất TH true WATER - sẽ trở thành nhà máy có công suất lớn và hiện đại nhất khu vực miền Trung - Việt Nam

Tập đoàn TH đã đầu tư nhà máy Núi Tiên tại xã Nghĩa Lâm huyện Nghĩa Đàn để sản xuất nước tinh khiết và chế biến nước quả, nước thảo dược. Dây chuyền sản xuất nước tinh khiết đã đi vào hoạt động, sản phẩm ra thị trường, được người tiêu dùng đón nhận. Dây chuyền chế biến nước quả và nước thảo dược đang lắp đặt dự kiến đi vào hoạt động vào năm 2020.

Toàn tỉnh có 06 cơ sở chế biến tinh bột sắn với tổng công suất chế biến thực tế đạt khoảng 850 - 1.200 tấn NL/ngày trong đó có 03 cơ sở có công suất chế biến tương đối lớn là: Nhà máy chế biên tinh bột sắn Thanh Chương của Công ty CP Nông thuỷ sản Nghệ An (công suất 180 tấn NL/ngày); Nhà máy Chế biến tinh bột sắn của Công ty cổ phần Á Châu Hoa Sơn (công suất 250 tấn NL/ngày); Nhà máy tinh bột sắn Long Sơn (150 tấn NL/ngày). Các nhà máy này lắp đặt dây chuyền đồng bộ, tự động hoá khá cao. Nhà máy chế biến tinh bột sắn Yên Thành hiện đang tạm dừng sản xuất. Có 02 cơ sở chế biến tinh bột sắn tại Nghĩa Đàn do tư nhân đầu tư, sản phẩm bán ra thị trường ngoại tỉnh.

Nhà máy chế biến tinh bột sắn Á Châu Hoa Sơn chuẩn bị đầu tư lắp đặt dây chuyền 2 sản xuất tinh bột và đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất đường Gluco từ nguyên liệu tinh bột sắn do nhà máy sản xuất. Kinh phí dự kiến đầu tư khoảng 350 tỷ đồng. Thị trường tiêu thụ sản phẩm đường Gluco là nội địa và xuất khẩu.

          Sản phẩm của các nhà máy chế biến tinh bột sắn Nghệ An tiêu thụ tại thị trường trong nước và xuất khẩu sang Trung Quốc. Tiêu thụ khá thuận lợi, giá bán sản phẩm giao động từ 10,5-11,0 triệu đồng/tấn SP. Các nhà máy lớn như Á Châu Hoa Sơn; Thanh Chương xuất khẩu trực tiếp sang thị trường Trung Quốc, các cơ sở chế biến nhỏ chủ yếu sản xuất sản phẩm bán lại cho các cơ sở thu mua tại các tỉnh phía bắc. 

3. Giải pháp phát triển

Để nâng cao giá trị sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp nhất thiết phải phát triển công nghiệp chế biến, đồng thời tăng cường công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Trên cơ sở phân tích xu hướng phát triển hội nhập và tình hình thực tế chế biến nông sản của Nghệ An hiện nay, Sở Nông nghiệp & PTNT Nghệ An triển khai thực hiện một số hoạt động hỗ trợ phát triển chế biến nông sản như: Tham mưu xây dựng, đề án, chính sách; Thu hút đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản; Xây dựng vùng nguyên liệu ổn định gắn với phát triển chế biến; Nâng cao chất lượng, tăng khả năng cạnh tranh nông sản Nghệ An trên thị trường; Tăng cường công tác truyền thông./.

Thái Tuấn

 

 

 

 

Tin khác


 

 

Tiện ích - Download Tiện ích - Download


Tiện ích - download hết hạn.

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.