Những khó khăn vướng mắc trong khởi nghiệp của Hợp tác xã gắn với chương trình OCOP

Chủ nhật - 14/11/2021 22:29 0
Chương trình mỗi xã một sản phẩm (gọi tắt là Chương trình OCOP) được xác định là một giải pháp giúp thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn. Trọng tâm của chương trình là phát triển sản phẩm hàng hóa nông nghiệp phí nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế ở mõi địa phương theo chuổi giá trị, trong đó chủ thể là các thành phần kinh tế tư nhân, doanh nghiệp, hợp tác xã. Chương trình được thực hiện theo hướng phát triển nội sinh và gia tăng giá trị, triển khai chương trình phải bảo đảm các nguyên tắc: Sản phẩm địa phương hướng tới toàn cầu; Tực lực, tự tin và sáng tạo; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Là một chương trình còn khá mới mẻ thực hiện trong điều kiện hết sức khó khăn, xuất phát điểm thấp, điều kiện khí hậu thời tiết diễn biến phức tạp, do ảnh hưởng dịch COvid -19, suy thoái kinh tế, nguồn lực gặp khó khăn; các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn chậm đổi mới trong đó có (Hợp tác xã), chưa đáp ứng cơ chế thị trường; Nhận thức của một số cán bộ Đảng viên và nhân dân bước đầu còn hạn chế, cơ chế chính sách, cải cách hành chính chưa kịp thời nên việc tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện ở một số nơi còn thiếu cụ thể, thiếu quyết liệt. Song với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các Bộ ngành Trung ương; với quyết tâm chính trị cao của cấp ủy chính quyền, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, đặc biệt là sự đồng tình, hưởng ứng của người dân, biết phát huy tiềm năng, lợi thế là tỉnh đất rộng, người đông có bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa, nhân dân cần cù chịu khó, đa dạng cây trồng vật nuôi, cộng với những chính sách, chương trình, đề án về phát triển kinh tế xã hội được tỉnh, các huyện ban hành, tổ chức thực hiện trong thời gian qua đã và đang phát huy hiệu quả góp phần vào thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh sản phẩm OCOP, nâng cao giá trị hàng hóa làm tăng thu nhập và góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần ở nông thôn.
I. Kết quả thực hiện chương trình giai đoạn 2019 -2020
Sau gần 03 năm triển khai Chương trình OCOP trên địa bàn cả tỉnh đã phát huy sức mạnh và vai trò của công đồng trong việc bảo tồn và phát triển sản phẩm truyền thống của từng miền quê, Chương trình tạo phong trào khởi nghiệp mạnh mẽ nhất là HTX, doanh nghiệp vừa và nhỏ, đã hình thành nhiều vùng nông sản sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chuổi giá trị sản phẩm. Từ đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại khu vực nông nghiệp và là giải pháp quan trọng để thực hiện nhóm tiêu tiêu chí về sản xuất, thu nhập, hộ nghèo (từ tiêu chí 10-13) trong xây dựng nông thôn mới. Đến hết năm 2020 toàn tỉnh đã huy động được 17.950 triệu đồng để thực hiện Chương trình OCOP  Trong đó: Ngân sách trung ương hỗ trợ trực tiếp cho Chương trình 5.000 triệu đồng; Ngân sách địa phương hỗ trợ trực tiếp: 1.000 triệu đồng; Vốn lồng ghép từ các Chương trình, dự án khác: 3.400 triệu đồng; Vốn tín dụng: 2.850 triệu đồng; Vốn huy động từ chủ thể, người dân. 5.700 triệu đồng.
- Có 16/21 huyện thành phố thị xã có sản phẩm đăng ký tham gia tổ chức đánh giá sản phẩm (còn 05 huyện chưa có gồm Nghi Lộc; Hưng nguyên; Thị xã Thái Hòa, Quỳ Hợp, Quế phong) với Số lượng sản phẩm đăng ký tham gia Chương trình: 150/182/KH sản phẩm đạt 82,4%. Trong đó Số lượng sản phẩm được chuẩn hóa xếp hạng 03 sao trở lên: 115/90/KH sản phẩm đạt 127,8 % vượt 27,8% so với kế hoạch chiếm 0,26% so với cả nước (cả nước có 4.469 sản phẩm đạt 03 sao trở lên) trong đó có 89 sản phẩm đạt 03 sao chiếm tỷ lệ 77,4%; 04 sao 26 sản phẩm sao chiếm tỷ lệ 22,6% (chưa có sản phẩm đạt 05 sao cả nước có 75 sản phẩm đạt 05 sao chiếm 1,7% sản phẩm được xếp hạng)
- Số lượng chủ thể tham gia gồm có 77 chủ thể trong đó: có 27 HTX; có 21 doanh nghiệp; có 7 cơ sở sản xuất; có 9 tổ hợp tác; có 10 hộ sản xuất kinh doanh; có 2 tổng đội; có 01 trang trại; khu vực đồng bằng có 41 chủ thể đạt hạng 03 sao trở lên; khu vực miền núi có 36 chủ thể đạt hạng 03 sao trở lên.
- Số lượng hợp tác xã, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất được củng cố, kiện toàn khi tham gia Chương trình OCOP: 56 chủ thể
- Số lượng hợp tác xã, doanh nghiệp được phát triển mới 48 (HTX 27; Doanh nghiệp 21)
- Số lần xúc tiến thương mại và quảng bá sản phẩm: Số lượng 08 trong đó:
+ Đổi mới, nâng cấp công nghệ, máy móc: 03 (TP Vinh 01, huyện Thanh Chương 01, huyện Quỳnh Lưu 01);
+ Phát triển vùng nguyên liệu: 50 sản phẩm;Liên kết chuỗi giá trị 25 Dự án; Hỗ trợ bao bì, nhãn mác; 45 sản phẩm, Hệ thống truy xuất nguồn gốc; quản lý chất lượng; 60; Đăng ký sở hữu trí tuệ: 03; Số lượng đơn vị tư vấn; nội dung tư vấn; kết quả tư vấn: 03 đơn vị; Kết quả áp dụng công nghệ, chuyển đổi số trong triển khai Chương trình: 02; Quản lý, giám sát sản phẩm; chẩm điểm: 01
          II. Một số kết quả nổi bật của chương trình tác động đến phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn
a) Chương trình đã khơi dậy được tiềm năng, thế mạnh của các địa phương về sản phẩm đặc sản, ngành nghề nông thôn gán với lợi thế về điều kiện sản xuât, vùng nguyên liệu và văn hóa truyền thống để gia tăng giá trị sản phẩm OCOP như các làng nghề....Yên Thành, Diễn châu, Quỳnh lưu, Vinh, Thanh chương đã có 03 sản phẩm OCOP gắn với khai thác vùng nguyên liêu liệu địa phương, gắn với chỉ dẫn địa lý như: Cam Vinh, Gừng Kỳ Sơn; Tương Nam Đàn
b) Từng bước chuyển đổi từ quy mô nhỏ sang sản xuất theo hướng liên kết chuổi giá trị kép kín, đặc biệt gắn với vai trò của các hợp tác xã, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chương trình đã hình thành được 06 chuổi giá trị OCOP hoạt động có hiệu quả với vai trò tích cực của HTX, doanh nghiệp như: HTX Gà đồi Thanh Chương, HTX Nhút Hạnh Lâm, Bưởi Diễn Thanh Nho, HTX gừng Kỳ Sơn; Làng nghề nước Mắm Quỳnh Dị; Chế biến Lạc Diễn Châu...
c) Chương trình OCOP đã góp phần  tạo việc làm cho lao động, thúc đẩy đặc biệt là phát huy vai trò phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số điển hình như; Thổ cẩm; Các Làng du lịch công đồng (Homstay) bản Hoa Tiến, xã Châu Tiến, bản Khe Rạn (xã Bồng Khê), bản Nưa (xã Yên Khê) huyện Con Cuông đã giải quyết cho 216 lao động, thu nhập bình quân 4,12 triệu đồng/tháng.
d) Các sản phẩm OCOP sau khi được công nhận đã gia tăng giá trị, góp phần giúp các chủ thể tăng về quy mô sản xuất và doanh thu 15-20% so với cùng kỳ. Đặc biệt có một số sản phẩm đã xuất khẩu sang các nước như: Tảo xoắn Quỳnh Lưu; Hải sản Biển Quỳnh, nước Mắm Vạn phần, Lạc Diễn châu, Dược liệu Phù Mát, Gừng Kỳ Sơn...
đ) Sản phẩm OCOP đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm; có mẫu mã, bao bì đa dạng và thân thiện với môi trường, phù hợp với yêu cầu của thị trường như: Công ty cổ phần dược liệu Pù Mát, Công ty cổ phần khoa học công nghệ tảo VN, Công ty cổ phần Biển Quỳnh, HTX chè Thanh Chương, Tổng đội, HTX dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đồng Tâm, HTX Hương trần Liên Bảy Thanh chương; Rau mù tàu HTX Diễn Thái...
e) Chương trình OCOP góp phần bảo tồn và phát huy các làng nghề truyền thống, giá trị văn hóa để phát triển kinh tế nông thôn tính đến ngày 31/12/2020 toàn tỉnh có tổng số 13.016 hộ tham gia hoạt động tại các làng nghề (chiếm 1,94 % số hộ ở nông thôn); với số lao động tham gia nghề là 22.740 lao động (chiếm 1,35% lao động nông thôn, thu nhập bình quân 4-4,5 triệu đồng/lao động/tháng.
 f) Chương trình OCOP góp hình thành các hình thức tổ chức sản xuất mới trong đó thành lập mới 106 HTX trong đó có 27 HTX tham gia chương trình nâng tổng số HTX trên địa bàn toàn tỉnh đến hết năm 2020 là 613 HTX, trong đó có 453 HTX trồng trọt, 19 HTX chăn nuôi, 11 HTX lâm nghiệp, 14 HTX thuỷ sản, 11 HTX diêm nghiệp và 105 HTX dịch vụ tổng hợp. 100% các HTX  hoạt động theo Luật HTX 2012.
- Số HTX hoạt động có hiệu quả 343 HTX (147 HTX hoạt động tốt; 196 HTX hoạt động khá) chiếm 61,7% số HTX được đánh giá xếp loại; Số HTX ứng dụng công nghệ cao là 30 HTX, chủ yếu là nhà lưới, VietGap, tưới thông minh và trang bị máy móc phục vụ bảo quản (sấy) và chế biến sản phẩm.
- Tổng doanh thu của các HTX (đến 31/12/2020) là 597.600 triệu đồng. Lợi nhuận bình quân là 121 triệu đồng/HTX/năm.
- Số lượng cán bộ quản lý HTX tại thời điểm 31/12/2020 là 2.730 người, trong đó số cán bộ đã qua đào tạo đạt trình độ sơ, trung cấp là 1.226 người, số cán bộ quản lý HTX đã qua đào tạo đạt trình độ cao đẳng, đại học trở lên là 1.098 người, số cán bộ HTX được đóng BHXH là 1.345 người. So với thời điểm 31/12/2011, số lượng cán bộ quản lý HTX tăng 56%, cán bộ đã qua đào tạo đạt trình độ sơ, trung cấp giảm 7,6%, cán bộ quản lý HTX đã qua đào tạo đạt trình độ cao đẳng, đại học trở lên tăng 719%, cán bộ HTX được đóng BHXH tăng 55.7%.
- Số lượng LH HTX tại thời điểm 31/12/2020 là 2 LH HTX, tổng số thành viên LH HTX là 8 thành viên, tổng số lao động là 30 người, doanh thu bình quân của một LH HTX là 3.000 triệu đồng/năm, lợi nhuận bình quân là 80 triệu đồng/năm.
Các HTX nông nghiệp trong những năm vừa qua đã phát huy tương đối tốt vai trò là đầu mối cho bà con nông dân trong việc cung ứng đầu vào sản xuất, việc cung ứng đầu vào thông qua dịch vụ tập trung của các HTX giúp bà con nông dân giảm được 5-10% chi phí. Một số HTX hoạt động tốt còn thực hiện cả dịch vụ bao tiêu sản phẩm đầu ra cho thành viên. Hiện nay có 196 HTX có liên kết sản xuất, chiếm khoảng 32,18% số HTX nông nghiệp toàn tỉnh.
k) Sản phẩm OCOP bước đầu đã khơi dậy tiềm năng, thế mạnh về sản vật, vùng nguyên liệu và lao động địa phương, đặc biệt là dịch vụ du lịch. Các địa phương đã thấy được lợi thế, cơ hội để phát huy và khai thác giá trị sản phẩm OCOP gắn với phát triển dịch vụ du lịch nông thôn;
h) Chương trình OCOP đã góp phần chuyển đổi sản xuất theo hướng tăng quy mô gắn với chuỗi giá trị, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa và đồng bào dân tộc thiểu số.
Nhờ đó, đã góp phần quan trọng vào kết quả xây dựng nông thôn mới ở các địa phương toàn tỉnh đã có 4 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn Nông thôn mới, có 318/411 xã đạt tiêu chí số 10 về Thu nhập, chiếm 77,4%; 353/411 xã đạt tiêu chí về Tổ chức sản xuất chiếm 85,9%; có 318/411 xã đạt tiêu chí về hộ nghèo (chiếm 77,4%); có 393/411 xã đạt tiêu chí về lao động có việc làm (tiêu chí 12) (chiếm 95,6%) góp phần từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần tích cực vào mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, Đến nay toàn tỉnh đã có 280/411 xã đạt chuẩn nông thôn mới đạt 68,1%.
III. Một số khó khăn vướng mắc trong khởi nghiệp của Hợp tác xã gắn với chương trình OCOP
Bên cạnh kết quả đạt được của HTX thì quá trình khởi nghiệp phát triển các sản phẩm OCOP của HTX còn một số khó khăn vướng mắc nhiều tồn tại, hạn chế như sau:
Thứ nhất: Chương trình OCOP là chương trình mới, Mục tiêu và động lực là chủ thể, trong khi đó cán bộ và các thành viên HTX thực hiện chương trình còn có tư tưởng bao cấp, tính trông chờ ỉ lại (cứ nghỉ là tham gia chương trình để được hỗ trợ), chưa có kinh nghiệm; kiến thức về chương trình nhất là kiến thức về thị trường dẫn đến lúng túng trong công tác hướng dẫn, tổ chức cho các thành viên HTX tham gia chương trình, bên cạnh đó chính quyền địa phương chưa nhận thức được đầy đủ về ý nghĩa, vai trò của chương trình OCOP với phát triển kinh tế của địa phương nên đôi lúc còn đứng ngoài cuôc trong qúa trình vận hành của HTX.
Thứ hai: Trong quá trình thực hiện chương trình OCOP đòi hỏi phải mở rộng sản xuất, liên kết chuổi giá trị, thay đổi công nghệ do sản xuất, cần nguồn lực tuy nhiên hiện nay các HTX hầu hết mới thành lập, chuyển đổi quy mô nhỏ, bên cạnh đó việc tích tụ ruộng đất, tiếp cận nguồn vốn tín dụng, tay nghề, liên kết theo chuổi giá trị, đầu ra sản phẩm còn gặp khó khăn. Bởi thực trạng hiện tại các HTX chủ yếu sản xuất là thủ công, máy móc thiết bị công nghệ lạc hậu, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỷ thuật vào sản xuất còn hạn chế, cơ chế chính sách mặc dù có nhưng cơ sở pháp lý và vận dụng vào thực tiển rất khó khăn. Hầu hết các hàng hóa sản phẩm của HTX chưa đáp ứng nhu cầu thị trường, giá thành cao, sức cạnh tranh trên thị trường thấp.
Thứ ba: Mặc dù sản phẩm hàng hóa HTX của Nghệ An rất phong phú về chủng loại, số lượng, chất lượng nhưng do các HTX chưa quan tâm đến kiểu dáng, nhãn mác, bao bì đóng gói, nhất là các loại giấy chứng nhận như: ATTP, truy xuất nguồn gốc, hệ thống tổ chức, sở hữu trí tuệ nên chưa đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh.
Thứ tư: Nhu cầu mở rộng phát triển sản xuất sản phẩm OCOP của các HTX rất lớn. Nhưng hiện nay mặc dù có nghị định khuyến khích các doanh nghiệp lớn có lợi thế đầu tư liên kết vào sản xuất, kinh doanh vào nông nghiệp nhưng các doanh nghiệp không mặn mà trong khi đó các HTX rất khó tiếp cận các nguồn vốn tín dụng và thị trường tiêu thụ.
 Thứ năm Công tác xúc tiến thương mại, giới thiệu quảng bá các sản phẩm OCOP chưa được quan tâm đúng mức đặc biệt tỉnh là một tỉnh rộng lớn mới chỉ có 02 điểm trình diễn bán hàng OCOP, hiện tại các địa phương, HTX, các chủ thể sản xuất sản phẩm hàng hóa OCOP còn thiếu điểm để giới thiệu tiềm năng, lợi thế và xúc tiến thương mại kết hợp với khai thác tiềm năng du lịch.
Thứ sáu: Để sản phẩm hàng hóa đạt chuẩn OCOP là một quá trình đòi hỏi quyết tâm chính trị rất cao, với cả hệ thống chính trị vào cuộc, tập trung nguồn lực, thời gian rất lớn; việc sản phẩm hàng hóa đạt chuẩn OCOP là niềm vinh dự niềm tự hào của mỗi vùng quê là một trong những giải pháp quan trọng trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp góp phần xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên hiện tại HTX hoạt động theo luật HTX 2012 nên công tác quản lý, vận động tuyên truyền còn hạn chế, một số địa phương và chủ thể chưa mặn mà với chương trình do chưa có chính sách đủ mạnh để động viên, khích lệ các HTX sản xuất sản phẩm hàng hóa OCOP phát triển.
- Nguyên nhân:
+ Nhận thức của cán bộ và người dân nhất là các chủ thể chưa đầy đủ, tư duy chưa theo kịp yêu cầu của phát triển.
+ Các HTX và doanh nghiệp về ngành nghề nông thôn vẫn còn gặp nhiều trở ngại trong việc tích tụ đất đai, tiếp cận nguồn vốn tín dụng (chủ yếu cơ chế tín dụng và thủ tục vay) thủ tục hành chính.
+ Mối liên kết giữa các cơ sở sản xuất ngành nghề nông thôn với các nhà khoa học, nhà đầu tư và thị trường còn lỏng lẻo, chưa gắn bó chặt chẽ.
+ Lao động địa phương dồi dào nhưng trình độ thấp chưa tương xứng với yêu cầu hiện đại hóa nông thôn.
+ Nhận thức phát triển ngành nghề nông thôn nói chung OCOP nói riêng nhìn chung chưa toàn diện và thiếu tính đồng bộ trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn.
+ Việc áp dụng và đổi mới công nghệ tại các cơ sở sản xuất còn chậm ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và giá thành, cũng như tính cạnh tranh của sản phẩm.
- Bài học kinh nghiệm
1. Thực hiện chương trình OCOP được các cấp Lãnh đạo quan tâm, chỉ đạo thực hiện là nhân tố quan trong tạo điều kiện cho sản xuất hàng hóa sản phẩm phát triển, từ đó nhân rộng ra phong trào, là điều kiện động lực phát triển cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2. Sự quyết tâm của các doanh nghiệp, hộ gia đình vượt lên để trở thành nhà sản xuất kinh doanh có uy tín và thương hiệu trên thị trường chính là nhân tố, động lực thúc đẩy ngành nghề nông thôn phát triển.
3. Việc cải cách thủ tục hành chính từ quản lý sang hỗ trợ đã tạo điều kiện các cơ sở sản xuất đầu tư mở rộng, tạo môi trường sản xuất kinh doanh thông thoáng
- Kiến nghị đề xuất:
 Nhân hội thảo này chúng tôi xin kiến nghị một số nội dung sau:
1. Đề nghị các cấp các ngành xử lý vướng mắc như hiện nay, như nhiều trường hợp HTX nông nghiệp đã ở tình trạng giải thể, phá sản nhưng không thể giải thể được. Lý do là vì những khoản nợ, trong khi về nguyên tắc còn nợ thì không còn chỗ cho các hợp tác xã khác. Do đó cần có cơ chế chính sách thích đáng xử lý tồn đọng để chuyển giao. Như trường hợp những HTX nông thôn chuyển giao lưới điện cho ngành điện nhưng chưa chuyển đổi được vì vướng mắc tài chính.
2. Đề nghị sữa đổi một cơ chế chính sách, mặc dù hiện nay TW, tỉnh, huyện có nhiều chính sách nhưng không đi vào thực tế. Theo đó đề nghị khi ban hành chính sách cần tiệm cận theo nguyên tắc thị trường, tránh Nhà nước buông lỏng nhưng cũng tránh xu hướng chờ đợi Nhà nước mà không có chủ động, tự lực vươn lên, không đúng định hướng thì trường thì không thể thành công như: chính sách tích tụ ruộng đất làm sao để HTX có đất làm trụ sở, kho bãi, xây dựng tài sản lớn như vậy dùng quyền để thế chấp, đi vay ngân hàng.
3. Đẩy mạnh chính sách đào tạo gắn với doanh nghiệp và HTX, chính sách chuyển giao công nghệ, thương mại và mở rộng thị trường, kéo các doanh nghiệp về khu vực nông thôn để hình thành chuỗi giá trị.
4. Tăng cường quản lý nhà nước, tăng cường vai trò lãnh đạo các đơn vị, mặt trận vào phát triển HTX. duy trì chế độ thông tin, báo cáo…
 Hy vọng rằng, với tiềm năng thế mạnh sẵn có của các HTX cùng sự đầu tư đúng hướng, những chính sách phù hợp sát thực tiễn, các HTX trên địa bàn tỉnh Nghệ An sẽ vượt qua được khó khăn thách thức hiện nay góp phần đưa Chương trình mỗi xã một sản phẩm về đích theo đúng kế hoạch đề ra góp phần vào thanh công chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới./.

Tác giả bài viết: Nguồn tin: Sưu tầm

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây