Thực hiện Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” gắn với phát triển sản phẩm đặc sản truyền thống của tỉnh Nghệ An.

Chủ nhật - 14/11/2021 22:21 0
Trong xây dựng nông thôn mới, tỉnh Nghệ An luôn xác định phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn là nội dung cốt lõi của chương trình. Ngay từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 490/QĐ-TTg ngày 09/5/2018 về việc phê duyệt chương trình Quốc gia “Mỗi xã một sản phẩm” Nghệ An xác định đây là chương trình trọng tâm phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hướng phát huy nội lực và gia tăng giá trị là giải pháp nhiệm vụ quan trọng trong Tái cơ cấu ngành nông nghiệp và triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới gắn với xây dựng NTM bền vững.
Là tỉnh đất rộng, người đông Nông nghiệp là ngành quan trọng luôn được các cấp ủy Đảng, Chính quyền các cấp quan tâm, những năm qua sản xuất nông nghiệp có bước phát triển nhanh về số lượng cơ sở sản xuất, quy mô sản xuất. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2016 -2020 tăng trưởng bình quân 4, 65%. Năm 2020 giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 18.457 tỷ đồng tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư của ngành tăng khá, đạt 4,96%/KH 4,7- 5%. GRDP tăng 4,99% (cả nước tăng 2,65%)  đứng thứ 5 cả nước, cao nhất vùng bắc Trung bộ trong đó : Nông nghiệp: 3,9%; Lâm nghiệp: 6,28%; ngư nghiệp: 9,54%; Số xã đạt chuẩn Nông thôn mới đến hết năm 2020 toàn tỉnh đã có 280/411 xã đạt chuẩn nông thôn mới đạt 68,13%  hoàn thành vượt mức mục tiêu chương trình; 06 đơn vị cấp huyện hoàn thành nhiện vụ, đạt chuẩn NTM; Tỷ lệ số hộ nông dân được sử dụng nước hợp vệ sinh 85%; Tỷ lệ che phủ rừng đạt 58,5%/KH 58%. Cơ cấu kinh tế ngành tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, đến cuối năm 2020: Nông nghiệp 77,22%; Lâm nghiệp 6,71%; Ngư nghiệp: 16,07%. Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp ước đạt 47,94%
Với địa hình đa dạng, đã tạo ra những đặc trưng riêng về khí hậu, thổ nhưỡng cộng với nhiều nắng gió, thiên tai bảo lụt đã hun đúc người dân nơi đây không những chịu thương chịu khó, giàu bản sắc truyền thống văn hóa cách mạng mà còn là chủ nhân của nhiều sản phẩm truyền thống, sản phẩm sáng tạo, nhiều đặc sản nức tiếng gần xã như; Chè Hoa vàng Quế phong; Cam xã Đoài, Cam Vinh; Sữa TH;  Chè Thanh Chương; Vịt bầu Quỳ; Tinh bột sắn dây; Tương Nam Đàn; Me Nam Nghĩa; Nhút Thanh Chương; Tảo xoắn Quỳnh Lưu; Lạc Sen Diễn Châu; Các sản phẩm gỗ, mây tre đan; Nước mắm, Mực một nắng Cửa Lò; Hải sản chế biến Quỳnh Phương; Dược liệu Phù Mát…Cộng với việc sở hữu nhiều điểm Du lịch nổi tiếng như:  Bải biển Cửa Lò, Thác Sao Va; Khe Rạn; Đập Phà Lài…Với gần 120 sản phẩm OCOP đã dần quan thuộc với người tiêu dùng trong và ngoài nước.
  Sau hơn 02 năm thực hiện Chương trình OCOP đã nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các Bộ ngành Trung ương; cũng như sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; sự vào cuộc của các ngành, đoàn thể, hệ thống chính trị, huyện, xã và sự đồng tình của người dân; những chính sách, chương trình, đề án về phát triển kinh tế xã hội được tỉnh, các huyện ban hành, tổ chức thực hiện trong thời gian qua đã và đang phát huy hiệu quả góp phần vào thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh sản phẩm OCOP, nâng cao giá trị hàng hóa làm tăng thu nhập và góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần ở nông thôn đã mang lại hiệu quả trong phát triển kinh tế nông thôn được thể hiện trên các mặt sau đây:
Một là: Chương trình đã khơi dậy được tiềm năng, thế mạnh của các địa phương về sản phẩm đặc sản, ngành nghề nông thôn gắn với lợi thế về điều kiện sản xuất, vùng nguyên liệu và văn hóa truyền thống để gia tăng giá trị sản phẩm OCOP như: các làng nghề truyền thống ở Yên Thành, Diễn châu, Quỳnh lưu, TP Vinh, Thanh Chương đã có 05 sản phẩm OCOP gắn với khai thác vùng nguyên liêu liệu địa phương, gắn với chỉ dẫn địa lý như: Cam Vinh, Gừng Kỳ Sơn; Gà đồi Thanh Chương, Gạo Vĩnh Hòa, Lạc Diễn Châu.
Hai là: Từng bước chuyển đổi từ quy mô nhỏ sang sản xuất theo hướng liên kết chuổi giá trị kép kín, đặc biệt gắn với vai trò của các hợp tác xã, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chương trình đã hình thành được 22 chuổi giá trị OCOP hoạt động có hiệu quả với vai trò tích cực của HTX, doanh nghiệp như: các sản phẩm Tảo xoắn Quỳnh Lưu, Gạo Vĩnh Hòa, HTX Gà đồi Thanh Chương, HTX Nhút Hạnh Lâm, HTX Bưởi Diễn Thanh Nho, HTX gừng Kỳ Sơn; làng nghề nước mắm Quỳnh Dị; Lạc Diễn Châu...
Ba là: Chương trình OCOP đã góp phần tạo việc làm cho lao động, an sinh xã hội đặc biệt là phát huy vai trò phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số điển hình như: Sản phẩm Dệt Thổ cẩm gắn với các Làng du lịch công đồng (Homstay) bản Hoa Tiến, xã Châu Tiến, bản Khe Rạn (xã Bồng Khê), bản Nưa (xã Yên Khê) huyện Con Cuông. Đã giải quyết việc làm thường xuyên cho 285 hộ với 265 lao động thu nhập bình quân 3,8 - 4,2 triệu đồng/người/tháng ngoài ra góp phần giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa, cảnh quan môi trường của địa phương. Điển hình như bản Nưa (xã Yên Khê)...
Bốn là:  Các sản phẩm OCOP sau khi được công nhận đã gia tăng giá trị, góp phần giúp các chủ thể tăng về quy mô sản xuất và doanh thu 10- 12% so với cùng kỳ như: Sản phẩm Sen Quê Bác, Dò bê Nam Nghĩa Nam Đàn; Hương trầm Quỳ Châu; Lạc Diễn Châu, Tỏa xoắn Quỳnh Lưu, Thủy sản Biển Quỳnh, Dược liệu Pù Mát, Nấm ATC Vinh; Gà đồi Thanh Chương, Bò hun khói Tương Dương...
Năm là: Sản phẩm OCOP đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm; có mẫu mã, bao bì đa dạng và thân thiện với môi trường, phù hợp với yêu cầu của thị trường như: Công ty cổ phần dược liệu Pù Mát, Công ty cổ phần khoa học công nghệ tảo VN, Nấm ATC; Sản phẩm thủy sản của Công ty cổ phần Biển Quỳnh, HTX chè Thanh Chương, HTX dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đồng Tâm, Chè Hùng Sơn, Lạc Diễn Châu, Gạo Vĩnh Hòa...
Sáu là: Chương trình OCOP góp phần bảo tồn và phát huy các loại đặc sản, sản phẩm làng nghề truyền thống, các giá trị văn hóa để phát triển kinh tế nông thôn tính đến ngày 31/12/2020 toàn tỉnh có tổng số 13.016 hộ tham gia hoạt động tại các làng nghề (chiếm 1,94 % số hộ ở nông thôn); với số lao động tham gia nghề là 22.740 lao động (chiếm 1,35% lao động nông thôn, thu nhập bình quân 3,5 - 4,0 triệu đồng/lao động/tháng; có 562 HTX nông nghiệp, thu hút 662.250 lao động tham gia.
Bảy là: Chương trình, đã góp phần quan trọng vào kết quả xây dựng nông thôn mới chỉ tiêu đề ra hết năm 2020 là 90 sản phẩm đạt hạng 03 sao trở lên đến 30/11/2020 đạt 115 sản phẩm đạt hạng 03 sao trở lên đạt 127,7%. Góp phần  từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần tích cực vào mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, thực tiễn tại Nghệ An, kinh tế khu vực nông thôn phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh vốn có. Trong nhiều năm, thu nhập và đời sống người dân nông thôn còn thấp 39,5 triệu đồng/người/năm 2020, sản xuất theo quy mô hộ gia đình vẫn chiếm tỷ lệ chủ yếu, năng suất lao động, giá trị canh tác trên đơn vị diện tích còn thấp; một số sản phẩm còn sản xuất nhỏ lẻ; sản xuất quy mô lớn tuy có phát triển nhưng còn chậm; một số sản phẩm chủ lực của địa phương chưa xây dựng được thương hiệu; sản phẩm chủ yếu vẫn còn ở dạng thô, sơ chế; công nghệ bảo quản, chế biến chưa phát triển; trình độ quản trị sản xuất, kinh doanh của các Hợp tác xã, doanh nghiệp, hộ sản xuất còn hạn chế; công tác xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường còn hạn chế,.... 
Nguyên nhân của sự hạn chế nêu trên được xác định:
Một là, thiếu nguồn lực đầu tư cho phát triển, cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật còn nhiều bất cập, máy móc thiết bị sản xuất thô sơ, lạc hậu; quy mô sản xuất các sản phẩm đặc sản chủ yếu sản xuất theo hộ, nhóm hộ không sản xuất tập trung, mẫu mã sản phẩm đơn giản;
 Hai là, một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc phát triển sản phẩm đặc sản;
Ba là, công tác xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa được mở rộng;
          Bốn là, trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ HTX và các chủ thể còn hạn chế...
Tỉnh ta là tỉnh có tiềm năng lợi thế để phát triển cây đặc sản, sản phẩm truyền thống để chúng ta tiếp tục phát triển sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu trong và ngoài tỉnh như:
- Cây mía với tổng diện tích 26.500 ha, năng suất 630 tạ/ha, sản lượng 1.670.000 tấn phục vụ cho chế biến của 3 nhà máy đường trên địa bàn.
- Cây Cam, quýt tập trung đã hình thành vùng chuyên canh với diện tích 6.200 ha ở các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Con Cuông, Anh Sơn, Yên Thành, Tân Kỳ, Nghi Lộc,... năng suất 166 tạ/ha, sản lượng 49.800 tấn; Cam Xã Đoài là giống cam đặc sản nổi tiếng trong cả nước.
- Cây chanh leo, tổng diện tích 500 ha, năng suất 265 tấn/ha, sản lượng 13.250 tấn;
- Cây chè công nghiệp tổng diện tích 8.300 ha, diện tích kinh doanh 6.800 ha, năng suất 115 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi 78.200 tấn.
- Cây cao su tổng diện tích 12.800 ha, diện tích kinh doanh 6.500 ha, năng suất 11,8 tạ/ha, sản lượng (cao su mủ khô) 7.500 tấn.
- Cây lúa tổng diện tích 182.000 ha, NS 54,4 tạ/ha, sản lượng 990.080 tấn.
- Cây lạc tổng diện tích 15.500 ha, NS 26 tạ/ha, sản lượng 40.300 tấn
Ngoài ra, còn có nhiều loại cây trồng khác như:  Ngô tổng diện tích 59.000 ha, năng suất 43,2 tạ/ha, sản lượng 255.600 tấn, cây dược liệu, 800 ha…
          Bên cạnh sản xuất trồng trọt, ngành chăn nuôi Nghệ An cũng có quy mô lớn, với quy mô tổng đàn trâu 280.000 con; tổng đàn bò 485.000 con; tổng đàn lợn 1.000.000 con, tổng đàn gia cầm 23.000.000 - 24.000.000 con, Trong đó, có nhiều giống đặc sản, có chất lượng cao như Vịt bầu Quỳ (quy mô khoảng 80.000 con), lợn đen địa phương (quy mô khoảng 150.000 con), gà đồi Thanh Chương (quy mô khoảng 2,300 triệu con),….Chăn nuôi đang chuyển từ hình thức chăn nuôi truyền thống sang chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp theo hướng trang trại, gia trại với quy mô hợp lý, đảm bảo vệ sinh môi trường và an toàn sinh học. Về sản xuất thủy sản: Tổng diện tích nuôi trồng trên 21.100 ha, trong đó diện tích nuôi tôm trên 2.000 ha; Nghệ An hiện có 3.500 tàu cá, trong đó tàu có công suất trên 90CV là 1.550 tàu. Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 199.000 tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng 52.000 tấn, sản lượng khai thác: 147.000 tấn...
Để thực hiện Chương trình MTQG “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) Nghệ An đã Ban hành Đề án số 729/QĐ-UBND ngày 12/3/2019  Phê duyệt đề án Mỗi xã một sản phẩm tỉnh Nghệ An giai đoạn 2019 -2020 định hướng đến năm 2030. Trong đó xác định đến năm 2025 phấn đấu toàn tỉnh có 182 sản phẩm OCOP, thuộc 6 nhóm sản phẩm, gồm: Nhóm thực phẩm có 121 sản phẩm; nhóm đồ uống có 15 sản phẩm; nhóm thảo dược có 13 sản phẩm; nhóm vải và may mặc có 11 sản phẩm; nhóm lưu niệm - nội thất - trang trí có 16 sản phẩm; nhóm Dịch vụ du lịch nông thôn có 6 sản phẩm.. trong thời gian tới  Nghệ An xác định một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là: Làm tốt công tác truyền thông thông tin, làm thay đổi nhận thức cho người dân hiểu được mục đích, ý nghĩa tốt đẹp, từ đó kích thích tiêu thụ, thúc đẩy sản xuất, tạo điều kiện và động lực cho người sản xuất mạnh dạn đầu tư, phát triển các sản phẩm lợi thế của mỗi địa phương.
Hai là: Phát triển sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phải đa dạng. Từng bước nâng cao chất lượng, quy chuẩn, sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn ở các thị trường khác nhau. Việc phát triển sản phẩm, dịch vụ phải đi liền với phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp.
Ba là:  Các tập đoàn, công ty lữ hành lớn, hãng hàng không, các cơ quan báo chí, truyền thông,... tăng cường thông tin tuyên truyền về các sản phẩm đặc sản các vùng, miền vào chương trình quảng bá du lịch, không chỉ trong nước mà cả quốc tế nhằm tăng cường hơn nữa liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, thực hiện công tác marketing tổng thể.
Bốn là: Coi phát triển các sản phẩm chủ lực của Tỉnh là nhiệm vụ trọng tâm trong thực hiện xây dựng nông thôn mới và cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp ở địa phương; Giao nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành chuyên môn để xây dựng, thực hiện đề án, kế hoạch triển khai Chương trình OCOP.
Năm là: Cần tập trung phát triển các dự án mang tính trọng điểm, dự án liên kết vùng huyện, xã. Thường xuyên tổ chức các sự kiện vinh danh về sản phẩm, về dịch vụ du lịch (hội chợ, festival),.... Tùy thuộc điều kiện, đặc điểm cụ thể, cần chọn bước đi, lộ trình thích hợp, phù hợp điều kiện thực tế địa phương để lựa chọn sản phẩm lợi thế, đầu tư phát triển, nâng cấp sản phẩm từ cấp xã, huyện lên cấp tỉnh, quốc gia.
Để giúp Nghệ An thực hiện tốt mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn; đặc biệt là liên kết tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trong thời gian tới; kính đề nghị Bộ Nông nghiệp và PTNT, các bộ ngành, cơ quan ở Trung ương quan tâm hỗ trợ Nghệ An một số nội dung sau:
1. Đề nghị Trung ương trong việc hỗ trợ triển khai công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, các địa phương trong việc phát triển sản phẩm OCOP và sản phẩm đặc sản, sản phẩm làng nghề truyền thống.
2.  Để thúc đẩy phát triển hợp tác, liên kết sản xuất cần ưu tiên bố trí đủ nguồn lực để thực hiện các chính sách hỗ trợ liên kết theo Nghị định 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ.
3. Tiếp tục quan tâm hỗ trợ, đào tạo, tập huấn để nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông dân, HTX tham gia liên kết; đặc biệt là đào tạo, tập huấn các kiến thức về thị trường, kỹ năng đàm phán ký kết hợp đồng cho đội ngũ cán bộ HTX;   
4. Quan tâm hỗ trợ tỉnh Nghệ An xây dựng các mô hình hợp tác xã nông nghiệp sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm đặc sản của địa phương.
5. Có chính sách phân bổ kinh phí từ các chương trình phát triển KT-XH cho các vùng miền còn gặp khó khăn để phát triển các sản phẩm đặc sản.
6. Hướng dẫn việc phân bổ nguồn vốn sự nghiệp từ chương trình xây dựng nông thôn mới hàng năm và quy định tỷ lệ nhất định cho triển khai chương trình OCOP nói chung và hỗ trợ phát triển sản phẩm đặc sản nói riêng.
7. Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại để góp phần tiêu thụ sản phẩm đặc sản của mỗi một vùng miền.
- Đối với HĐND và UBND tỉnh:
 Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo Sở Tài chính hàng năm quan tâm ưu tiên để tăng thêm mức hỗ trợ theo Nghị quyết 25/NQ/2020-HĐND của HĐND tỉnh bởi mức hỗ trợ hiện nay chỉ 5 tỷ đồng/năm là quá ít trong khi đó đối tượng hỗ trợ lớn (đến năm 2021 đã có 115 sản phẩm đạt chuẩn) và phải hỗ trợ cho 4 nội dung theo nghị quyết 25/NQ/2020-HĐND trong đó tiền thưởng đã chiếm gần 50% còn các nội dung như: Xây dựng điểm trưng bày sản phẩm và bán hàng, bao bì nhãn mác, đặc biệt hỗ trợ máy móc thiết bị đổi mới công nghệ lại quá ít.
- Đối với các UBND cấp huyện, xã, phường
+ Đề nghị Huyện ủy, HĐND, UBND các cấp kiện toàn Ban chỉ đạo, Tổ giúp việc, phân công cơ quan thường trực là Phòng Nông nghiệp và PTNT/Kinh tế tránh tình trạng không thống nhất, chồng chéo và cử cán bộ chuyên trách.
+ Hàng năm ưu tiên huy động và lồng ghép các nguồn lực. Đặc biệt là nguồn vốn sự nghiệp NTM Trung ương hỗ trợ hàng năm để hỗ trợ các chủ thể tham gia chương trình.
Hy vọng và tin tưởng rằng, với tiềm năng thế mạnh sẵn có của tỉnh nhà và kinh nghiệm thực tiển của qua gần 03 năm qua cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Cấp ủy chính quyền các cấp sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng hưởng ứng của người dân và những cơ chế chính sách đã và đang phát huy tác dụng …Chương trình OCOP của tỉnh nhà giai đoạn 2021 -2025 là điểm sáng của khu vực Bắc trung bộ góp phần nâng cao thu nhập cho người dân bảo vệ môi trường, sinh thái và giử gìn phát huy bản sắc văn hóa các vùng miền, xóa đói giảm nghèo và an sinh xã hội./.

Trong xây dựng nông thôn mới, tỉnh Nghệ An luôn xác định phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn là nội dung cốt lõi của chương trình. Ngay từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 490/QĐ-TTg ngày 09/5/2018 về việc phê duyệt chương trình Quốc gia “Mỗi xã một sản phẩm” Nghệ An xác định đây là chương trình trọng tâm phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hướng phát huy nội lực và gia tăng giá trị là giải pháp nhiệm vụ quan trọng trong Tái cơ cấu ngành nông nghiệp và triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới gắn với xây dựng NTM bền vững.
Là tỉnh đất rộng, người đông Nông nghiệp là ngành quan trọng luôn được các cấp ủy Đảng, Chính quyền các cấp quan tâm, những năm qua sản xuất nông nghiệp có bước phát triển nhanh về số lượng cơ sở sản xuất, quy mô sản xuất. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2016 -2020 tăng trưởng bình quân 4, 65%. Năm 2020 giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 18.457 tỷ đồng tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư của ngành tăng khá, đạt 4,96%/KH 4,7- 5%. GRDP tăng 4,99% (cả nước tăng 2,65%)  đứng thứ 5 cả nước, cao nhất vùng bắc Trung bộ trong đó : Nông nghiệp: 3,9%; Lâm nghiệp: 6,28%; ngư nghiệp: 9,54%; Số xã đạt chuẩn Nông thôn mới đến hết năm 2020 toàn tỉnh đã có 280/411 xã đạt chuẩn nông thôn mới đạt 68,13%  hoàn thành vượt mức mục tiêu chương trình; 06 đơn vị cấp huyện hoàn thành nhiện vụ, đạt chuẩn NTM; Tỷ lệ số hộ nông dân được sử dụng nước hợp vệ sinh 85%; Tỷ lệ che phủ rừng đạt 58,5%/KH 58%. Cơ cấu kinh tế ngành tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, đến cuối năm 2020: Nông nghiệp 77,22%; Lâm nghiệp 6,71%; Ngư nghiệp: 16,07%. Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp ước đạt 47,94%
Với địa hình đa dạng, đã tạo ra những đặc trưng riêng về khí hậu, thổ nhưỡng cộng với nhiều nắng gió, thiên tai bảo lụt đã hun đúc người dân nơi đây không những chịu thương chịu khó, giàu bản sắc truyền thống văn hóa cách mạng mà còn là chủ nhân của nhiều sản phẩm truyền thống, sản phẩm sáng tạo, nhiều đặc sản nức tiếng gần xã như; Chè Hoa vàng Quế phong; Cam xã Đoài, Cam Vinh; Sữa TH;  Chè Thanh Chương; Vịt bầu Quỳ; Tinh bột sắn dây; Tương Nam Đàn; Me Nam Nghĩa; Nhút Thanh Chương; Tảo xoắn Quỳnh Lưu; Lạc Sen Diễn Châu; Các sản phẩm gỗ, mây tre đan; Nước mắm, Mực một nắng Cửa Lò; Hải sản chế biến Quỳnh Phương; Dược liệu Phù Mát…Cộng với việc sở hữu nhiều điểm Du lịch nổi tiếng như:  Bải biển Cửa Lò, Thác Sao Va; Khe Rạn; Đập Phà Lài…Với gần 120 sản phẩm OCOP đã dần quan thuộc với người tiêu dùng trong và ngoài nước.
  Sau hơn 02 năm thực hiện Chương trình OCOP đã nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các Bộ ngành Trung ương; cũng như sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; sự vào cuộc của các ngành, đoàn thể, hệ thống chính trị, huyện, xã và sự đồng tình của người dân; những chính sách, chương trình, đề án về phát triển kinh tế xã hội được tỉnh, các huyện ban hành, tổ chức thực hiện trong thời gian qua đã và đang phát huy hiệu quả góp phần vào thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh sản phẩm OCOP, nâng cao giá trị hàng hóa làm tăng thu nhập và góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần ở nông thôn đã mang lại hiệu quả trong phát triển kinh tế nông thôn được thể hiện trên các mặt sau đây:
Một là: Chương trình đã khơi dậy được tiềm năng, thế mạnh của các địa phương về sản phẩm đặc sản, ngành nghề nông thôn gắn với lợi thế về điều kiện sản xuất, vùng nguyên liệu và văn hóa truyền thống để gia tăng giá trị sản phẩm OCOP như: các làng nghề truyền thống ở Yên Thành, Diễn châu, Quỳnh lưu, TP Vinh, Thanh Chương đã có 05 sản phẩm OCOP gắn với khai thác vùng nguyên liêu liệu địa phương, gắn với chỉ dẫn địa lý như: Cam Vinh, Gừng Kỳ Sơn; Gà đồi Thanh Chương, Gạo Vĩnh Hòa, Lạc Diễn Châu.
Hai là: Từng bước chuyển đổi từ quy mô nhỏ sang sản xuất theo hướng liên kết chuổi giá trị kép kín, đặc biệt gắn với vai trò của các hợp tác xã, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chương trình đã hình thành được 22 chuổi giá trị OCOP hoạt động có hiệu quả với vai trò tích cực của HTX, doanh nghiệp như: các sản phẩm Tảo xoắn Quỳnh Lưu, Gạo Vĩnh Hòa, HTX Gà đồi Thanh Chương, HTX Nhút Hạnh Lâm, HTX Bưởi Diễn Thanh Nho, HTX gừng Kỳ Sơn; làng nghề nước mắm Quỳnh Dị; Lạc Diễn Châu...
Ba là: Chương trình OCOP đã góp phần tạo việc làm cho lao động, an sinh xã hội đặc biệt là phát huy vai trò phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số điển hình như: Sản phẩm Dệt Thổ cẩm gắn với các Làng du lịch công đồng (Homstay) bản Hoa Tiến, xã Châu Tiến, bản Khe Rạn (xã Bồng Khê), bản Nưa (xã Yên Khê) huyện Con Cuông. Đã giải quyết việc làm thường xuyên cho 285 hộ với 265 lao động thu nhập bình quân 3,8 - 4,2 triệu đồng/người/tháng ngoài ra góp phần giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa, cảnh quan môi trường của địa phương. Điển hình như bản Nưa (xã Yên Khê)...
Bốn là:  Các sản phẩm OCOP sau khi được công nhận đã gia tăng giá trị, góp phần giúp các chủ thể tăng về quy mô sản xuất và doanh thu 10- 12% so với cùng kỳ như: Sản phẩm Sen Quê Bác, Dò bê Nam Nghĩa Nam Đàn; Hương trầm Quỳ Châu; Lạc Diễn Châu, Tỏa xoắn Quỳnh Lưu, Thủy sản Biển Quỳnh, Dược liệu Pù Mát, Nấm ATC Vinh; Gà đồi Thanh Chương, Bò hun khói Tương Dương...
Năm là: Sản phẩm OCOP đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm; có mẫu mã, bao bì đa dạng và thân thiện với môi trường, phù hợp với yêu cầu của thị trường như: Công ty cổ phần dược liệu Pù Mát, Công ty cổ phần khoa học công nghệ tảo VN, Nấm ATC; Sản phẩm thủy sản của Công ty cổ phần Biển Quỳnh, HTX chè Thanh Chương, HTX dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đồng Tâm, Chè Hùng Sơn, Lạc Diễn Châu, Gạo Vĩnh Hòa...
Sáu là: Chương trình OCOP góp phần bảo tồn và phát huy các loại đặc sản, sản phẩm làng nghề truyền thống, các giá trị văn hóa để phát triển kinh tế nông thôn tính đến ngày 31/12/2020 toàn tỉnh có tổng số 13.016 hộ tham gia hoạt động tại các làng nghề (chiếm 1,94 % số hộ ở nông thôn); với số lao động tham gia nghề là 22.740 lao động (chiếm 1,35% lao động nông thôn, thu nhập bình quân 3,5 - 4,0 triệu đồng/lao động/tháng; có 562 HTX nông nghiệp, thu hút 662.250 lao động tham gia.
Bảy là: Chương trình, đã góp phần quan trọng vào kết quả xây dựng nông thôn mới chỉ tiêu đề ra hết năm 2020 là 90 sản phẩm đạt hạng 03 sao trở lên đến 30/11/2020 đạt 115 sản phẩm đạt hạng 03 sao trở lên đạt 127,7%. Góp phần  từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần tích cực vào mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, thực tiễn tại Nghệ An, kinh tế khu vực nông thôn phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh vốn có. Trong nhiều năm, thu nhập và đời sống người dân nông thôn còn thấp 39,5 triệu đồng/người/năm 2020, sản xuất theo quy mô hộ gia đình vẫn chiếm tỷ lệ chủ yếu, năng suất lao động, giá trị canh tác trên đơn vị diện tích còn thấp; một số sản phẩm còn sản xuất nhỏ lẻ; sản xuất quy mô lớn tuy có phát triển nhưng còn chậm; một số sản phẩm chủ lực của địa phương chưa xây dựng được thương hiệu; sản phẩm chủ yếu vẫn còn ở dạng thô, sơ chế; công nghệ bảo quản, chế biến chưa phát triển; trình độ quản trị sản xuất, kinh doanh của các Hợp tác xã, doanh nghiệp, hộ sản xuất còn hạn chế; công tác xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường còn hạn chế,.... 
Nguyên nhân của sự hạn chế nêu trên được xác định:
Một là, thiếu nguồn lực đầu tư cho phát triển, cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật còn nhiều bất cập, máy móc thiết bị sản xuất thô sơ, lạc hậu; quy mô sản xuất các sản phẩm đặc sản chủ yếu sản xuất theo hộ, nhóm hộ không sản xuất tập trung, mẫu mã sản phẩm đơn giản;
 Hai là, một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc phát triển sản phẩm đặc sản;
Ba là, công tác xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa được mở rộng;
          Bốn là, trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ HTX và các chủ thể còn hạn chế...
Tỉnh ta là tỉnh có tiềm năng lợi thế để phát triển cây đặc sản, sản phẩm truyền thống để chúng ta tiếp tục phát triển sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu trong và ngoài tỉnh như:
- Cây mía với tổng diện tích 26.500 ha, năng suất 630 tạ/ha, sản lượng 1.670.000 tấn phục vụ cho chế biến của 3 nhà máy đường trên địa bàn.
- Cây Cam, quýt tập trung đã hình thành vùng chuyên canh với diện tích 6.200 ha ở các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Con Cuông, Anh Sơn, Yên Thành, Tân Kỳ, Nghi Lộc,... năng suất 166 tạ/ha, sản lượng 49.800 tấn; Cam Xã Đoài là giống cam đặc sản nổi tiếng trong cả nước.
- Cây chanh leo, tổng diện tích 500 ha, năng suất 265 tấn/ha, sản lượng 13.250 tấn;
- Cây chè công nghiệp tổng diện tích 8.300 ha, diện tích kinh doanh 6.800 ha, năng suất 115 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi 78.200 tấn.
- Cây cao su tổng diện tích 12.800 ha, diện tích kinh doanh 6.500 ha, năng suất 11,8 tạ/ha, sản lượng (cao su mủ khô) 7.500 tấn.
- Cây lúa tổng diện tích 182.000 ha, NS 54,4 tạ/ha, sản lượng 990.080 tấn.
- Cây lạc tổng diện tích 15.500 ha, NS 26 tạ/ha, sản lượng 40.300 tấn
Ngoài ra, còn có nhiều loại cây trồng khác như:  Ngô tổng diện tích 59.000 ha, năng suất 43,2 tạ/ha, sản lượng 255.600 tấn, cây dược liệu, 800 ha…
          Bên cạnh sản xuất trồng trọt, ngành chăn nuôi Nghệ An cũng có quy mô lớn, với quy mô tổng đàn trâu 280.000 con; tổng đàn bò 485.000 con; tổng đàn lợn 1.000.000 con, tổng đàn gia cầm 23.000.000 - 24.000.000 con, Trong đó, có nhiều giống đặc sản, có chất lượng cao như Vịt bầu Quỳ (quy mô khoảng 80.000 con), lợn đen địa phương (quy mô khoảng 150.000 con), gà đồi Thanh Chương (quy mô khoảng 2,300 triệu con),….Chăn nuôi đang chuyển từ hình thức chăn nuôi truyền thống sang chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp theo hướng trang trại, gia trại với quy mô hợp lý, đảm bảo vệ sinh môi trường và an toàn sinh học. Về sản xuất thủy sản: Tổng diện tích nuôi trồng trên 21.100 ha, trong đó diện tích nuôi tôm trên 2.000 ha; Nghệ An hiện có 3.500 tàu cá, trong đó tàu có công suất trên 90CV là 1.550 tàu. Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 199.000 tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng 52.000 tấn, sản lượng khai thác: 147.000 tấn...
Để thực hiện Chương trình MTQG “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) Nghệ An đã Ban hành Đề án số 729/QĐ-UBND ngày 12/3/2019  Phê duyệt đề án Mỗi xã một sản phẩm tỉnh Nghệ An giai đoạn 2019 -2020 định hướng đến năm 2030. Trong đó xác định đến năm 2025 phấn đấu toàn tỉnh có 182 sản phẩm OCOP, thuộc 6 nhóm sản phẩm, gồm: Nhóm thực phẩm có 121 sản phẩm; nhóm đồ uống có 15 sản phẩm; nhóm thảo dược có 13 sản phẩm; nhóm vải và may mặc có 11 sản phẩm; nhóm lưu niệm - nội thất - trang trí có 16 sản phẩm; nhóm Dịch vụ du lịch nông thôn có 6 sản phẩm.. trong thời gian tới  Nghệ An xác định một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là: Làm tốt công tác truyền thông thông tin, làm thay đổi nhận thức cho người dân hiểu được mục đích, ý nghĩa tốt đẹp, từ đó kích thích tiêu thụ, thúc đẩy sản xuất, tạo điều kiện và động lực cho người sản xuất mạnh dạn đầu tư, phát triển các sản phẩm lợi thế của mỗi địa phương.
Hai là: Phát triển sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phải đa dạng. Từng bước nâng cao chất lượng, quy chuẩn, sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn ở các thị trường khác nhau. Việc phát triển sản phẩm, dịch vụ phải đi liền với phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp.
Ba là:  Các tập đoàn, công ty lữ hành lớn, hãng hàng không, các cơ quan báo chí, truyền thông,... tăng cường thông tin tuyên truyền về các sản phẩm đặc sản các vùng, miền vào chương trình quảng bá du lịch, không chỉ trong nước mà cả quốc tế nhằm tăng cường hơn nữa liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, thực hiện công tác marketing tổng thể.
Bốn là: Coi phát triển các sản phẩm chủ lực của Tỉnh là nhiệm vụ trọng tâm trong thực hiện xây dựng nông thôn mới và cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp ở địa phương; Giao nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành chuyên môn để xây dựng, thực hiện đề án, kế hoạch triển khai Chương trình OCOP.
Năm là: Cần tập trung phát triển các dự án mang tính trọng điểm, dự án liên kết vùng huyện, xã. Thường xuyên tổ chức các sự kiện vinh danh về sản phẩm, về dịch vụ du lịch (hội chợ, festival),.... Tùy thuộc điều kiện, đặc điểm cụ thể, cần chọn bước đi, lộ trình thích hợp, phù hợp điều kiện thực tế địa phương để lựa chọn sản phẩm lợi thế, đầu tư phát triển, nâng cấp sản phẩm từ cấp xã, huyện lên cấp tỉnh, quốc gia.
Để giúp Nghệ An thực hiện tốt mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn; đặc biệt là liên kết tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trong thời gian tới; kính đề nghị Bộ Nông nghiệp và PTNT, các bộ ngành, cơ quan ở Trung ương quan tâm hỗ trợ Nghệ An một số nội dung sau:
1. Đề nghị Trung ương trong việc hỗ trợ triển khai công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, các địa phương trong việc phát triển sản phẩm OCOP và sản phẩm đặc sản, sản phẩm làng nghề truyền thống.
2.  Để thúc đẩy phát triển hợp tác, liên kết sản xuất cần ưu tiên bố trí đủ nguồn lực để thực hiện các chính sách hỗ trợ liên kết theo Nghị định 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ.
3. Tiếp tục quan tâm hỗ trợ, đào tạo, tập huấn để nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông dân, HTX tham gia liên kết; đặc biệt là đào tạo, tập huấn các kiến thức về thị trường, kỹ năng đàm phán ký kết hợp đồng cho đội ngũ cán bộ HTX;   
4. Quan tâm hỗ trợ tỉnh Nghệ An xây dựng các mô hình hợp tác xã nông nghiệp sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm đặc sản của địa phương.
5. Có chính sách phân bổ kinh phí từ các chương trình phát triển KT-XH cho các vùng miền còn gặp khó khăn để phát triển các sản phẩm đặc sản.
6. Hướng dẫn việc phân bổ nguồn vốn sự nghiệp từ chương trình xây dựng nông thôn mới hàng năm và quy định tỷ lệ nhất định cho triển khai chương trình OCOP nói chung và hỗ trợ phát triển sản phẩm đặc sản nói riêng.
7. Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại để góp phần tiêu thụ sản phẩm đặc sản của mỗi một vùng miền.
- Đối với HĐND và UBND tỉnh:
 Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo Sở Tài chính hàng năm quan tâm ưu tiên để tăng thêm mức hỗ trợ theo Nghị quyết 25/NQ/2020-HĐND của HĐND tỉnh bởi mức hỗ trợ hiện nay chỉ 5 tỷ đồng/năm là quá ít trong khi đó đối tượng hỗ trợ lớn (đến năm 2021 đã có 115 sản phẩm đạt chuẩn) và phải hỗ trợ cho 4 nội dung theo nghị quyết 25/NQ/2020-HĐND trong đó tiền thưởng đã chiếm gần 50% còn các nội dung như: Xây dựng điểm trưng bày sản phẩm và bán hàng, bao bì nhãn mác, đặc biệt hỗ trợ máy móc thiết bị đổi mới công nghệ lại quá ít.
- Đối với các UBND cấp huyện, xã, phường
+ Đề nghị Huyện ủy, HĐND, UBND các cấp kiện toàn Ban chỉ đạo, Tổ giúp việc, phân công cơ quan thường trực là Phòng Nông nghiệp và PTNT/Kinh tế tránh tình trạng không thống nhất, chồng chéo và cử cán bộ chuyên trách.
+ Hàng năm ưu tiên huy động và lồng ghép các nguồn lực. Đặc biệt là nguồn vốn sự nghiệp NTM Trung ương hỗ trợ hàng năm để hỗ trợ các chủ thể tham gia chương trình.
Hy vọng và tin tưởng rằng, với tiềm năng thế mạnh sẵn có của tỉnh nhà và kinh nghiệm thực tiển của qua gần 03 năm qua cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Cấp ủy chính quyền các cấp sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng hưởng ứng của người dân và những cơ chế chính sách đã và đang phát huy tác dụng …Chương trình OCOP của tỉnh nhà giai đoạn 2021 -2025 là điểm sáng của khu vực Bắc trung bộ góp phần nâng cao thu nhập cho người dân bảo vệ môi trường, sinh thái và giử gìn phát huy bản sắc văn hóa các vùng miền, xóa đói giảm nghèo và an sinh xã hội./.

 

Tác giả bài viết: Nguồn tin: Nguyễn Hồ Lâm Phó Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn Nghệ An

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây