Quy trình kỹ thuật nuôi cá mú (song) chấm nâu trong ao

Chủ nhật - 29/01/2023 21:25 0
Cá song, còn được gọi với tên phổ biến hơn là cá mú, là loài cá biển có thịt thơm ngon, dễ ăn và là món khoái khẩu của nhiều người, được xem là đặc sản của vùng biển Việt Nam. Cũng như các loại cá biển khác, thịt cá song chứa rất nhiều chất dinh dưỡng. Với thành phần protein rất cao, lại kèm theo những nguyên tố vi lượng như kẽm, magie, phospho, các vitamin, cá song có thể cung cấp đầy đủ dưỡng chất rất tốt cho sức khỏe. Bên cạnh đó, trong cá cũng giàu axit béo omega-3 rất có lợi cho tim mạch.
Chúng tôi xin giới thiệu Quy trình kỹ thuật nuôi cá mú (song) chấm nâu trong ao. Quy trình này áp dụng cho các hộ dân và các cơ sở nuôi cá biển có điều kiện tự nhiên thích hợp với nuôi cá song chấm nâu/ cá mú chấm cam Epinephelus coioides (Hamilton, 1822) và phù hợp với quy hoạch nuôi biển của Việt Nam
1. Chuẩn bị ao
Ao nuôi có diện tích từ 1.000 - 5.000 m2, độ sâu ao nuôi từ 1,8 - 2,5m, độ sâu mực nước từ 1,5 - 2,0m. Ao nuôi có dạng hình vuông hoặc hình chữ nhật có bo tròn ở góc ao, đáy ao có độ dốc 5%, nghiêng về phía hố ga. Bờ ao được kè bê tông hoặc lót bạt, hệ số mái bờ từ 1,0 - 1,5. Nền đáy ao là đất sét pha cát hoặc đáy cát hoặc cát pha bùn (tốt nhất là đáy cát). Đáy ao không bị rò rỉ nước, thoát nước và bị xì phèn. Hố ga đặt ở giữa ao nuôi, có dạng hình vuông (kích thước 1,2m x 1,2m), đáy hố ga sâu hơn đáy ao từ 0,4 - 0,5m, gờ thành trên của hố ga cao hơn đáy ao 0,2m, mặt trên hố ga có lưới nilon hoặc lưới inox để chắn cá nhưng chất thải vẫn đi qua. Từ hố ga có 01 ống nhựa PVC đường kính 250 - 300 mm kéo dài đến mương thoát nước thải. Tại vị trí cuối đường ống nhựa PVC có khóa đóng mở khi cần thiết. Đáy ao nuôi đặt 4 cụm ống nhựa PVC hoặc HDPE để tạo chỗ ẩn nấp cho cá. Ống nhựa được đặt cách bờ ao tối thiểu 1,5m và có đường kính phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cá. Cống thoát: ngoài đường ống PVC để tháo chất thải đáy ao, mỗi ao nuôi được bố trí 01 cống thoát nước, được xây ở giữa bờ ao, nối giữa ao nuôi với mương thoát nước thải. Cống thoát có khẩu độ từ 0,8 - 1,0m, dùng để thoát nước mặt và để thu hoạch cá.
Hệ thống cấp nước gồm 01 ống nhựa PVC hoặc HDPE nối từ ao chứa nước đến ao nuôi, đường kính ống tối thiểu 110mm, được đặt cùng với hướng dòng chảy khi quạt nước ao nuôi. Máy quạt nước cho ao nuôi gồm 2 bộ máy quạt nước được đặt ở 2 phía đối diện trong ao, mỗi bộ gồm 4 - 6 cánh quạt được kéo bởi mô tơ điện hoặc đầu máy dầu diezen.
Thể tích nước trong ao chứa tối thiểu bằng 0,8 - 1,0 lần thể tích ao nuôi. Ao chứa nên có độ sâu lớn hơn ao nuôi để giảm diện tích ao chứa.
Cải tạo ao nuôi bằng cách tháo cạn nước trong ao, loại bỏ các sinh vật không mong muốn còn ở trong ao (cá, tôm, cua tạp, rong, cỏ...), vét bỏ bùn thối, phơi khô đáy ao 1 - 2 tuần, khử trùng đáy ao và bờ ao bằng vôi bột.
Lấy nước vào ao chứa: chọn con nước tốt (thời điểm đầu kỳ con nước cường) để lấy nước. Nước được lấy trực tiếp qua mương dẫn hoặc dùng máy bơm và được lọc qua lưới lọc để ngăn địch hại. Khử trùng nước bằng Chlorine 10 ppm, sục khí hoặc quạt nước ít nhất 1 ngày cho hết dư lượng Chlorine. Sau 5 - 7 ngày, kiểm tra chất lượng nước ao chứa đạt yêu cầu quy định thì cấp nước vào ao nuôi. Cấp nước vào ao nuôi: cấp nước vào ao nuôi đạt độ sâu 0,5 - 0,6m để gây màu nước trước khi thả cá giống.
Gây màu nước cho ao nuôi: Nếu độ trong > 60cm, bón phân ure với liều lượng từ 2 - 2,5 kg/1.000m2 và phân lân với liều lượng 4,0 - 5,0 kg/1.000m2 (chỉ cần gây màu cho ao nuôi 1 lần duy nhất vào đầu thời điểm nuôi.) Sau khi gây màu 3 - 5 ngày, sinh vật phù du trong ao phát triển, độ trong của ao đạt 30 - 40 cm hoặc nước ao có màu xanh, vàng thì tiến hành thả cá giống vào ao. Tiếp tục cấp nước và duy trì mực nước ao nuôi đến độ sâu 1,5-2,0m.

2. Chọn và thả cá giống
Miền Bắc (từ Huế trở ra) thả giống từ tháng 5 đến tháng 8, miền Nam (từ Đà Nẵng trở vào) thả giống quanh năm. Nguồn gốc cá giống: chọn mua cá giống được sản xuất từ những cơ sở sản xuất giống có uy tín, có nguồn gốc rõ ràng.
Chọn cá khỏe mạnh; không bị nhiễm VNN, ký sinh trùng; không dị hình, dị tật; không bị xây xát, mất nhớt; cỡ cá đồng đều, bơi lội nhanh nhẹn, bơi chìm trong nước theo đàn. Cá đã ăn hoàn toàn thức ăn công nghiệp.
- Thuần cá giống: trước khi nhận và thả cá giống 03 ngày, người nuôi nên thông báo cho cơ sở cung cấp giống độ mặn tại ao nuôi để điều chỉnh độ mặn ương cá giống. Độ mặn được điều chỉnh tốt nhất với mức tăng hoặc giảm tối đa 2- 3‰/ ngày.
- Luyện cá giống: trước khi thu cá để vận chuyển, ngừng cho cá ăn trước 12 giờ, dồn cá lại góc bể hoặc tháo bớt nước để tăng mật độ cá (lưu ý phải luôn đảm bảo dưỡng khí ô-xy cho cá). Việc thu cá phải nhẹ nhàng bằng vợt vải mềm, ca, chậu... lưu ý trong quá trình thao tác bắt cá hạn chế để cá rời khỏi mặt nước.
Vận chuyển kín (phương tiện là máy bay, ô tô, tàu thuyền): sử dụng các túi nilon đóng cá chuyên dụng (có nhiều kích cỡ tùy chọn), lồng hai túi vào với nhau, cấp nước sạch (có cùng độ mặn với nước thuần cá) vào 1/3 - 2/5 thể tích túi.
Cho cá vào túi theo mật độ quy định, bơm căng oxy, buộc chặt túi và đặt vào thùng xốp, duy trì nhiệt độ vận chuyển từ 20 - 22 độ C bằng túi đá lạnh đặt trong thùng xốp.
Vận chuyển hở (ô tô, tàu thuyền): sử dụng thùng composit thể tích từ 0,5 - 1,0 m3, cấp 3/5 thể tích nước sạch (có cùng độ mặn với nước thuần cá). Cho cá vào thùng theo mật độ quy định, sục khí liên tục bằng máy thổi khí hoặc bình oxy nguyên chất. Duy trì nhiệt độ vận chuyển 22 - 24 độ C (tốt nhất sử dụng xe bảo ôn). Phải thay 50% nước sau 12 giờ vận chuyển
Thả cá giống: Kích cỡ giống thả là cá giống có chiều dài từ 8 - 10 cm (tương ứng cá có khối lượng từ 8 - 9g/con); Mật độ thả 2 con/m2; Thả cá vào thời điểm trời mát, sáng sớm hoặc chiều tối.
Nếu thời gian vận chuyển cá giống ngắn (nhỏ hơn 5 giờ), tiến hành thả cá như sau: bổ sung từ từ nước ao nuôi vào dụng cụ chứa cá giống và thả từ từ cá từ trong dụng cụ chứa giống ra ao nuôi. Nếu thời gian vận chuyển cá giống lớn hơn 5 giờ, tiến hành thả cá như sau: tắm khử trùng cho cá giống bằng Formalin nồng độ 55ppm trong thời gian 20 - 30 phút để loại bỏ ký sinh trùng và cá yếu sau đó thả từ từ ra ao nuôi thương phẩm

3. Chăm sóc và quản lý
Thức ăn: Giai đoạn từ khi thả cá (cỡ cá 8-9g/con) đến khi đạt khối lượng 200g/con: sử dụng thức ăn công nghiệp chuyên dụng cho cá song có hàm lượng protein từ 45 - 48%, hàm lượng lipid từ 8 - 14%, dạng viên tròn dẹt, có đặc tính chìm chậm để nuôi cá song chấm nâu; Giai đoạn cá có khối lượng >200g/con: sử dụng thức ăn công nghiệp theo quy định; Khẩu phần ăn: căn cứ vào giai đoạn phát triển của cá mà sử dụng cỡ viên và lượng thức ăn công nghiệp cho phù hợp. Khẩu phần cho ăn hàng ngày đối với từng kích cỡ cá.
Chú ý: khi nhiệt độ nước trong lồng nuôi > 32ºC cần giảm lượng thức ăn trong ngày từ 30 - 50%. Trong điều kiện bất thường, hàm lượng oxy hòa tan trong nước giảm (< 4,0 mg/l), giảm lượng thức ăn từ 15 - 20% so với ngày thường.
- Cách cho ăn: cho ăn thủ công bằng tay và tuân thủ nguyên tắc “3 xem” (xem điều kiện thời tiết, xem chất lượng môi trường, xem tình trạng sức khỏe của cá) và nguyên tắc “4 định” (chất lượng thức ăn, khối lượng thức ăn, thời gian cho ăn, địa điểm cho ăn). Từ đó kiểm tra, giám sát thức ăn bằng việc quan sát cá ăn và khả năng sử dụng thức ăn hàng ngày của cá, tuyệt đối tránh dư thừa thức ăn.
Chăm sóc và quản lý lồng nuôi cá: Định kỳ bảo dưỡng, vệ sinh hàu, hà bám vào dây neo, lưới lồng với tần suất 1 - 2 tháng/lần, tùy thuộc vào mức độ hà bám.
- Thay lồng và phân loại cá theo định kỳ 2 tháng/lần, mỗi lần thay lưới lồng có thể tắm cho cá bằng nước ngọt 30-60 phút hoặc bằng Formalin 55ppm trong 20-30 phút, khi tắm cho cá cần sục khí mạnh; Trước mùa mưa bão, lồng bè và nhà ở cần phải được gia cố, chằng chống, neo đậu vững chắc, khi có bão cần theo dõi diễn biến thực tế để có ứng phó kịp thời, nếu vùng nuôi ở các eo vịnh, thì có thể dùng tàu kéo lồng bè đến nơi kín gió.
Quản lý môi trường trong lồng nuôi: Biện pháp tổng hợp để quản lý các yếu tố môi trường trong khu vực lồng nuôi bao gồm: lựa chọn vị trí đặt lồng, kích thước mắt lưới, cách sắp xếp lồng nuôi phù hợp; thường xuyên bổ sung dưỡng chất trong thức ăn để tăng sức đề kháng cho cá. Trong quá trình nuôi, định kỳ kiểm tra 2 lần/ngày các yếu tố pH, DO.
Phòng trừ dịch bệnh tổng hợp: Sử dụng cá giống có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo cá giống không bị nhiễm bệnh, đặc biệt là bệnh hoại tử thần kinh (VNN); Cho cá ăn đầy đủ với thức ăn đảm bảo chất lượng, định kỳ vệ sinh lưới lồng 1 tháng/lần, tạo môi trường nuôi thông thoáng; Vào mùa dịch bệnh (thường là thời điểm giao mùa), để phòng bệnh cần định kỳ tắm Formalin cho cá kết hợp với bổ sung vitamin C và khoáng chất vào thức ăn nhằm tăng sức đề kháng của đàn cá nuôi (bổ sung bằng cách, trộn đều một lượng thức ăn nhất định với vitamin C, men..., sau đó sử dụng dầu mực để bao bọc hỗn hợp thức ăn vừa trộn trước khi cho cá ăn).
Lưu ý theo dõi để phòng và trị bệnh cho cá. Các bệnh thường gặp bao gồmL: Bệnh đốm trắng (Cryptocaryonosis) hay còn gọi bệnh trùng quả dưa; Bệnh sán lá đơn chủ (Monogenean); Bệnh lở loét do vi khuẩn; Bệnh đục mắt do vi khuẩn Streptococcus spp.
4. Thu hoạch cá thương phẩm
- Sau thời gian nuôi 12 - 15 tháng, cá đạt kích cỡ 800 - 1.200 g/con là có thể thu hoạch.
- Luyện cá: trước khi vận chuyển 1 - 2 ngày, cần kéo lưới lồng để cá quen dần với thao tác khi thu hoạch. Trước khi vận chuyển cần cho cá nhịn đói ít nhất 1 ngày để giảm chất bài tiết và giảm stress trong quá trình vận chuyển.
- Cá được vận chuyển sống trong thùng, bể chuyên dụng có thể tích 1,0m3. Trong khi vận chuyển cần hạ thấp nhiệt độ xuống khoảng 22 - 240C, có thể sử dụng đá lạnh và cho vào túi nilon kín rồi thả vào bể vận chuyển để độ mặn trong bể không bị thay đổi làm cá sốc. Cần sục khí mạnh đảm bảo đủ oxy trong suốt quá trình vận chuyển.
Minh Ngọc

Nguồn: Sưu tầm

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây