HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP

Cổng Thông tin khoa học công nghệ Nghệ An


PHIẾU THẨM ĐỊNH BÀI


Người thẩm định: Võ Hải Quang


Tên bài: Nghiên cứu hình thành chế phẩm sinh học phòng ngừa bệnh đốm trắng trên cây thanh long do nấm Neoscytalidium dimidiatum gây ra
Ý kiến nhận xét:


Kết luận:
1. Đăng tin bài viết
2. Đăng tin tổng hợp
3. Đăng tin sưu tầm
4. Không đăng

  Vinh, Thứ ba - 29/06/2021 22:05
  Người thẩm định
 
  Võ Hải Quang



Nội dung:
Thanh long là một trong những cây ăn quả cho giá trị xuất khẩu cao. Theo thống kê của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, toàn quốc hiện có 32 tỉnh trồng thanh long với diện tích khoảng 37.000 ha với tổng sản lượng khoảng 550.000 tấn/năm. Khó khăn hiện nay là vấn đề dịch hại mới phát sinh làm giảm năng suất, chất lượng sản phẩm. Đặc biệt hiện nay là bệnh đốm trắng hay còn được gọi dưới các tên “đốm nâu”, “đốm tắc kè”, “bệnh ma”, “bệnh loét” hay “thối mục” trên cây thanh long đang diễn ra gây ảnh hưởng lớn đến năng xuất thanh long. Tác nhân gây bệnh được biết đến là do nấm Neoscytalidium dimidiatum gây nên. Bệnh đốm trắng được ghi nhận đã và đang xuất hiện gây hại nhanh chóng ở một số khu vực trồng thanh long như Israel, Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam, Florida...
Ở Việt Nam, đầu mùa mưa năm 2012 bệnh bắt đầu phát sinh trên diện diện rộng và gây hại nặng ở nhiều vùng trồng thanh long tại Bình Thuận, Long An và Tiền Giang. Đến cuối năm 2012, tổng diện tích nhiễm bệnh đốm trắng xấp xỉ 1000 ha, chủ yếu ở Bình Thuận (827,5 ha). Xuất phát từ thực trạng sản xuất, yêu cầu cấp bách là tìm ra chủng vi sinh tiềm năng kháng bệnh do nấm N. dimidiatum gây nên do vậy, nhóm nghiên cứu đề tài Viện Ứng dụng công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ do ThS. Lê Thanh Bình đứng đầu đã đề xuất thực hiện đề tài “Nghiên cứu hình thành chế phẩm sinh học phòng ngừa bệnh đốm trắng trên cây thanh long do nấm Neoscytalidium dimidiatum gây ra”.
Từ kết quả nghiên cứu, nhóm thực hiện đề tài rút ra một số kết luận sau: Phần lớn các vườn thanh long tại địa bàn tỉnh Bình Thuận đều bị nhiễm bệnh đốm trắng > 10%. Hiện chủ yếu sử dụng biện pháp vệ sinh đồng ruộng và sử dụng thuốc hóa học chứa hoạt chất Mancozeb và carbenzine cao để phòng bệnh, tuy nhiên chưa đạt hiệu quả cao. Việc sử dụng chế phẩm vi sinh chưa được chú trọng. Đã phân lập, làm thuần và định danh sinh học phân tử được 2 chủng N. dimidiatum là MB1.2 và MB3.3. Đã phân lập, tuyển chọn được 136 chủng vi khuẩn Bacillus, 100 chủng xạ khuẩn Streptomyces, 69 chủng Trichoderma có tiềm năng kháng nấm N. dimidiatum. Có 107/136 chủng Bacillus, 7/100 chủng Streptomyces và 69/69 chủng Trichoderma đã phân lập có khả năng đối kháng với N. dimidiatum. Trong đó tuyển chọn được 3 chủng có tính kháng mạnh nhất để định danh sinh học phân tử. Kết quả định danh cho thấy chủng này lần lượt là Bacillus atrophaeus, Streptomyes griseus và Trichoderma asperellum. Chủng B. atrophaeus và chủng T. asperellum cho hiệu quả phòng trị bệnh đốm trắng trong điều kiện nhà màng cao nên được chọn để nghiên cứu hình thành chế phẩm vi sinh đối kháng N. dimidiatum. Đã hình thành được quy trình sản xuất chế phẩm vi sinh kháng N. dimidiatum gồm các bước: Chủng vi sinh → Nuôi cấy trên môi trường dinh dưỡng bổ sung 20% bột bắp (đối với B. atrophaeus), bổ sung 20% nước chiết thịt (đối với T. asperellum) → Sau 48 giờ → Thu sinh khối và phối trộn Silicagel 30-40% → Sấy 38-40oC → Phối trộn với bột bắp (tỷ lệ 1:1) → Thành phẩm. Kết quả thử nghiệm chế phẩm vi sinh trên đồng ruộng cho thấy chế phẩm vi sinh có tiềm năng phòng và trị bệnh cao. Ngoài ra việc sử dụng phối hợp chế phẩm vi sinh với hoạt chất nano đồng, phosphonate cho hiệu quả cao trong việc phòng trị bệnh đốm trắng trên cây thanh long ở điều kiện đồng ruộng, không gây tác dụng phụ đối với sự sinh trưởng của trái thanh long, giúp giảm mạnh tỷ lệ bệnh trên trái và nâng cao giá trị trái thanh long.
Nhóm đề tài mong muốn được hỗ trợ để tiếp tục nghiên cứu các biện pháp để nâng cao mật số và duy trì hoạt lực của chế phẩm vi sinh đối kháng nấm N. dimidiatum; thử nghiệm đồng ruộng với các nồng độ và thời gian sử dụng chế phẩm vi sinh đối kháng N. dimidiatum khác để xây dựng quy trình sử dụng chế phẩm hoàn chỉnh; xúc tiến hoàn thiện công nghệ và quy trình sản xuất cũng như quy trình sử dụng chế phẩm để đưa sản phẩm phục vụ sản xuất./.
Xuân Hồng



 



BẢN BIÊN TẬP


Người biên tập:
Tên bài: Nghiên cứu hình thành chế phẩm sinh học phòng ngừa bệnh đốm trắng trên cây thanh long do nấm Neoscytalidium dimidiatum gây ra
Nội dung:
Thanh long là một trong những cây ăn quả cho giá trị xuất khẩu cao. Theo thống kê của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, toàn quốc hiện có 32 tỉnh trồng thanh long với diện tích khoảng 37.000 ha với tổng sản lượng khoảng 550.000 tấn/năm. Khó khăn hiện nay là vấn đề dịch hại mới phát sinh làm giảm năng suất, chất lượng sản phẩm. Đặc biệt hiện nay là bệnh đốm trắng hay còn được gọi dưới các tên “đốm nâu”, “đốm tắc kè”, “bệnh ma”, “bệnh loét” hay “thối mục” trên cây thanh long đang diễn ra gây ảnh hưởng lớn đến năng xuất thanh long. Tác nhân gây bệnh được biết đến là do nấm Neoscytalidium dimidiatum gây nên. Bệnh đốm trắng được ghi nhận đã và đang xuất hiện gây hại nhanh chóng ở một số khu vực trồng thanh long như Israel, Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam, Florida...
Ở Việt Nam, đầu mùa mưa năm 2012 bệnh bắt đầu phát sinh trên diện diện rộng và gây hại nặng ở nhiều vùng trồng thanh long tại Bình Thuận, Long An và Tiền Giang. Đến cuối năm 2012, tổng diện tích nhiễm bệnh đốm trắng xấp xỉ 1000 ha, chủ yếu ở Bình Thuận (827,5 ha). Xuất phát từ thực trạng sản xuất, yêu cầu cấp bách là tìm ra chủng vi sinh tiềm năng kháng bệnh do nấm N. dimidiatum gây nên do vậy, nhóm nghiên cứu đề tài Viện Ứng dụng công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ do ThS. Lê Thanh Bình đứng đầu đã đề xuất thực hiện đề tài “Nghiên cứu hình thành chế phẩm sinh học phòng ngừa bệnh đốm trắng trên cây thanh long do nấm Neoscytalidium dimidiatum gây ra”.
Từ kết quả nghiên cứu, nhóm thực hiện đề tài rút ra một số kết luận sau: Phần lớn các vườn thanh long tại địa bàn tỉnh Bình Thuận đều bị nhiễm bệnh đốm trắng > 10%. Hiện chủ yếu sử dụng biện pháp vệ sinh đồng ruộng và sử dụng thuốc hóa học chứa hoạt chất Mancozeb và carbenzine cao để phòng bệnh, tuy nhiên chưa đạt hiệu quả cao. Việc sử dụng chế phẩm vi sinh chưa được chú trọng. Đã phân lập, làm thuần và định danh sinh học phân tử được 2 chủng N. dimidiatum là MB1.2 và MB3.3. Đã phân lập, tuyển chọn được 136 chủng vi khuẩn Bacillus, 100 chủng xạ khuẩn Streptomyces, 69 chủng Trichoderma có tiềm năng kháng nấm N. dimidiatum. Có 107/136 chủng Bacillus, 7/100 chủng Streptomyces và 69/69 chủng Trichoderma đã phân lập có khả năng đối kháng với N. dimidiatum. Trong đó tuyển chọn được 3 chủng có tính kháng mạnh nhất để định danh sinh học phân tử. Kết quả định danh cho thấy chủng này lần lượt là Bacillus atrophaeus, Streptomyes griseus và Trichoderma asperellum. Chủng B. atrophaeus và chủng T. asperellum cho hiệu quả phòng trị bệnh đốm trắng trong điều kiện nhà màng cao nên được chọn để nghiên cứu hình thành chế phẩm vi sinh đối kháng N. dimidiatum. Đã hình thành được quy trình sản xuất chế phẩm vi sinh kháng N. dimidiatum gồm các bước: Chủng vi sinh → Nuôi cấy trên môi trường dinh dưỡng bổ sung 20% bột bắp (đối với B. atrophaeus), bổ sung 20% nước chiết thịt (đối với T. asperellum) → Sau 48 giờ → Thu sinh khối và phối trộn Silicagel 30-40% → Sấy 38-40oC → Phối trộn với bột bắp (tỷ lệ 1:1) → Thành phẩm. Kết quả thử nghiệm chế phẩm vi sinh trên đồng ruộng cho thấy chế phẩm vi sinh có tiềm năng phòng và trị bệnh cao. Ngoài ra việc sử dụng phối hợp chế phẩm vi sinh với hoạt chất nano đồng, phosphonate cho hiệu quả cao trong việc phòng trị bệnh đốm trắng trên cây thanh long ở điều kiện đồng ruộng, không gây tác dụng phụ đối với sự sinh trưởng của trái thanh long, giúp giảm mạnh tỷ lệ bệnh trên trái và nâng cao giá trị trái thanh long.
Nhóm đề tài mong muốn được hỗ trợ để tiếp tục nghiên cứu các biện pháp để nâng cao mật số và duy trì hoạt lực của chế phẩm vi sinh đối kháng nấm N. dimidiatum; thử nghiệm đồng ruộng với các nồng độ và thời gian sử dụng chế phẩm vi sinh đối kháng N. dimidiatum khác để xây dựng quy trình sử dụng chế phẩm hoàn chỉnh; xúc tiến hoàn thiện công nghệ và quy trình sản xuất cũng như quy trình sử dụng chế phẩm để đưa sản phẩm phục vụ sản xuất./.
Xuân Hồng



 



NHUẬN BÚT


Tác giả:
Tiêu đề: Nghiên cứu hình thành chế phẩm sinh học phòng ngừa bệnh đốm trắng trên cây thanh long do nấm Neoscytalidium dimidiatum gây ra
Ngày xuất bản: Thứ ba - 29/06/2021 22:05
Nội dung:
Thanh long là một trong những cây ăn quả cho giá trị xuất khẩu cao. Theo thống kê của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, toàn quốc hiện có 32 tỉnh trồng thanh long với diện tích khoảng 37.000 ha với tổng sản lượng khoảng 550.000 tấn/năm. Khó khăn hiện nay là vấn đề dịch hại mới phát sinh làm giảm năng suất, chất lượng sản phẩm. Đặc biệt hiện nay là bệnh đốm trắng hay còn được gọi dưới các tên “đốm nâu”, “đốm tắc kè”, “bệnh ma”, “bệnh loét” hay “thối mục” trên cây thanh long đang diễn ra gây ảnh hưởng lớn đến năng xuất thanh long. Tác nhân gây bệnh được biết đến là do nấm Neoscytalidium dimidiatum gây nên. Bệnh đốm trắng được ghi nhận đã và đang xuất hiện gây hại nhanh chóng ở một số khu vực trồng thanh long như Israel, Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam, Florida...
Ở Việt Nam, đầu mùa mưa năm 2012 bệnh bắt đầu phát sinh trên diện diện rộng và gây hại nặng ở nhiều vùng trồng thanh long tại Bình Thuận, Long An và Tiền Giang. Đến cuối năm 2012, tổng diện tích nhiễm bệnh đốm trắng xấp xỉ 1000 ha, chủ yếu ở Bình Thuận (827,5 ha). Xuất phát từ thực trạng sản xuất, yêu cầu cấp bách là tìm ra chủng vi sinh tiềm năng kháng bệnh do nấm N. dimidiatum gây nên do vậy, nhóm nghiên cứu đề tài Viện Ứng dụng công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ do ThS. Lê Thanh Bình đứng đầu đã đề xuất thực hiện đề tài “Nghiên cứu hình thành chế phẩm sinh học phòng ngừa bệnh đốm trắng trên cây thanh long do nấm Neoscytalidium dimidiatum gây ra”.
Từ kết quả nghiên cứu, nhóm thực hiện đề tài rút ra một số kết luận sau: Phần lớn các vườn thanh long tại địa bàn tỉnh Bình Thuận đều bị nhiễm bệnh đốm trắng > 10%. Hiện chủ yếu sử dụng biện pháp vệ sinh đồng ruộng và sử dụng thuốc hóa học chứa hoạt chất Mancozeb và carbenzine cao để phòng bệnh, tuy nhiên chưa đạt hiệu quả cao. Việc sử dụng chế phẩm vi sinh chưa được chú trọng. Đã phân lập, làm thuần và định danh sinh học phân tử được 2 chủng N. dimidiatum là MB1.2 và MB3.3. Đã phân lập, tuyển chọn được 136 chủng vi khuẩn Bacillus, 100 chủng xạ khuẩn Streptomyces, 69 chủng Trichoderma có tiềm năng kháng nấm N. dimidiatum. Có 107/136 chủng Bacillus, 7/100 chủng Streptomyces và 69/69 chủng Trichoderma đã phân lập có khả năng đối kháng với N. dimidiatum. Trong đó tuyển chọn được 3 chủng có tính kháng mạnh nhất để định danh sinh học phân tử. Kết quả định danh cho thấy chủng này lần lượt là Bacillus atrophaeus, Streptomyes griseus và Trichoderma asperellum. Chủng B. atrophaeus và chủng T. asperellum cho hiệu quả phòng trị bệnh đốm trắng trong điều kiện nhà màng cao nên được chọn để nghiên cứu hình thành chế phẩm vi sinh đối kháng N. dimidiatum. Đã hình thành được quy trình sản xuất chế phẩm vi sinh kháng N. dimidiatum gồm các bước: Chủng vi sinh → Nuôi cấy trên môi trường dinh dưỡng bổ sung 20% bột bắp (đối với B. atrophaeus), bổ sung 20% nước chiết thịt (đối với T. asperellum) → Sau 48 giờ → Thu sinh khối và phối trộn Silicagel 30-40% → Sấy 38-40oC → Phối trộn với bột bắp (tỷ lệ 1:1) → Thành phẩm. Kết quả thử nghiệm chế phẩm vi sinh trên đồng ruộng cho thấy chế phẩm vi sinh có tiềm năng phòng và trị bệnh cao. Ngoài ra việc sử dụng phối hợp chế phẩm vi sinh với hoạt chất nano đồng, phosphonate cho hiệu quả cao trong việc phòng trị bệnh đốm trắng trên cây thanh long ở điều kiện đồng ruộng, không gây tác dụng phụ đối với sự sinh trưởng của trái thanh long, giúp giảm mạnh tỷ lệ bệnh trên trái và nâng cao giá trị trái thanh long.
Nhóm đề tài mong muốn được hỗ trợ để tiếp tục nghiên cứu các biện pháp để nâng cao mật số và duy trì hoạt lực của chế phẩm vi sinh đối kháng nấm N. dimidiatum; thử nghiệm đồng ruộng với các nồng độ và thời gian sử dụng chế phẩm vi sinh đối kháng N. dimidiatum khác để xây dựng quy trình sử dụng chế phẩm hoàn chỉnh; xúc tiến hoàn thiện công nghệ và quy trình sản xuất cũng như quy trình sử dụng chế phẩm để đưa sản phẩm phục vụ sản xuất./.
Xuân Hồng



 



Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây