HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP

Cổng Thông tin khoa học công nghệ Nghệ An


PHIẾU THẨM ĐỊNH BÀI


Người thẩm định: Võ Hải Quang


Tên bài: Chuyên san KHXH&NV số 7/2020
Ý kiến nhận xét:


Kết luận:
1. Đăng tin bài viết
2. Đăng tin tổng hợp
3. Đăng tin sưu tầm
4. Không đăng

  Vinh, ngày 28 tháng 07 năm 2020
  Người thẩm định
 
  Võ Hải Quang



Nội dung:

GS. Phong Lê

1. Đảng và đường lối văn nghệ của Đảng từ 1943 đến 1990

Văn kiện đầu tiên của Đảng chuyên về văn hóa, trong đó có văn học - nghệ thuật, đó là Đề cương về văn hóa Việt Nam - 1943(1). Một Đề cương về văn hóa sau một Cương lĩnh chính trị đã xuất hiện trong bí mật vào năm 1930.

Với Đề cương về văn hóa Việt Nam, văn hóa là một khái niệm có nội hàm rộng, bao gồm ba lĩnh vực: tư tưởng, học thuật, nghệ thuật. Bây giờ ta có hàng trăm định nghĩa về văn hóa. Ở thời điểm 1943, hiểu văn hóa ở ba phương diện: tư tưởng, học thuật, nghệ thuật tất nhiên là chưa đủ chiều rộng; nhưng lại có được một đường biên cụ thể cho sự hình dung. Đó là sự bao quát phạm vi hoạt động của người trí thức, của giới trí thức trên hai lĩnh vực cơ bản là khoa học và nghệ thuật.

Và, dẫu quan niệm về văn hóa là rộng hoặc hẹp, thì định hướng xuyên suốt của Đề cương vẫn là ở "ba nguyên tắc vận động của cuộc vận động văn hóa mới". Ba nguyên tắc xuất phát từ thực tiễn và đáp ứng rất kịp thời cho các nhu cầu bức thiết của thực tiễn. Đó là:

"a. Dân tộc hóa (chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa, khiến cho văn hóa Việt Nam phát triển độc lập);

b. Đại chúng hóa (chống mọi chủ trương, hành động làm cho văn hóa phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng);

c. Khoa học hóa (chống lại tất cả những cái gì làm cho văn hóa trái khoa học, phản tiến bộ)".

Ở đây, Dân tộc hóa là nguyên tắc được đặt ở vị trí số 1 trong Đề cươngĐại chúng hóa ở vị trí số 2. Và dẫu ở vị trí số 2 nó vẫn là nguyên tắc được đón nhận dễ dàng và có tác động sâu rộng đối với đời sống văn hóa, tinh thần nói chung và văn học - nghệ thuật nói riêng, góp phần tích cực vào thành công của Cách mạng tháng Tám và đem lại một sự sống tươi mới cho công cuộc kháng chiến chống Pháp.

Nguyên tắc Khoa học hóa là kết quả sự vận dụng chủ nghĩa Mác để phân tích lịch sử văn hóa dân tộc, và thực trạng văn hóa hiện thời. Từ đó đề ra phương hướng phát triển văn hóa "tân dân chủ", nó là mục tiêu chỉ có thể thực hiện được từ sau Cách mạng tháng Tám trên nền móng Dân chủ - Cộng hòa.

Năm 1960 - ghi một dấu mốc quan trọng trong hành trình dân tộc. Đó là năm ra đời Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, đưa cuộc chiến đấu chống Mỹ lên một cục diện mới - cục diện cả nước chống Mỹ. Đồng thời, đó là năm trên miền Bắc, Đảng Lao động Việt Nam tiến hành Đại hội lần thứ III công bố Cương lĩnh xây dựng Chủ nghĩa xã hội, và Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965).

Trong Cương lĩnh xây dựng Chủ nghĩa xã hội, Đảng chủ trương tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng:

- Cách mạng quan hệ sản xuất.

- Cách mạng khoa học - kỹ thuật.

- Cách mạng tư tưởng - văn hóa.

Như vậy, ba cuộc cách mạng ở đây cũng nhằm bao quát ba lĩnh vực chính trị - kinh tế - và văn hóa như đã được đặt ra trong Đề cương về văn hóa Việt Nam - 1943.

Từ yêu cầu của Cách mạng tư tưởng - văn hóa mà có Đường lối văn nghệ của Đảng. Đường lối này được đồng chí Trường Chinh trình bày trong bài phát biểu, thay mặt Đảng, trước Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ IV - tháng 12 - năm 1968, có tên Văn nghệ phải góp phần giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tiến tới thống nhất nước nhà, trong đó tác giả tổng kết và nêu lên 8 mục, được xem là "8 quan điểm cơ bản" - "những quan điểm làm cơ sở cho đường lối văn nghệ của Đảng", chiếm toàn bộ Phần I của bài phát biểu. Đó là:

"1. Văn nghệ là vũ khí sắc bén của giai cấp công nhân, của Đảng trong cuộc đấu tranh để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra.

2. Văn nghệ ta phải thực sự là nền văn nghệ của nhân dân.

3. Văn nghệ ta phải có tính chất dân tộc. Văn nghệ ta là văn nghệ của nhiều dân tộc ở nước ta.

4. Văn nghệ phản ánh hiện thực khách quan một cách cao đẹp, góp phần cải tạo hiện thực theo một lý tưởng nhất định.

5. Mục đích của văn nghệ ta đó là giáo dục con người mới.

6. Tiếp thu có phê phán những tinh hoa của văn nghệ dân tộc và những thành tựu tốt đẹp của văn nghệ thế giới xưa và nay.

7. Nắm vững phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa để sáng tác và phê bình.

8. Với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chúng ta xây dựng một nền văn hoá, văn nghệ cao đẹp nhất của loài người"(2).

Vậy là ở đây, qua 8 mục, bản báo cáo đã bao quát gần như đầy đủ những phạm vi cần quan tâm của lý luận văn nghệ (mácxít - lêninnít) gồm: chức năng và vai trò, đặc trưng và tính chất, mục đích và nhiệm vụ, phương pháp sáng tác, và mục tiêu xa của văn nghệ.

Bây giờ đọc lại, dễ nhận thấy ở đây có những mục vẫn đúng nhưng quá rộng hoặc quá hẹp; có những mục không còn thích hợp, cần phải bổ sung hoặc thay đổi.

Tôi chọn mốc 1968 để thấy sự tổng kết trên 8 mục như một cấu thành hoàn chỉnh Đường lối văn nghệ của Đảng mà tác giả Trường Chinh có trách nhiệm khởi thảo và phát biểu. Bởi từ sau 1968 cho đến khi ông qua đời, năm 1988, những bài nói và viết của Trường Chinh không còn mang tính chất tổng kết và vạch đường lối cho văn nghệ nói chung. Dường như, theo quan điểm của Trường Chinh, và cũng là theo sự tiếp thu của giới lý luận lúc ấy, một tổng kết gồm 8 mục như trong bài phát biểu năm 1968 là đầy đủ và không cần phải nói gì thêm. Một tổng kết như là một sự hoàn thiện cả một quá trình nhận thức, theo đuổi về các vấn đề văn hoá, văn nghệ cách mạng, theo quan điểm của Đảng, có khởi đầu từ Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943, ở một người trong gần nửa thế kỷ có trách nhiệm cao nhất thay mặt Đảng lãnh đạo, chỉ đạo văn học nghệ thuật.

Bộ tuyển của Trường Chinh: Bàn về văn hóa - nghệ thuật gồm 2 tập, Nxb. Văn học ấn hành năm 1986, tập hợp gần như tất cả những bài viết, bài nói quan trọng nhất của tác giả, từ 1938 đến 1984, với rất ít sửa chữa, chứng tỏ tác giả đã rất nhất quán và kiên định với các chủ kiến và ý kiến của mình.

Vậy là, sau 1945, và nhất là sau 1954, rồi 1960, trong hoàn cảnh mới của cách mạng, việc xác định một Cương lĩnh chính trị gồm 3 cuộc cách mạng, trong đó có Cách mạng tư tưởng - văn hóa, và một Đường lối văn nghệ của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để đưa văn nghệ vào quỹ đạo chung của cách mạng. Với đường lối này, lý luận văn học phải bao quát một phạm vi rất rộng các vấn đề, trong đó có vấn đề tự do trong sáng tạo văn học - nghệ thuật, là khu vực trực tiếp nhận sự lãnh đạo của Đảng. Bởi nó gắn với yêu cầu giảng dạy văn học trong nhà trường và yêu cầu trang bị về lập trường, quan điểm cho đội ngũ công tác tuyên huấn và lý luận. Cùng với phê bình, nó phải là "một phương thức chỉ đạo của Đảng trên mặt trận văn nghệ"(3). Không kể nó nhằm phổ cập tri thức cho công chúng đông đảo, một công chúng lúc nào cũng cần được giáo dục, động viên để vươn lên đứng ở tuyến đầu các cao trào cách mạng. Nền lý luận văn học đó, một mặt phải xuất phát từ Chủ nghĩa Mác - Lênin, vốn đã được đúc kết và diễn giải trong các bộ sách giáo khoa về triết học, về mỹ học và lý luận văn học nghệ thuật, bởi các học giả mácxít chủ yếu ở Liên Xô, được dịch sang tiếng Việt; một mặt là Đường lối văn nghệ của Đảng, được xem là sự vận dụng cụ thể và sáng tạo các nguyên lý kinh điển Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam được thể hiện và đúc kết trong các văn kiện của Đảng và các bài nói, bài viết của những người thay mặt Đảng.

Lý luận văn học, trong đó có vấn đề tự do trong sáng tạo văn học - nghệ thuật, được hiểu như thế nên có vai trò rất quan trọng, thậm chí rất thiêng liêng. Là "một phương thức chỉ đạo của Đảng" nên nó không được phép sai. Nhất là sai về đường lối. Nếu đường lối cách mạng là mục tiêu toàn Đảng, toàn dân phải nhất tâm thực hiện, thì đường lối văn nghệ phải là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của các giới văn hóa, văn học - nghệ thuật. Do vậy mà một vi phạm dẫu nhỏ vào những nguyên tắc đó là không được phép. Chẳng hạn, Đảng chủ trương hướng về "cuộc sống mới, con người mới" thì bất kể ai (giới lý luận hoặc sáng tác) không thể đặt vấn đề: "Con người bình thường, cuộc sống bình thường"(4). Cái đời thường mà bây giờ ta quen nói, có một thời dài rất ít được nói, hoặc không được phép nói, mà phải là "đến với những nơi tiên tiến, sống với những con người tiên tiến"... Đảng yêu cầu phản ánh trung thành hiện thực cách mạng thì không thể kêu gọi "phá vỡ lôgích cuộc sống"(5) để xen vào một "lô gích nghệ thuật" viễn vông nào đó. Hiện thực cách mạng là anh hùng và cao đẹp thì không thể nhấn mạnh cái bi, hoặc quá đi sâu vào những hiện tượng phân thân, "đối mặt" ở con người(6)… Và nếu người viết còn đi xa hơn, sa vào lực hút của các trường phái lý luận văn học phương Tây gồm các dạng của Chủ nghĩa Hiện đại, như Suy đồi hoặc Tiền phong, Siêu thực hoặc Tượng trưng, Chủ nghĩa Cấu trúc hoặc Hiện sinh, Phê bình mới hoặc Tiểu thuyết mới; hoặc "ăn phải bả" của Chủ nghĩa Xét lại như bênh vực tính người siêu giai cấp, hoặc chủ trương chung sống hoà bình giữa các chế độ xã hội khác nhau… thì không chỉ tác phẩm mà các tác giả của nó cũng bị liên luỵ, có người phải bị treo bút trong cả một thời gian dài.

Tình thế rồi sẽ thay đổi, từ Đại hội VI của Đảng - tháng 12-1986; với hai khẩu hiệu: "Lấy Dân làm gốc", và "Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật". Đây là một cuộc "Sửa sai" lớn, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, văn học - nghệ thuật; dĩ nhiên yêu cầu tự do sáng tạo soi vào đấy sẽ phải nhận thức lại nhiều điều. "Cởi trói" trở thành một nhu cầu tự thân. Mà nói "cởi trói" tức là nói trước đây đã có nhiều buộc trói. Để có tự do hãy tự cứu mình trước khi Trời cứu (lời Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh). Nhờ vậy yêu cầu tự do và phạm vi tự do mới được nới dần ra, để thoát ra khỏi các trói buộc, gần như lúc nào cũng bị xiết chặt, suốt hơn 30 năm. Một mùa gặt mở ra - mùa "tiền Đổi mới" trong mở đầu thập niên 1980, trổ ra được những khoảng trời, những cánh cửa cho những bức xúc của nhân dân và không khí thời đại tràn vào…

Từ Đổi mới (1986) chuyển sang Hội nhập (1995), cho đến cuối thập niên 1990 trở đi, văn học - nghệ thuật chuyển sang một thời kỳ mới với rất nhiều thay đổi trong đề tài - chủ đề, trong cảm hứng sáng tạo, trong thi pháp - bút pháp, trong cấu trúc nghệ thuật, trong văn bản ngôn từ... Đồng thời là sự nhận thức lại, đánh giá lại diện mạo lịch sử sau hơn một thế kỷ hiện đại hóa: nhiều án oan được giải tỏa; nhiều tên tuổi được khôi phục qua các dịp kỷ niệm nhân vào tuổi "trăm năm"; cùng nhiều giải - như Giải Hồ Chí Minh và Giải Nhà nước được trao hoặc truy tặng cho một số người từng bị tai nạn trước đây. Ít có các "vụ" "việc" xảy ra. Bớt dần, tuy chưa phải đã hết hẳn, những quy chụp nặng nề đối với một số hiện tượng có sự phân rẽ hoặc khác nhau trong dư luận. Tự do sáng tạo vẫn còn những khía cạnh cần bàn, nhưng là bàn trên một bình diện mới. Đó là sự chấp nhận, hoặc tôn trọng mọi tìm tòi để có thể vừa đến được với cái riêng, cái khác - vốn là mục tiêu săn tìm ráo riết của một thế hệ trẻ, kể từ 8X, 9X trở đi - thế hệ không phải sống trong bối cảnh chiến tranh và tình thế bao cấp, vừa vẫn có thể đồng hành cùng nhau trước những mục tiêu chung khi quốc gia "hữu sự" như chủ quyền biển - đảo bị đe dọa, quốc nạn tham nhũng vẫn chưa hoặc rất khó bị đẩy lùi; vừa khẩn trương tham gia hội nhập, nhưng vẫn phải cảnh giác trước nguy cơ đánh mất bản sắc riêng của mình...

2. Đảng và các nghị quyết của Đảng về văn hóa trong quan hệ với kinh tế, chính trị thời đổi mới và hội nhập

Từ Đường lối văn nghệ - 1968 đến một Nghị quyết riêng về văn hóa - Nghị quyết 05 khóa VIII năm 1998 là chẵn 30 năm.

Đó là 30 năm ghi nhận những chuyển động dữ dội trong đời sống dân tộc, qua các sự kiện lớn của lịch sử: Đại thắng mùa Xuân 1975. Đại hội VI - 1986 chính thức đưa đất nước vào kỷ nguyên Đổi mới. Đại hội VII - 1991 và Đại hội VIII - 1996 diễn ra sau sự kiện Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa tan vỡ (1990), Việt Nam thoát khỏi thế cấm vận và gia nhập ASEAN (1995) để mở đầu cho thời hội nhập.

Sau chiến thắng của hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ cùng với cuộc chiến ở hai đầu biên giới và sự tan vỡ tình thế hai phe, những sự kiện lịch sử như trên đã đưa Việt Nam vào một chuyển động chưa từng diễn ra trong lịch sử kể từ mở đầu thập niên 1990. Đó là sự xuất hiện nền kinh tế thị trường trong tư thế chủ động tham gia vào một cuộc hội nhập mới với khu vực, gắn với những tác động rộng lớn và sâu sắc vào mọi mặt sự sống con người của cuộc Toàn cầu hóa lần thứ 3 và Kỷ nguyên thông tin.

Như vậy là phải đến cuộc toàn cầu hóa lần thứ 3 gắn với kỷ nguyên thông tin ta mới có được tư thế chủ động trong các hoạt động có tính nhân loại, để kịp với tiến trình chung; với những Được và Mất có quy mô toàn cầu.

Các yếu tố trên quy định gương mặt dân tộc từ 1995 đến nay - trong độ dài trên 25 năm. Đó là 25 năm dân tộc đứng trước những cơ hội và thử thách gần như chưa có tiền lệ trong lịch sử. Hai mươi lăm năm với những thành tựu lớn và những mất mát lớn - cả hai tôi nghĩ là ngoài sức tưởng tượng. Nhìn vào cái Được trên mọi lĩnh vực: ăn, mặc, ở, đi lại, và các nhu cầu vui chơi - giải trí thì chưa có lúc nào bằng lúc này. Những tiệc nhậu triền miên, bia rượu tràn bờ, đủ sơn hào hải vị, ở một đất nước luôn luôn thiếu đói, sau hai trận đói lớn. Một là trận đói vào đầu năm Ất Dậu (1945) khiến hai triệu người chết. Và hai là cơn đói thời bao cấp kéo dài suốt thập niên 1980 khiến cho cả dân tộc ai cũng mang khuôn mặt của người "mất sổ gạo"... Những kiểu mốt thời trang không lúc nào là đủ cho mọi giới nghề nghiệp, mọi lứa tuổi. Những biệt thự, phủ đệ, nhà nghỉ và khu vui chơi, giải trí có ở khắp nơi. Phương tiện đi lại đắt nhất không thiếu. Những cuộc xem nghệ thuật nhiều triệu đồng thường cháy vé, và những tuor du lịch trong nước và khắp thế giới đều hết chỗ. Tất cả đó là biểu hiện trên bề mặt của sự phát triển kinh tế. Tất nhiên, những hưởng thụ như trên là chỉ dành cho một số người có tiền, có nhiều tiền; còn việc từ đâu mà có tiền như trường hợp của nhiều cán bộ cao cấp cùng nhiều đại gia khác trong bộ máy công quyền và giới doanh nhân đã phải ra hầu tòa và nhận tội thì phải tìm đến nhiều nguồn; và đây lại là câu hỏi cần một chuyên đề khác.

Trở lại câu chuyện Được - Mất. Được là được về kinh tế. Còn mất là mất về văn hóa, đạo đức, tinh thần... Trong rất nhiều cái mất, thì đau đớn nhất, khủng khiếp nhất vẫn là mất về luân lý, đạo đức, lối sống - thuộc khu vực văn hóa, và các mối quan hệ con người trong các cộng đồng, từ gia đình ra xã hội. Gia đình - đơn vị sống cơ bản của con người có nguy cơ tan rã; bởi ở đó, chữ hiếu bị một đòn tử thương, trong những vụ con cháu giết cha mẹ, ông bà. Còn xã hội là tình trạng bất an, do sự tràn lấn của cái ác, và cái giả. Cái ác thì thiên hình vạn trạng, trên mọi lĩnh vực, còn cái giả thì chỉ cần tiếp xúc với thực phẩm giả, phân bón giả, thuốc giả và bằng cấp giả - đủ thấy sự sống con người đang bị dồn đến chân tường như thế nào. Đó là những hiện tượng gắn trực tiếp với sự suy thoái đạo đức trong xã hội, đưa đến sự bất an, thậm chí làm rã rời các cộng đồng người trong dân tộc.

Tất nhiên, thực trạng vẫn là sự xen cài giữa thiện - ác, tốt - xấu, thực - giả. Nhưng những mặt tích cực lắm khi gần như bị chèn lấn, khuất lấp, bên cái tiêu cực gần như lộ diện ở khắp nơi, gồm cả đời sống công quyền, từ thấp lên cao; kể cả những khu vực lẽ ra là rất thiêng liêng, rất cao quý.

Tìm căn nguyên sâu xa cho những được - mất kể trên, đó là sự mất cân đối giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa; và suy cho cùng đó là sự coi nhẹ văn hóa, tức là sự coi nhẹ việc xây dựng Con người, bởi văn hóa - thực chất và cuối cùng là gắn với Con người. Và nói Con người, lại không thể bỏ qua khu vực giáo dục, từ nhiều chục năm qua đang trong một cơn suy thoái trầm trọng, bởi sự rời bỏ mục tiêu giáo dục làm người, dẫu những cấp báo về nó đã có từ rất sớm. Điều đó có nghĩa là 25 năm qua ta đã thiếu một cái nhìn xa về Con người, thiếu những chuẩn bị về Con người, cho một chuyển động, không chỉ là dữ dội mà còn là chưa có tiền lệ trong lịch sử dân tộc. Có nghĩa là ta đã vào cuộc với nhiều bỡ ngỡ và hăm hở, mà thiếu sót lớn là thiếu sự trang bị cho Con người - do vậy mà đến 1998 Đảng phải có một Nghị quyết riêng - Nghị quyết 05 - khóa VIII về vai trò và nhiệm vụ của văn hóa để xây dựng Con người. Ở Nghị quyết đó ta được thấy vai trò đặc biệt của văn hóa để chống đỡ với những tác động và tác hại của hội nhập và kinh tế thị trường; ở đó, đã cho thấy một công việc cấp bách là phải giữ gìn bản sắc riêng và truyền thống văn hóa dân tộc như một tễ thuốc kháng sinh, một vũ khí để tự vệ; để không tự đánh mất mình…

Một Nghị quyết đề cập toàn diện các phương diện của văn hóa, trong tương quan với đời sống chính trị - kinh tế - xã hội; với 5 quan điểm chỉ đạo:

"1. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

2. Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

3. Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

4. Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.

5. Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng."

So với 3 phương châm và cũng là 3 mục tiêu của hoạt động văn hóa trong Đề cương năm 1943; so với 3 cuộc cách mạng trong Cương lĩnh chính trị của Đảng ở Đại hội III - năm 1960; và 8 quan điểm cơ bản trong Đường lối văn nghệ của Đảng - năm 1968, thì Nghị quyết 05 - khóa VIII - 1998 là một phát triển vừa trên sự mở rộng, vừa là đào sâu vào những yêu cầu cốt lõi của văn hóa trong tương quan với những chuyển biến mới của dân tộc và thời đại.

Rõ ràng nói đến việc chuẩn bị về Con người ở Việt Nam ta thì, để đối phó với ngoại xâm, tình yêu nước, sẵn sàng hy sinh cho đất nước là một kho dồi dào, bất cứ lúc nào, bất cứ kẻ thù nào ta cũng đều có thể huy động. Nhưng để xây dựng và phát triển đất nước, trong thời bình; và nhất là trong bối cảnh một thế giới thay đổi trong gia tốc lịch sử lớn thì Con người Việt nói chung còn chưa đủ phẩm chất để đáp ứng bởi cái gốc nông dân, và căn rễ tiểu nông gắn quá sâu vào mọi lớp người, rất hiếm có ai là ngoại lệ. Những cái mất về văn hóa, về đạo đức, lối sống diễn ra có lúc gần như phủ khắp các tầng lớp cư dân, gồm cả bộ máy công quyền từ thấp lên cao đủ minh chứng cho điều đó. Có nghĩa là để giải quyết sự thiếu thốn văn minh, yếu kém văn hóa này rất cần trở lại sự thức nhận vai trò của văn hóa, xem văn hóa như một nền tảng tinh thần, một sức mạnh nội sinh của sự phát triển; và, cùng với văn hóa là giáo dục; phải thực sự xem giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhận thức đó, tiếp tục được thể hiện trong Nghị quyết 09 - khóa XI của Đảng, 16 năm sau, năm 2014, có tên: Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Tôi chú ý ở đây, trong Nghị quyết này có sự gắn nối Văn hóa với Con người. Và cũng ở Nghị quyết này, lần đầu tiên, sau 71 năm, kể từ Đề cương văn hóa - 1943, có thêm sự khẳng định: "Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội".

Vậy là, sau hơn 70 năm, trật tự và vị trí của Văn hóa đã được sắp xếp lại, để có được một tầm cao hơn, trong ngang bằng với Kinh tế và Chính trị. Hy vọng nhận thức này sớm được chứng nghiệm, bởi thực tiễn hôm nay sau 5 năm thực hiện Nghị quyết vẫn còn rất nhiều âu lo, rất lắm buồn phiền. Đầu tư cho văn hóa có thể bỏ ra nhiều chục nghìn tỷ để xây dựng cơ sở vật chất như quảng trường, rạp hát, khu lưu niệm, bảo tàng, trung tâm hành chính... trong khi nghệ nhân mòn mắt chờ trợ cấp vài triệu, các vở diễn không đủ tiền để dựng... Kinh phí cho giáo dục có thể phóng lên vài chục nghìn tỷ riêng cho việc viết sách giáo khoa, còn hàng triệu thầy, cô thì khó sống với đồng lương, học trò vùng sâu vùng xa thì cơm ăn không đủ. Chính những khu vực lẽ ra gắn với Con người nhất lại rất vô tâm với Con người. May mà một vài dự án như vậy đã phải dừng lại.

3. Vài suy nghĩ về mục tiêu và thực trạng

Giờ đây sau ngót 35 năm Đổi mới, trong đó có 20 năm hội nhập, để hướng tới một phát triển bền vững cho đất nước, nhìn từ văn hóa, đúc kết từ một lịch sử văn hóa như trên, tôi muốn tìm đến ba khu vực.

1. Một nền chính trị sáng suốt, có tầm cao về trí tuệ, có bề dày về văn hóa, hợp ý dân, được lòng dân - chịu được thử thách: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".

2. Một nền giáo dục được cải tạo và đổi mới triệt để, trên tất cả các cấp, các khâu. Ở khu vực giáo dục này, như nhiều năm nay đã làm, tôi thấy rất cần không chỉ một, mà nhiều Hội nghị Diên Hồng để tập hợp được trí tuệ của toàn dân. Bởi giáo dục là câu chuyện của nhiều năm, nhiều chục năm, chứ không phải một, vài năm, nó gắn bó và quyết định tương lai của dân tộc. Bởi giáo dục là câu chuyện có tác động xã hội rộng lớn phủ khắp nhiều chục triệu thanh, thiếu nhi ở học đường, và cũng chừng ấy các bậc bố mẹ, ông bà mất ăn, mất ngủ vì con cháu.

3. Một môi trường sống trong sạch, lành mạnh - không chỉ là sự giảm thiểu ô nhiễm từ các nguồn nước, không khí do rác thải và khí độc bao vây khắp chốn; mà nghiêm trọng hơn - là sự ô nhiễm về tinh thần bởi sự tràn lấn của cái ác, cái xấu, cái giả trong sinh hoạt thường nhật của con người; và sự lỏng lẻo, rời rã của các quan hệ xã hội.

Trong Nghị quyết mới của Đảng năm 2014 có việc đặt ngang nhau ba phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa; trên tinh thần khẳng định mạnh mẽ hơn nữa vai trò của văn hóa; nhưng xét đến cùng vẫn phải thấy mọi khởi đầu phải bắt đầu từ chính trị. Cần một nền chính trị anh minh và một bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh để giải quyết hài hòa hai phương diện sống cơ bản của con người là vật chất và tinh thần, là kinh tế và văn hóa, là sống cho sướng hơn và sống cho tốt hơn.

Cuối cùng tôi nghĩ là cần thiết, từ góc nhìn văn hóa để xác định những gương mặt đang và sẽ là chủ thể của tương lai. Nếu trong cách mạng và chiến tranh kéo dài hơn 40 năm, con người phải được trang bị bằng ý chí quyết chiến, quyết thắng trước mọi loại kẻ thù, với nhân vật trung tâm là công - nông - binh, là giai cấp công nhân và đội ngũ tiên phong của mình; thì trong thời bình và hội nhập, phẩm chất cơ bản của con người phải là hàm lượng trí tuệ và năng suất lao động, với nhân vật trung tâm - theo tôi, đó là lực lượng trẻtầng lớp trí thức và giới doanh nhân.

Từ những chuyển đổi làm nên gương mặt thời hôm nay, cần hướng tới một nhận thức mới về việc xây dựng con người - sao cho thích ứng và đáp ứng được yêu cầu của dân tộc đang trong một cuộc hội nhập lớn với khu vực và thế giới. Một thời đại như thế, ai là người có thể tiếp nhận, tiếp cận và làm chủ nó? Tất nhiên trước hết phải là những người trẻ tuổi chiếm tỷ lệ 40% dân số; với sức năng động, dám nghĩ, dám thử, dám làm nhờ vào những trang bị tốt trong khả năng am hiểu, nắm vững, và làm chủ các phương tiện thông tin; có tri thức phong phú, đầy đủ trên các lĩnh vực mũi nhọn; và rất chuyên nghiệp trên nghề nghiệp được chọn.

Phải xây dựng con người trên các yêu cầu mới của kỷ nguyên thông tin; và tin tưởng ở họ.

Nhìn lại lịch sử dân tộc Việt, đây chính là thế hệ từng làm nên các bước ngoặt trong các thời kỳ chuyển đổi của nó.

Để có được một lớp tuổi trẻ như vậy cần biết bao điều kiện. Họ cần được hưởng một nền giáo dục chu đáo, với những tri thức được trang bị đầy đủ, mà không nhồi nhét, đạt tầm khu vực và quốc tế. Được hưởng một bầu không khí trong lành từ gia đình ra mọi môi trường xã hội. Được hưởng sự thân thiện của bộ máy chính quyền từ thấp lên cao...

Sẽ rất khó khăn cho việc xuất hiện một đội ngũ trẻ như thế, nếu thiếu một hoặc tất cả những điều kiện ấy. Nếu xã hội, nếu bộ máy quản lý và thể chế chính trị không lo được, thì mỗi người, mỗi gia đình phải tự lo, bằng các cách chạy, từ chạy trường, chạy lớp, chạy xin việc cho đến chạy học bổng, chạy dự án để đi nước ngoài... Đó là tình hình đã diễn ra khá lâu, và chưa có dấu hiệu gì kết thúc.

Gương mặt thứ hai - rất cần được chăm nom, xây dựng để có được hình mẫu cho nó - đó là giới trí thức thuộc các lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn. Đây là yêu cầu đang thực sự nổi lên khi chúng ta đang nỗ lực xây dựng một xã hội học tập và một nền kinh tế trí thức; khi văn hoá đang trở thành "nền tảng tinh thần", "sức mạnh nội sinh" cho sự phát triển; khi sự phát triển về mọi phương diện của dân tộc phải dựa trên nền tảng văn hoá mới có thể giữ được cho dân tộc có gương mặt riêng, và bảo đảm được sự cân đối và bền vững mà không sa vào so lệch, khủng hoảng và suy thoái.

Gương mặt thứ ba là các doanh nhân trên mọi lĩnh vực sản xuất, lưu thông, lực lượng chủ chốt tạo nên sự phát triển, tăng trưởng của kinh tế - xã hội trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Đây là gương mặt mới, rất mới trong xã hội ta, sau một thời dài nhoà mờ, chìm nổi, bị phê phán hoặc kỳ thị, thậm chí là đối tượng số 1 của chuyên chính vô sản, qua các cuộc cải tạo giai cấp hữu sản và các cuộc đấu tranh tư tưởng.

Phải chờ cho đến bây giờ, khi đất nước bước vào hội nhập, thì gương mặt các giới doanh nhân mới có được vai trò quan trọng của nó cho nền kinh tế, và trở thành biểu tượng của cái mới, rất đáng tôn vinh qua hệ thống truyền thông.

Thời hiện đại do giai cấp tư sản tạo lập đã có lịch sử trên dưới năm thế kỷ ở phương Tây. Từ thời tích lũy nguyên thủy tư bản đến nay, cả thế giới cùng với gương mặt riêng của giai cấp tư sản đã chứng kiến những thay đổi khó có đầu óc giàu tưởng tượng nào mà hình dung nổi. Vị tỷ phú giàu nhất thế giới bây giờ là Bill Gäte có tài sản trên dưới 100 tỷ đô la, số lớn dùng làm việc thiện. Đánh giá công và tội của giai cấp tư sản là câu chuyện đã diễn ra cùng với lịch sử của nó. Nhưng lại có vấn đề vượt ra ngoài công và tội của một giai cấp, đó là vấn đề khẳng định sự phát triển chung của nhân quần và xã hội, từ thấp lên cao mà con người có thể rút ngắn, chứ không thể "bỏ qua" hoặc "đốt cháy" một cách tùy tiện, dễ dàng. Ý kiến sau đây của K. Marx rất đáng cho ta suy nghĩ: "Giai cấp tư sản không thể tồn tại nếu không luôn luôn cách mạng hóa phương tiện sản xuất, do đó cách mạng hóa những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hóa mọi quan hệ xã hội. Trái lại, đối với tất cả các giai cấp công nghiệp trước kia thì việc duy trì nguyên vẹn phương thức sản xuất cũ là điều kiện cho sự tồn tại của mình"(7).

Giờ đây, khi dấn sâu vào thế kỷ XXI, với hành trang tinh thần là chủ nghĩa yêu nước và khát vọng canh tân, chúng ta còn phải vượt rất nhiều rào cản và thử thách, trong đó thử thách lớn nhất là việc xây dựng và bồi đắp một bản lĩnh, một nền tảng văn hóa làm nên cái vốn Người (với ba thành phần cơ bản như trên); bởi chỉ với cái vốn Người chúng ta mới có thể chủ động trong hội nhập để đến với mục tiêu không chỉ của một thời, mà là cho muôn đời con cháu: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

 

Chú thích

(1). Các trích dẫn Đề cương... trong bài này, rút ở văn bản Đề cương về văn hóa Việt Nam, đăng trên Tiên phong số 1 (được xem là tái bản), ra ngày 10-11-1945.

(2). Sách Bàn về văn hóa, nghệ thuật; Tập II; Nxb. Văn học; 1986.

(3). Về phê bình văn học; Tạp chí Văn học số 11-1969.

(4). Tên một bài báo của Hoàng Trinh trên Tạp chí Văn học - 1965.

(5). Tên một bài báo của Mai Thúc Luân trên báo Văn hóa - 1963.

(6). Tên một vở kịch của Nguyễn Khải đăng trên Tác phẩm mới - 1974.

(7). Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản; Nxb. Sự thật; H; 1963; tr.26.

 

PGS.TS Nguyễn Đức Chiện

Đặt vấn đề

Nhiều công trình nghiên cứu trước về làng Việt truyền thống đã chỉ ra đặc trưng cơ bản của làng là một đơn vị kinh tế khép kín, chính trị mang tính tự trị - tự quản, văn hóa thể hiện tính cộng đồng (Nguyễn Văn Huyên, 1939; Trần Từ, 1984; Trần Ngọc Thêm, 1999; Ngô Đức Thịnh, 2001; Phan Ngọc, 2004). Có thể nói, tính cộng đồng là một giá trị văn hóa cốt lõi, quan trọng tạo nên bản sắc cộng đồng làng Việt ở miền Bắc. Khi đề cập đến tính cộng đồng trong văn hóa làng, các học giả nghiên cứu văn hóa thường trình bày với một nội dung khá rộng, bao gồm nhiều khía cạnh sinh hoạt khác nhau của đời sống, từ quan hệ trong gia đình, họ tộc, cho đến các mối quan hệ ngoài xóm làng như sự kiện lễ hội. Trong các mối quan hệ xã hội này, cá nhân, nhóm đã tham gia và ứng xử trong các sinh hoạt ở cộng đồng làng xã. Tìm hiểu về bản sắc làng Việt, nhất là đối với các làng Việt cổ truyền, chúng tôi nhận thấy, tính cộng đồng chính là giá trị văn hóa cốt lõi giữ vai trò quan trọng trong các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Nghiên cứu này chỉ tập trung tìm hiểu tính cộng đồng của văn hóa làng Việt qua hoạt động lễ hội truyền thống ở làng. 

Thực tế, trong xã hội của làng Việt trước đây đã tồn tại vô số các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Người ta gọi các lễ hội là các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng là có cơ sở khách quan của nó. Trong xã hội nông nghiệp cổ truyền ở Việt Nam trước đây, các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng vốn mang nhiều chức năng quan trọng, sự ghi ơn các tiền nhân có nhiều công đức; kỷ niệm và nhắc nhở về sự thay đổi thời tiết theo nông lịch; rồi vô vàn các nhu cầu khác nữa như cầu tài, cầu lộc, cầu an, v.v… Có thể nói, hình thức sinh hoạt văn hóa đó đều nhằm đề cao một hoặc một số giá trị xã hội và nhân sinh nào đó, song nhìn chung thì hướng tới việc tái khẳng định và thắt chặt hơn nữa các mối quan hệ cộng đồng của các thành viên tham dự.

Nhà nghiên cứu Đoàn Văn Chúc, khi bàn về chức năng của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng mà ông gọi là các lễ - tết - hội, đã viết: "Một ngày giỗ tổ họ (nhóm họ tộc) hoặc giỗ gia tiên (nhóm gia đình), các thành viên của nhóm hội tụ, biểu hiện giá trị của đối tượng bằng sự cử lễ, ấy là trong cùng một lúc họ biểu hiện giá trị của cái nhóm mà họ sở thuộc và là phần tử cấu thành. Do đó, sức cố kết xã hội được tái xác định, những rạn nứt, đố kỵ có khi cả những hận thù, diễn ra trong quan hệ hàng ngày được lắng dịu một phần, cũng có khi được xóa bỏ. Cũng là như thế về căn bản đối với các lễ kỷ niệm: khao vọng, ngày sinh, lễ tang, lễ cưới, lễ tiễn đưa, v.v… Ở đây, đằng sau và bên trong cái linh thiêng, huyền bí vốn bao phủ mọi lễ hội trong xã hội nông nghiệp cổ truyền, người ta thấy lễ hội có tính cứu cánh trần tục của nó. Bởi thế, người ta đã có thể qui cho các cuộc lễ chức năng xã hội đầu tiên là: Biểu hiện các giá trị xã hội của một cộng đồng và tái xác định những mối liên hệ đã gắn bó các nhóm lại với nhau" (Đoàn Văn Chúc, 1997:133).

Nói về các hình thức sinh hoạt văn hóa này, các nhà nghiên cứu thường phân chia thành hai phần: lễ và hội. Lễ là việc cúng tế, cúng bái các đối tượng được cử lễ với các nghi thức đã được định sẵn từ trước, còn hội là việc vui vẻ gặp nhau sau một thời gian xa cách (Nguyễn Lân, 2002:325 và 404). Đánh giá tác động của hai phần lễ và hội đối với việc nuôi dưỡng, củng cố các mối quan hệ cộng đồng, Đoàn Văn Chúc cho rằng nếu chỉ có những nghi thức lễ thuần túy (như tế lễ, cầu xin…), thì sự biểu hiện giá trị của đối tượng nhận lễ chỉ dừng lại ở hiệu quả ý tưởng tính, không hiện thực. Nhưng nhờ có phần hội, mà cụ thể là nhờ có những cuộc ăn uống, vui chơi của các thành viên trong tình thân thiện mênh mông, chan hòa mà sự "tái xác định lực cố kết trong lòng nhóm" mới trở thành toàn vẹn, hiện thực. Ông còn nói, cứ như thế, hàng tháng hay hàng năm (các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng) lặp đi lặp lại không mệt mỏi, làm cho đời sống của cư dân trong xã hội nông nghiệp, vốn đầy những nhí nhách và khó khăn gặm nhấm, mới trở thành bình thường, khả thể (Đoàn Văn Chúc, 1997: 133-134).

Đặt vấn đề trên bình diện hình thái kinh tế - xã hội, có thể nói, nếu như các nền tảng thuộc hạ tầng cơ sở như chế độ ruộng công, nghề trồng lúa nước hay các phương thức tổ chức và quản lý đã góp phần làm hình thành nên tính cộng đồng của làng Việt, thì việc thường xuyên củng cố và tái chuẩn nhận thuộc tính chung ấy lại là các nhân tố thuộc thượng tầng kiến trúc, mà tiêu biểu ở đây là các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

Giống như trong hoạt động kinh tế, trong tổ chức và liên kết xã hội, các dạng thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng ở làng Việt cũng luôn biến đổi và có những bước thăng trầm của chúng. Nếu như trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, các hoạt động này không chỉ diễn ra thường xuyên mà các nghi thức, thủ tục của chúng cũng rất phiền hà và tốn kém, thì từ sau năm 1945, nhất là ở thời kỳ hợp tác xã bao cấp, một số hình thức bị loại bỏ, số còn lại cũng được thu gọn và đơn giản hóa đi rất nhiều. Nhưng từ ngày Đổi mới (1986), các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng cổ truyền lại đang được phục hồi mạnh mẽ và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế - xã hội nơi làng xã.

Một điều cần nhấn mạnh ở đây là, bên cạnh sự nghiệp Đổi mới mà nội dung cơ bản là việc thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế thị trường, thì sự phục hưng các hình thức sinh hoạt văn hóa cổ truyền còn chịu thêm một lực tác động nữa - đó là tiến trình toàn cầu hóa. Vậy, trong bối cảnh của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay, giá trị văn hóa cộng đồng ở làng Việt đang diễn ra như thế nào? Chúng có tiếp thu thêm những yếu tố mới mà toàn cầu hóa mang lại hay không? Nếu có thì điều đó có ảnh hưởng gì đến các mối quan hệ cộng đồng và bản sắc làng Việt?

Động thái của tính cộng đồng trong sinh hoạt lễ hội ở làng Việt trong bối cảnh đổi mới và toàn cầu hóa

Vào bất cứ một làng Việt cổ truyền nào ở miền Bắc, chúng ta đều có thể bắt gặp mái đình, ngôi chùa, tiếp nữa là nghè, đền, am, miếu, rồi nhà từ đường/nhà thờ họ, cây hương, văn chỉ, v.v… Mỗi thiết chế văn hóa tâm linh ấy đều có các hình thức cúng lễ hoặc hội hè riêng với mục đích tăng cường sự thống nhất của các thành viên trong nhóm và cộng đồng làng. Tiêu biểu nhất cho các hình thức sinh hoạt văn hóa cổ truyền ấy là lễ hội đình để cúng tế thành hoàng, vị thần bảo trợ của làng.

Sự biến đổi về nghi thức trong lễ hội làng qua các giai đoạn lịch sử khác nhau

Đối với người Việt, nhất là cư dân ở nông thôn trong các làng ở miền Bắc, lễ hội làng là điều không thể thiếu trong đời sống tâm linh của họ. Ngày vào đám hay vào hội, ngoài các dòng họ, các phe giáp, thì hầu như nhà nào cũng làm cỗ, trước là tế lễ để tỏ lòng thành kính đối với vị thành hoàng, sau là họp mặt cháu con để ăn uống. Nói về lễ hội làng, ông Nguyễn Văn Huyên, trong công trình Văn minh Việt Nam, đã viết: "Sự thờ cúng đã được lưu truyền từ nhiều thế kỷ (…). Những sức sống đó góp phần tạo cho việc thờ cúng này cái khung cốt vững chắc hơn khung cốt của một tôn giáo bình thường. Tục thờ thành hoàng đã trở thành một lực cố kết, trong tổ chức của làng xã, hệ trọng và vững vàng đến nỗi nó có thể chống chọi thắng lợi với mọi toan tính qui định của Nhà nước" (Nguyễn Văn Huyên, 2005:161). Và, cứ lặp đi lặp lại như thế hàng năm, các lễ hội làng đã góp phần củng cố và tái chuẩn nhận tính cộng đồng của người Việt nơi làng xã.

Nhưng lễ hội làng cũng đã trải qua những bước thăng trầm không tránh khỏi. Kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhất là trong thời kỳ hợp tác xã bao cấp, các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng cổ truyền, trong đó có lễ hội làng, cứ mỗi ngày lại thưa vắng dần trong các hoạt động văn hóa mang tính cộng đồng của làng Việt. Một phần, đó là do sự tàn phá của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Song, mặt khác cũng là do quan niệm tả khuynh, ấu trĩ của một thời đã qua. Lúc bấy giờ người ta cho rằng tất cả những di tích lịch sử như đình chùa, đền, miếu, nhà từ đường, cũng như các lễ nghi thờ cúng, lễ hội, hay việc giỗ tổ họ, v.v… đều là những tàn dư của xã hội thực dân và phong kiến, vì vậy, cần phải xóa bỏ.

Theo các thông tin phỏng vấn sâu hồi cố trong một nghiên cứu của (Trần Nhật Hoàng, 2017) tại một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng sông Hồng cho thấy thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám ở Liên Đàm có ngôi đền rất lớn, nổi tiếng trong vùng xứ Kinh Bắc, trong ngôi đình chùa này có nhiều tượng phật quý hiếm. Tuy nhiên, những di tích quan trọng này đã bị người dân và chính quyền bỏ đi vào những năm tiến hành cải cách ruộng đất. Cũng theo thông tin phỏng vấn sâu một người dân trong làng Liên Đàm cho biết, "năm 1947 ngôi Đền bị phá, năm 1971 phá chùa, phá đình, cũng trong thời gian này v.v...". Cũng trong hoàn cảnh tương tự như Liên Đàm, Quỳnh Đôi là một làng Việt ở Bắc Trung bộ có lịch sử lâu đời, theo nhiều tài liệu nghiên cứu cho biết làng Quỳnh Đôi có lịch sử hơn 600 năm, nhiều di tích lịch sử như đình, chùa, đền, miếu, nhà từ đường đã được người dân dựng lên để trở thành nơi sinh hoạt của cộng đồng. Trong số các di tích còn lại và đang được khôi phục hiện nay là đình, đền, miếu và từ đường. Mặc dù, các di tích này có từ lâu nhưng nó cũng bị lãng quên trong nhiều thập kỷ qua và hiện nay đang từng bước được khôi phục trở lại (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013).

Tuy nhiên, từ ngày Đổi mới (1986), nhất là từ sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (thường gọi là khoán 10), với việc công nhận hộ gia đình nông dân là đơn vị tự chủ trong sản xuất, kinh doanh và giao khoán ruộng đất lâu dài cho họ thì tình hình đã thay đổi rất căn bản. Đầu những năm 1990, trong một công trình nghiên cứu về cải cách kinh tế và tăng cường lễ nghi ở hai làng Sơn Dương và Hoài Thị ở đồng bằng và trung du Bắc bộ, nhà nhân học Lương Văn Hy đã rút ra những nhận xét rất sâu sắc. Ông viết: "Tôi cho rằng ở cả Sơn Dương và Hoài Thị trong những năm 80, cải cách kinh tế đã có hai ảnh hưởng quan trọng đến tập tục lễ nghi của hai địa phương trên. Trước hết, thặng dư kinh tế ngày càng tăng và sự chuyển dịch khỏi nông nghiệp tập thể hóa tiến đến sản xuất hộ gia đình trong một nền kinh tế nhiều thành phần đã tăng cường mạnh mẽ các lễ nghi bên trong cũng như bên ngoài dòng họ. Lễ nghi và hệ thống tiệc tùng qua lại đã tăng cường quan hệ xã hội trong một cộng đồng nông nghiệp luôn bị những đe dọa tự nhiên đối với cuộc sống và càng ít có trợ giúp của nhà nước" (Lương Văn Hy, 1994: 437-438). Cho đến những năm 2000, nhà nghiên cứu văn hóa học Lê Hồng Lý, trong khi nghiên cứu về làng Cổ Mễ (thuộc Bắc Ninh) và tín ngưỡng bà Chúa Kho, cũng cho rằng khi kinh tế trở nên ổn định và ngày càng giàu có hơn, người dân đã tích cực phục hồi lễ nghi, lễ hội, các di tích, cũng như các sinh hoạt văn hóa cộng đồng nói chung (Dẫn theo Nguyễn Thị Phương Châm, 2010: 493).

Cũng như vậy, từ ngày Đổi mới (1986) đến nay, các bằng chứng của hai cuộc nghiên cứu cho thấy ở Liên Đàm và Quỳnh Đôi đã và đang có sự phục hưng các tập tục và lễ nghi cổ truyền một cách rất mạnh mẽ. Trong gia đình, nhà nào cũng có bàn thờ gia tiên, ngoài ngày giỗ gia tiên thì các ngày sóc (mồng một), ngày vọng (rằm) đều khói hương nghi ngút. Trong các dòng họ, người ta xây lại mộ tổ, trùng tu hay xây mới các từ đường, lập lại gia phả và chắp nối lại các quan hệ dòng họ đã phiêu tán nhiều nơi. Thực tế này được phản ánh rất rõ trong các phỏng vấn sâu người dân ở hai làng,  "Họ tộc Nguyễn Thời là một dòng họ lớn không chỉ trong làng mà còn được xem là một dòng họ lớn ở xứ Kinh Bắc này. Nếu tính đến nay dòng họ này đã có lịch sử khoảng hơn 600 năm. Dòng họ có từ đường, văn bia, hoành phi câu đối, tộc phả, và nhiều hiện vật cổ kinh có giá trị. Sau nhiều thập kỷ nhà thờ bị bỏ hoang đã được khôi phục gần đây" (Nam, 61 tuổi, làng Liên Đàm, Yên Thường, Gia lâm, Hà Nội).

Ra đến làng xã, một sự kiện đáng quan tâm nữa là việc tu bổ, xây mới các đình chùa, đền miếu, sưu tầm và dịch lại các thần tích, thần phả, sắc phong, v.v…

Khi tiến hành tìm hiểu riêng về ngôi chùa và lễ hội của hai làng khảo sát cho thấy ở Liên Đàm và Quỳnh Đôi mặc dù cùng trong hoàn cảnh bị lãng quên nhiều thập kỷ nhưng mức độ và thời điểm khôi phục diễn ra khác nhau. Ở Liên Đàm, các cơ sở vật chất của đình chùa, đến, miếu đã bị phá bỏ đi hoàn toàn. Thông tin phỏng vấn sâu một nam giới cao niên đã tham gia làm cán bộ trong làng nhiều năm cho biết: vào năm 1995, địa phương xây dựng nhà văn hóa, và cũng năm đó chính quyền và người dân bắt đầu khôi phục lại lễ hội truyền thống của làng. Ngày lễ hội truyền thống của làng hiện nay được tổ chức vào dịp đầu năm (trong hai ngày 19 và 20 tháng 3 âm lịch). Mặc dù lễ hội làng được khôi phục trước đó một thập kỷ, nhưng phải đến năm 2006 - 2007, bằng nguồn kinh phí địa phương và đóng góp của người dân trong làng, Liên Đàm mới có điều kiện khôi phục lại ngôi chùa. Ngôi chùa được dựng lại thì một không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng cũng được tái tổ chức trở lại. Hiện nay, trong chùa có một thầy chủ trì, trông coi, làng cũng thành lập ra ban chấp hành chùa gồm 5 ông bà trong ban chấp hành hội người cao tuổi; ban khánh tiết gồm có 8 phụ nữ trong hội người cao tuổi có trách nhiệm tham gia quét dọn và tổ chức các nghi lễ ngày lễ tết, ngày rằm, mồng một. Nghiên cứu ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An cũng cho thấy ngôi chùa đã bị phá hủy và đến nay vẫn chưa được khôi phục, tuy nhiên, đình làng vẫn còn giữ nguyên hình dáng và hàng năm được sửa chữa, từ năm 2012 được sự hỗ trợ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, địa phương đã khôi phục lại lễ hội truyền thống Kỳ Phúc. Nghiên cứu cho thấy một điều đáng quan tâm là khi những cơ sở đình, chùa được sửa chữa khôi phục thì các sinh hoạt mang tính văn hóa cộng đồng cũng được tái hồi sinh tạo làm cho sự kết dính trong cộng đồng phát triển trở lại.

Mối liên kết cộng đồng trong sự kiện lễ hội làng Việt

Nhìn chung, kết quả khảo sát thực địa tại hai làng cho thấy tâm trạng người dân rất ủng hộ việc trùng tu di tích và khôi phục lễ hội truyền thống của làng. Mỗi dịp làng tổ chức các sự kiện liên quan đến các hoạt động này thì người dân rất quan tâm. Chẳng hạn, tổ chức lễ hội, người dân đã tham gia vào tất cả các hình thức tham gia như: đóng góp tiền, cung tiến hiện vật, đóng góp công sức lao động, tham gia tổ chức rước lễ, v.v… Khi xử lý số liệu khảo sát cho thấy người dân tại hai làng cho biết đều tham gia vào tất cả các hoạt động của lễ hội, trong đó nhiều người tham gia vào nhiều hoạt động của lễ hội. Hoạt động tham gia đóng góp tiền chiếm tỷ lệ cao nhất 78%, tham gia rước lễ 27%, tham gia đóng góp công sức 12,3%, ý kiến, cung tiến hiện vật 8,4% (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013). Như vậy, kết quả cho thấy người dân ở hai làng đều tham gia vào hoạt động của lễ hội. Tuy nhiên, lựa chọn tham gia vào các hoạt động trong lễ hội là khác nhau. Sự tham gia này của cá nhân bị quy định bởi những điều kiện, hoàn cảnh cũng như sở thích cá nhân. Điều quan trọng là những con số về sự tham gia lễ hội của người dân ở hai làng phần nào cho chúng ta thấy lễ hội vẫn là sự kiện gắn kết các cá nhân trong làng.

Kết quả khảo sát cũng cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa người dân hai làng trong việc tham gia vào các hoạt động lễ hội. Chẳng hạn, hình thức tham gia đóng góp tiền khi làng tổ chức lễ hội, trong khi có đến 95,4% người trong mẫu khảo sát ở Liên Đàm cho biết có đóng góp tiền khi làng tổ chức lễ hội, thì tỷ lệ này ở Quỳnh Đôi là 4,6%. Tương tự ở hình thức cung tiến hiện vật và đóng góp công sức khi làng tổ chức lễ hội, Liên Đàm đều có số lượng người tham gia đông hơn (Cung tiến hiện vật, có đến 90,5% người trong mẫu ở Liên Đàm tham gia cung tiến hiện vật, trong khi tỷ lệ này ở Quỳnh Đôi là 9,5%. Về hoạt động đóng góp công sức, trong khi có đến 66,3% người ở Liên Đàm cho biết đã tham gia đóng góp công sức khi làng tổ chức lễ hội, thì tỷ lệ này ở Quỳnh đôi là 33,7%). Tuy nhiên, ở hình thức chỉ tham gia rước lễ và hình thức chỉ đi dự lễ hội thì Quỳnh Đôi lại có tỷ lệ cao hơn. Chẳng hạn, ở hình thức chỉ tham gia rước lễ, trong khi có đến 72,8% những người trong mẫu khảo sát ở Quỳnh Đôi cho biết chỉ tham gia rước lễ khi làng tổ chức lễ hội, thì tỷ lệ này ở Liên Đàm là 27,2% (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013). Các số liệu vừa phân tích cho thấy cách ứng xử của người dân hai làng là rất khác nhau. Người dân ở Liên Đàm có xu hướng đóng góp những giá trị vật chất, kinh tế mỗi khi làng mở hội, trong khi người dân Quỳnh Đôi lại hướng đến lễ hội với việc đóng góp những giá trị công sức.

Khảo sát cũng cho thấy một biểu hiện mới trong lễ hội hiện nay là dấu hiệu của tính thương mại hóa trong lễ hội, người dân phải tham gia đóng góp về tài chính, kinh tế cho tổ chức lễ hội, điều này được thể hiện khá rõ trong việc tổ chức lễ hội hàng năm ở Liên Đàm. Kết quả phỏng vấn sâu hồi cố cho thấy, xưa kia, việc tham gia lễ hội của làng là một sự kiện quan trọng hàng năm của mỗi người. Vào những ngày lễ hội, không chỉ những người có chức trách đứng ra tổ chức mà tất cả các thành viên của làng không phân biệt già, trẻ, gái trai, giàu nghèo, không chỉ những người đang sống trong làng mà cả những người đi làm ăn xa - tất cả đều mong muốn được tham dự. Tuy nhiên, hiện nay, bên cạnh sự náo nức muốn tham dự lễ hội làng, thì ở nhiều nơi, người ta nâng khoản đóng góp cho lễ hội làng khá nặng, làm cho không ít người phải lo ngại. Để hiểu được tình cảm thực sự của người dân trong tham gia lễ hội làng ở Liên Đàm và Quỳnh Đôi, chúng tôi đã phỏng vấn sâu ý kiến người dân: "Hiện nay, nếu tổ chức lễ hội phải có tiền, mỗi khi địa phương tổ chức lễ hội phải huy động nhân dân tham gia đóng góp. Năm ngoái ở làng này tổ chức lễ hội mỗi khẩu phải đóng 100.000đ, gia đình tôi có 4 người phải đóng 400.000đ, cộng với ủng hộ 100.000đ, tổng cộng gia đình đã đóng cho địa phương 500.000đ. Mức đóng góp này cũng có gia đình sẵn sàng tham gia đóng góp cho tổ chức lễ hội, cũng có gia đình nghèo thì việc đóng góp này rất khó khăn và họ không muốn tổ chức lễ hội. Nhưng không có tiền thì không làm được lễ hội vì muốn chương trình văn nghệ hay phải thuê đoàn văn công về biểu diễn, các trò chơi của lễ hội như bóng chuyền, cầu lông, chọi gà, thả chim cũng phải có kinh phí mời người ta ở các nơi về thi đấu mới hay"  (Nam, 37 tuổi, mức sống trung bình, Liên Đàm, Yên Thường, Gia Lâm, Hà Nội).

"Năm ngoái địa phương có làm lễ hội, cũng mời đoàn múa rối nước Trung ương về biểu diễn, chương trình ca nhạc và nhiều trò chơi khác, nhưng gia đình tôi không phải tham gia đóng góp chỉ đi xem, địa phương có nhà tài trợ" (Nữ, 41 tuổi, mức sống trung bình, Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An).  

Để khai thác sâu hơn hành vi của người dân ở hai làng khi tham gia lễ hội truyền thống của làng hàng năm, chúng tôi đã tìm hiểu đánh giá của người dân về hội làng có ý nghĩa nào đối với mỗi người dân?  Kết quả cho thấy phần lớn (73,2%) người trong mẫu phỏng vấn cho rằng lễ hội làng là dịp người dân bày tỏ lòng biết ơn, 69,7% ý kiến cho rằng dịp khẳng định danh tiếng của làng, 64,5% ý kiến cho rằng dịp vui chơi giải trí, 8,4% ý kiến cho rằng dịp cầu tài, cầu lộc (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013).

Kết quả khảo sát cũng cho thấy có khác biệt giữa hai làng ở tất cả các hình thức trả lời. Chẳng hạn, ở phương án trả lời "lễ hội có ý nghĩa để thành viên trong làng gắn bó nhau", có đến hơn một nửa (58,3%) những người trong mẫu phỏng vấn ở Quỳnh Đôi trả lời có ý nghĩa thành viên trong làng gắn bó nhau, trong khi tỷ lệ này ở Liên Đàm chưa được một nửa (41,7%). Tương tự, ở phương án "lễ hội là dịp khẳng định danh tiếng và truyền thống của làng", có đến hai phần ba (70,2%) những người trong mẫu phỏng vấn ở Quỳnh Đôi cho rằng lễ hội là dịp khẳng định danh tiếng và truyền thống của làng, trong khi tỷ lệ này ở Liên Đàm là 29,8% (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013).

 Thay lời kết

Công cuộc Đổi mới ở nước ta, các phong tục cổ truyền, trong đó có  hình thức sinh hoạt lễ hội thể hiện giá trị cốt lõi của văn hóa cộng đồng nơi làng xã đang có sự phục hưng rất mạnh mẽ. Nếu như ở thời bao cấp (từ năm 1986 trở về trước) hình thức sinh hoạt văn hóa lễ hội cổ truyền phần nào đã bị chìm lấp đi đằng sau các hoạt động của hợp tác xã và các đoàn thể xã hội như hội phụ nữ, đoàn thanh niên, thì ngày nay, cùng với việc khôi phục lại chức trưởng thôn cũng như xác nhận quyền tự chủ trong sản xuất và kinh doanh của các hộ gia đình nông dân, hình thức sinh hoạt văn hóa lễ hội trong cộng đồng làng xã cũng được trả lại theo dòng chảy tự nhiên và bình thường của chúng.

Nhưng vấn đề đặt ra không chỉ là sự cởi mở trong chính sách Đổi mới của nhà nước, sự phục hưng mạnh mẽ của hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng ở làng Việt hiện nay, theo chúng tôi, cũng còn có cơ sở khách quan của nó là nền kinh tế tiểu nông. Phải nói rằng từ khi hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo kiểu cũ bị giải thể, ruộng đất được giao khoán lâu dài cho các hộ gia đình nông dân, thì về thực chất, ở nông thôn Việt Nam, trong đó có hai làng Liên Đàm và Quỳnh Đôi, đã tái lập trở lại nền kinh tế tiểu nông tư hữu. Mà kinh tế tiểu nông tư hữu, như đã nói, chính là một trong những cơ sở/nguồn gốc hình thành nên tính cộng đồng làng xã.

Tuy nhiên, trong bối cảnh của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay, sinh hoạt văn hóa lễ hội cộng đồng ở làng Việt thuộc Bắc bộ và Bắc Trung bộ cũng có những đổi thay nhất định. Điều này được thể hiện ở một số điểm như sau:

Sinh hoạt văn hóa cộng đồng qua lễ hội hiện nay đều được thực hiện rất ngắn gọn (chỉ diễn ra trong một ngày), sau đó mọi công việc sản xuất và sinh hoạt lại được tiếp tục bình thường, không vì các lễ thức này mà làm đình đốn các công việc khác.

Sự biến đổi của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, như đã nêu, đã diễn ra theo hai xu hướng: một mặt không ngại tiếp thu các yếu tố mới mà toàn cầu hóa mang lại (như trang phục, đồ ăn thức uống, cách thức và các phương tiện giao tiếp…), song cũng sẵn sàng tước bỏ đi những nghi tiết rườm rà, rối rắm.

Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, trong việc phục hưng hình thức sinh hoạt văn hóa cổ truyền cũng đang làm nảy sinh một số hủ tục mới, mà nổi bật hơn cả là xu hướng thương mại hóa. Trong các lễ hội làng thì ngoài việc đóng góp không nhỏ của cư dân, cũng có hiện tượng thu tiền quá mức đối với khách thập phương từ xa tới khi họ muốn thăm viếng danh lam hoặc tham gia vào một thứ trò chơi nào đó. Tất cả những điều đó làm cho không ít người có cảm giác dường như việc sinh hoạt văn hóa cộng đồng mất dần đi các sắc thái khởi nguyên vốn có của nó.

Đến đây, vấn đề được đặt ra từ đầu vẫn rất cần được nhắc lại: đó là cần đánh giá như thế nào về sự phục hưng và biến đổi của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng trong bối cảnh của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay ở nước ta? Chúng tôi cho rằng, các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng chính là một sản phẩm thuộc thượng tầng kiến trúc của đời sống kinh tế - xã hội nơi làng Việt, vì vậy khi hạ tầng cơ sở của nó đã thay đổi (ở đây là tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế thị trường) thì tất yếu các hình thức sinh hoạt văn hóa cổ truyền này cũng phải biến đổi theo. Trong quá trình biến đổi đó, việc tiếp thu thêm các yếu tố và giá trị mới, đồng thời gạt bỏ đi những gì đã lạc hậu, lỗi thời cũng là lẽ đương nhiên. Còn những hiện tượng mới nảy sinh như xu hướng thương mại hóa trong lễ hội, thì theo thiển nghĩ của chúng tôi, đó chỉ là những hiện tượng không tránh khỏi của một xã hội đang chuyển đổi.

Và, sau cùng, sự biến đổi của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng có ảnh hưởng ra sao đến bản sắc làng Việt? Chức năng quan trọng của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng chính là nhằm củng cố, thắt chặt và tái chuẩn nhận tính cộng đồng nơi làng xã. Thế mà, trong bối cảnh của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay, hoạt động lễ hội ở nông thôn đã cho thấy: các quan hệ cộng đồng không những không mất đi, mà còn được mở rộng từ gia đình, họ hàng đến làng xã và thậm chí cả ở bên ngoài làng xã nữa. Như vậy, rõ ràng là bản sắc làng Việt không mất đi, nó chỉ đang vận động, biến đổi cho phù hợp với bối cảnh chung của đời sống kinh tế - xã hội cũng đang chuyển đổi sang một giai đoạn mới.

 

Tài liệu trích dẫn

1. Đào Duy Anh (1938), Việt Nam văn hóa sử cương, Quan hải tùng thư xuất bản, Huế.

2. Toan Ánh (2005), Nếp cũ con người Việt Nam, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.

3. Nguyễn Thị Phương Châm (2010), Khi làng vươn ra phố: những xu hướng biến đổi văn hóa. Trong sách Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: những cách tiếp cận nhân học, Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.

4. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hóa học, Viện Văn hóa và Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

5. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb. Văn hóa - Thông tin và Tạp chí Văn hóa - Nghệ thuật, Hà Nội.

6. Lương Văn Hy (1994), Cải cách kinh tế và tăng cường lễ nghi tại hai làng miền Bắc Việt Nam. Trong sách Những thách thức trên con đường cải cách ở Đông Dương, do Borje Ljunggren chủ biên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

7. Nguyễn Văn Huyên (2005), Văn minh Việt Nam, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

8. Phạm Côn Sơn (1999), Gia lễ xưa và nay, Nxb Thanh niên, Hà Nội.

9. Lê Trung Vũ và cộng sự (2007), Nghi lễ vòng đời người, Nxb Hà Nội, Hà Nội.

10. Trần Quốc Vượng (2000), Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn hóa dân tộc và Tạp chí Văn hóa - nghệ thuật, Hà Nội.

11. Mai Văn Hai, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Đức Chiện, 2013,  Bản sắc làng Việt trong tiến trình toàn cầu hóa, Nxb Khoa học Xã hội

12. Trần Nhật Hoàng (Nguyễn Đức Chiện giáo viên hướng dẫn). 2017, Sự tham gia của các tổ chức xã hội trong hoạt động tổ chức lễ hội ở làng xã hiện nay, Luận văn ngành Xã hội học, Khoa Lý luận Chính trị, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

 

Minh Tuệ

Đọc nhiều nghiên cứu về làng xã và thỉnh thoảng hay bị ám ảnh bởi cấu trúc cảnh quan cây đa - bến nước - mái đình cũng như những yếu tố được các nhà nghiên cứu đề cập đến đàng sau những cấu trúc đó. Nó làm cho người ta cứ hay nhìn xung quanh mình để tìm về những yếu tố cảnh quan đã được định hình trong nhận thức khi tìm về một làng xã truyền thống nào đó. Bản thân từ "truyền thống", vốn cũng mù mờ và vô cùng trừu tượng, chẳng có gì rõ ràng cả. Nhất là khi đặt "truyền thống" trong một diễn tiến thời gian thì thật khó để thấy cái gì là truyền thống, bởi cuộc sống luôn luôn thay đổi, con người luôn thích ứng không chỉ để sinh sống mà còn để phát triển, để sống tốt hơn. Ấy vậy mà đến nay, truyền thống vẫn như một con "ngáo ộp" (theo cách nói của TS Nguyễn Công Thảo) ám ảnh đến nhiều người. Thật lạ hơn là có những người dù không thấy, không hiểu vẫn cố gắng đi tìm những cấu trúc truyền thống của một làng quê nào đó để chứng minh làng đó là "truyền thống". Nhắc đến làng, không có cây đa, bến nước, mái đình, hoặc chỉ có một vài yếu tố thì có làm cho cái làng đó mất đi "truyền thống" không? Và xét cho cùng, "truyền thống" là cho tất cả mọi người hay cho một số người, một cộng đồng trong một giai đoạn nhất định? Nghe vậy nhưng không dễ để trả lời cho những câu hỏi này. Bởi cảnh quan của làng xã luôn gắn với tính cụ thể và cả tính vùng miền nữa. Làng xã Việt Nam đa dạng vô cùng và cấu trúc làng xã truyền thống được nói nhiều kia là đề cập đến làng xã ở vùng đồng bằng Bắc bộ trước đây. Nếu cứ mang cấu trúc đó xem xét ra các vùng miền khác, có thể sẽ đưa nhà nghiên cứu đi theo hướng khác. Vậy nên, khi nói đến làng thì cần xem xét cụ thể và trong bối cảnh, đối tượng của thể. Để thảo luận thêm về vấn đề này, bài viết này đề cập đến cảnh quan của một làng cụ thể ở Nghệ An và sự thay đổi cảnh quan đó qua tâm thức của những người già, vốn là chủ thể của làng đó trong hơn một nửa thế kỷ qua.

Làng tôi hiện tại

Làng ở Nghệ An khá đa dạng. Theo điều kiện tự nhiên thì có làng vùng ven biển, làng vùng đồng bằng, làng vùng trung du và làng ở miền núi. Theo nghề nghiệp cũng có làng nghề thủ công là chính, làng nghề nông nghiệp là chính, làng nghề thương nghiệp là chính. Sự phân chia như vậy đương nhiên là tương đối, vì xét cho cùng thì không có một làng nào chỉ sinh sống bằng một nghề, mà chủ yếu là làng hỗn hợp với nhiều nghề khác nhau, trong đó có những nghề quan trọng. Mỗi vùng miền như vậy lại có những mô hình làng xóm khác nhau. Vậy nên, nói để tìm kiếm một làng tiêu biểu, điển hình cho truyền thống xứ Nghệ làm đối tượng nghiên cứu là rất khó, nếu không muốn nói là không thể. Với lại, làng nào cũng có truyền thống, chỉ là cách hiểu truyền thống như thế nào mà thôi. Trong bối cảnh đa dạng về mô hình, cơ cấu làng thì khó để lựa chọn cái gọi là điển hình. Vậy nên, để tìm hiểu về biến đổi cảnh quan làng trong mấy thập kỷ qua, chúng tôi lựa chọn một làng quê ngẫu nhiên ở nông thôn làm đối tượng khảo sát. Dù có thể hơi chủ quan, nhưng lựa chọn vùng quê mình sinh ra để tiến hành khảo sát vẫn được nhiều nhà nghiên cứu từng tiếp cận. Bởi ở đó có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc khảo cứu. Bên cạnh có được quá trình trải nghiệm, hiểu biết trong một thời gian nhất định khi sinh sống ở quê nhà thì còn nhiều mối quan hệ và mạng lưới xã hội sẵn có để giúp cho nhà nghiên cứu có điều kiện tiếp cận dễ dàng hơn. Vì nếu đến một địa bàn mới, người ta phải bắt đầu xây dựng mạng lưới xã hội và tìm hiểu tổng quan từ đầu trước khi đi sâu vào vấn đề chính mà mình quan tâm.

Quê tôi ở một xã thuộc vùng trung du của huyện Thanh Chương, thuộc khu vực phía Đông, gần giáp giới với huyện Nam Đàn. Nếu khu vực thượng lưu và phía Tây, Tây Nam huyện Thanh Chương là vùng núi thì vùng quê tôi lại tương đối bằng phẳng hơn. Phía Nam vùng này là dòng sông Lam, mà người quê tôi hay gọi là "rào Cấy" hay sông Cả, nghĩa là con sông lớn. Phía Bắc có một con sông nhỏ, là một nhánh của sông Lam, được gọi là Rào Gang. Một số tên gọi như Cầu Gang (hay Cầu Rào Gang), gạch ngói Rào Gang,… là vì nó gắn với con sông nhỏ này. Trong xã có một số ngọn núi nhỏ mà người địa phương gọi là rú. Lớn nhất là rú Ó, rồi rú Đờng, rú Giếng…. Đây là những ngọn núi trọc, gần như không có cây xanh. Bao quanh xã là hệ thống đất ruộng và đất bãi, đất đồng để người dân canh tác nông nghiệp. Đất bãi trồng hoa màu chủ yếu như lạc, ngô, đậu ở khu vực ngoài đê, dọc sông Lam. Một phần đất trong đê gọi là đất đồng trồng hoa màu nhưng diện tích ít hơn so với đất bãi. Tuy nhiên, đất đồng trồng trọt ổn định hơn do ít bị ảnh hưởng của mưa lũ từ nước sông dâng lên vì được hệ thống đê bảo vệ. Xóm nào cũng có cả ba loại đất này để chia cho người dân canh tác. Trước 1945, vùng này thuộc tổng Xuân Lâm. Về cơ bản, toàn bộ xã hiện nay thuộc vào hai làng khác nhau là làng Xuân Bảng và làng Phúc Yên. Sau này được chia tách ra thành xã với 10 xóm, gần đây lại tiếp tục sáp nhập các xóm và có thể sắp tới lại nhập xã. Nhưng sự thay đổi của các đơn vị hành chính hiện nay không làm ảnh hưởng quá nhiều đến cảnh quan của làng xóm. Nhưng trước đây thì đó lại là nhân tố tác động mạnh. Các sinh hoạt văn hoá cộng đồng trong xã hiện nay chủ yếu tổ chức ở sân vận động và hội trường ủy ban xã. Về văn hoá tâm linh thì hiện nay trong xã có đền Hữu là di tích lịch sử cấp quốc gia, được cộng đồng dân cư ở đây xây dựng, tu bổ và hương khói từ hàng thế kỷ nay. Không chỉ trong xã mà người dân ở các xã lân cận hàng tháng cũng đến thắp hương dâng lễ tại đền. Lễ hội của xã hiện nay cũng gắn với việc rước kiệu từ đền và tổ chức các sinh hoạt khác tại trung tâm xã. Các dòng họ trong xã đều có nhà thờ tổ tiên và hầu hết các lễ lớn liên quan đến dòng họ đều được tổ chức tại đây. Trong xã còn có một xóm có nhiều đồng bào Công giáo sinh sống và có một nhà thờ Đức Chúa đồ sộ được người dân xây dựng để thực hành đời sống tôn giáo.

Làng tôi hiện tại, nói đúng hơn là xóm tôi, cũng như nhiều xóm khác, được bao quanh bởi các con đường bê tông sạch sẽ chạy xuyên vào các ngõ ngách trong làng. Có một con đường nhựa lớn, là đường liên huyện, bắt nguồn từ đường quốc lộ chạy xuyên từ đầu đến cuối làng rồi ra đến uỷ ban và nối với các đường khác để đi qua các xã khác. Là một làng xóm thuộc khu vực trung du nên cũng có nhiều nét riêng biệt. Quanh làng có một số ngọn núi nhỏ, là khu vực đất mộ táng, nơi tập trung hầu hết nghĩa địa của các dòng họ trong cả xã. Dọc các đường lớn có nhiều ki ốt hàng quán bán tạp hoá và các loại hàng hoá thiết yếu cho đời sống người dân trong vùng. Các con đường ra giữa các cánh đồng, các thửa ruộng cũng được mở rộng và chắc chắn hơn. Hiện tại xóm nào cũng đã có nhà văn hoá và sân bóng chuyền bóng đá, là kết quả của quá trình xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hoá mới. Nhưng nhà văn hoá thỉnh thoảng mới mở cửa khi có công việc họp hành của xóm, bình thường thì ít khi có người lui tới. Còn sân bóng nhưng chủ yếu là dành cho lớp trẻ chơi thể thao như bóng chuyền, bóng đá, cầu lông. Gần đây, có khá nhiều người phụ nữ, cả trẻ lẫn luống tuổi có tham gia chơi bóng chuyền hơi ở sân nhà văn hoá và sân bóng. Hầu hết trong làng xã không còn nhà tranh vách đất nữa, chủ yếu là nhà xây kiên cố, số lượng nhà tầng ngày càng tăng lên. Hầu hết các hộ gia đình hiện nay đều xây tường bê tông bao quanh nhà mình và dựng cửa cổng kiên cố. Nhà nào cũng lắp mái tôn để chống nắng ở sân nhà. Cổng vào và phần lớn diện tích trong khuôn viên nhà cửa đều lát gạch hoặc đổ bê tông. Đường lớn rải nhựa, đường làng, ngõ xóm đổ bê tông, sân nhà thì dựng mái tôn để che trong khi cây cối từ ngoài đường đến trong vườn đều ít dần. Nếu có thể nhìn từ trên cao xuống thì các làng xóm giờ nhìn như một lò giữ nhiệt khổng lồ vậy.

Nhìn chung, cảnh quan làng xã tôi hiện nay, cũng không khác gì các làng xã xung quanh thuộc khu vực trung du tỉnh Nghệ An này, đều có dáng dấp của làng xóm hiện đại với điện, đường, trường, trạm kiên cố. Đường lớn rải nhựa, đường bé đổ bê tông. Các sinh hoạt văn hoá tập thể tuỳ theo cấp độ xóm xã mà tổ chức ở nhà văn hoá, sân bóng của xóm, xã. Không chỉ cảnh quan làng xóm mà điều kiện vật chất, tinh thần của người dân cũng hiện đại hơn nhiều. Trong làng ngày càng nhiều người có xe ô tô. Nhà nào cũng có một hai, thậm chí là ba bốn chiếc xe máy từ loại ít tiền đến loại cả trăm triệu đồng. Rồi điều hoà, máy giặt, tivi, tủ lạnh,… hàng loạt các trang thiết bị sinh hoạt hiện đại ngày càng phổ biến. Hầu hết người dân đều sử dụng điện thoại di động với nhiều thể loại khác nhau. Có lẽ, trong quá trình xây dựng nông thôn mới, đây như là một mô hình phổ biến với các thiết chế văn hoá, từ cơ sở vật chất đến sinh hoạt tinh thần đều được đồng nhất, quy định theo các tiêu chí do nhà nước ban hành. Nó khiến cho các làng xóm, nhìn na ná giống nhau nhưng lại không giống nhau bởi trong đó là những con người khác nhau.

Còn làng tôi ngày trước ra sao?

Để hiểu thêm về việc biến đổi cảnh quan làng thì không có cách nào khác ngoài việc chúng ta phải tiếp cận theo chiều lịch sử. Bởi biến đổi là một quá trình trải qua các thời đoạn khác nhau. Một làng quê cũng vậy, trải qua những giai đoạn khác nhau thì cảnh quan, con người và văn hóa cũng có những thay đổi khác nhau. Vậy nên câu hỏi chính được đặt ra để xem xét là làng tôi ngày trước như thế nào?

Khi tiến hành tìm hiểu về vấn đề này, chúng tôi chia thành các câu hỏi khác nhau để tiếp cận theo các giai đoạn: Làng tôi trước Cách mạng tháng Tám 1945 như thế nào? Làng trong thời bao cấp ra làm sao? Và làng tôi từ đổi mới 1986 đến nay như thế nào? Đối tượng chúng tôi tiếp cận chủ yếu là những người lớn tuổi, những người già đang sinh sống trong làng hiện nay. Kết hợp với những gì chúng tôi quan sát, trải nghiệm trong những năm qua và so sánh với những mô tả, những ký ức của những người già kể lại để thấy được sự biến đổi cảnh quan làng như thế nào? Câu chuyện không phải chỉ tập trung vào biến đổi cảnh quan, mà muốn đi sâu vào phân tích các chiều tâm tư, suy nghĩ của những người lớn tuổi về quá trình biến đổi đó. Do tiếp cận nhân học, chủ yếu qua phỏng vấn những người lớn tuổi chứ không phải dựa vào phân tích tư liệu thành văn nên những thông tin về lịch sử làng chủ yếu được tái hiện qua ký ức, nghĩa là khó đạt được độ chính xác cao. Nhưng ngược lại, cái nhìn từ tâm lý, nhận thức của người dân về chính vùng đất nơi mình sinh sống lại cho người đọc những cảm nhận mới mẻ hơn.

Trong một điều kiện có nhiều hạn chế về các nguồn lực để thực hiện khảo sát nên chúng tôi chỉ tiến hành phỏng vấn một số lượng những người già vừa phải và một vài cuộc thảo luận nhóm. Có 21 người già tham gia chia sẻ thông tin về làng. Trong đó, người lớn tuổi nhất sinh năm 1928 và người trẻ nhất sinh năm 1950. Có hai cuộc thảo luận nhóm, cuộc đầu tiên có 6 người tham gia và cuộc thứ hai có 5 người. Qua những thông tin thu thập được từ quá trình nghiên cứu định tính này, chúng tôi phần nào hiểu được một chút sự biến đổi về cảnh quan làng xã qua tâm thức người cao tuổi

Cảnh quan làng trước 1945

Có 8 người sinh ra trong giai đoạn những năm 1920 và 1930 chia sẻ thông tin về làng mình trước cách mạng. Nhưng như họ nói, lúc đó còn nhỏ nên có nhiều cái không nhớ rõ. Mặt khác, họ cũng cho rằng làng quê mình trước cách mạng và sau cách mạng có biến đổi nhưng không nhiều. Phải đến những năm 1960 mới bắt đầu thay đổi nhanh chóng và càng ngày sự thay đổi đó càng lớn hơn.

"Trước Cách mạng tháng Tám (1945), khu vực làng hiện nay dân cư còn thưa thớt, đường sá đi lại khó khăn. Dân chủ yếu tập trung phía gần Bàu Ó và một phần phía dưới giờ là trung tâm xã Thanh Khai. Ngoài đền Hữu có từ lâu đời thì còn có đình Phúc Yên và đình Xuân Bảng, là nơi tập trung các sinh hoạt lớn của cả làng. Đình Xuân Bảng gồm đình thượng và đình hạ. Cột đình to một người ôm không xuể, có kiến trúc chạm trổ độc đáo. Đình làng Phúc Yên cũng tương tự, nhưng bé hơn. Nếu đình thượng quanh năm đóng cửa chỉ mở vào dịp lễ cúng Thành hoàng thì đình hạ lại mở cửa thường xuyên để bàn việc làng. Sân đình cũng là nơi người dân tập trung vui chơi, thực hành các sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Xung quanh làng ngày trước là các hồ nước, vùng nước sâu, khó san lấp để cấy lúa được. Người dân cứ lấn dần để cấy lúa. Hệ thống mương máng chưa đầy đủ nên diện tích ruộng rất ít, chủ yếu là đất trồng ngô, trồng khoai thôi. Đê điều còn nhỏ, kém nên năm nào cũng bị lũ lụt. Quanh xã còn có nhiều bãi cây, lùm cây um tùm. Nhiều vùng hiện nay tập trung đông dân cư nhưng là sau này mới được thành lập, còn trước đó thì chỉ là vùng ven núi hoặc đất bỏ hoang, hoặc canh tác một vụ hoặc có khi hai ba năm mới làm được do thiếu nước. Khi có việc lớn thì thường tập trung đến đình làng để xử lý. Trong làng có một số giếng làng, là nơi lấy nước chung của cả làng, được đào lớn và lát đá đẹp, bảo vệ sạch sẽ. Xung quanh Bàu Ó có một số bến do người dân làm nên để giặt giũ. Đền Hữu được quản lý nghiêm ngặt, chỉ những người có chức trách mới được ra vào trong chính điện, còn người dân chủ yếu đến dâng hương. Thường chỉ đàn ông mới được vào đền, phụ nữ không được phép vào trong. Khi có việc đến tìm chồng hay tìm người thì cũng chỉ được đứng ngoài nhờ người vào báo".

Đây là một đoạn ký ức của một người đàn ông năm nay đã ngoài 90 tuổi, và đã được nhiều người khác thảo luận thêm khi nói về vấn đề này. Qua những thông tin này cũng cho chúng ta thấy được cảnh quan làng trước Cách mạng tháng Tám 1945 một cách tổng quan. Đó là cảnh quan làng khá cổ điển, có đền thờ Đức Thánh, có đình thờ Thành Hoàng làng, sân đình là nơi người dân tập trung sinh hoạt cộng đồng cũng như bàn việc làng xã. Cảnh quan xung quanh làng còn hoang sơ, đường sá đi lại còn chật hẹp và khó khăn. Dân cư thưa thớt hơn, tập trung chủ yếu quanh khu vực trung tâm làng. Diện tích ruộng sản xuất hẹp nhưng mặt nước lại lớn do có nhiều ao hồ, vùng nước sâu. Có những giếng làng và các bến nước quanh bàu để sinh hoạt.

Cảnh quan làng thời bao cấp

Sau khi Cách mạng thành công, tổng Xuân Lâm bắt đầu chia thành các xã. Một phần làng Xuân Bảng và một phần làng Phúc Yên được nhập lại thành xã. Qua nhiều lần thay đổi, tách rồi nhập và đến hiện nay là xã Thanh Yên. Tính ra, từ sau 1945 cho đến khi Đổi mới 1986, cảnh quan làng có nhiều biến đổi. Sau 1954, miền Bắc bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, các hợp tác xã cũng bắt đầu được hình thành, đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân bắt đầu thay đổi. Sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh. Khai khẩn các vùng đất quanh xã để sản xuất được quan tâm. Hệ thống thủy lợi cũng được xây dựng và cải tạo. Đê điều được tu bổ hàng năm. Do vậy, diện tích sản xuất được mở rộng hơn. Nhưng khi vào cải cách văn hóa, chính quyền bắt đầu dỡ bỏ các thiết chế cũ. Đình làng một phần bị hư hại do chiến tranh, sau này lại bị hạ xuống để lấy gỗ làm các công trình khác. Đình dần biến mất khi không còn là nơi tập trung sinh hoạt văn hóa của người dân cũng như bàn việc tập thể. Đền Hữu dù không được quan tâm nhiều nhưng vẫn được giữ lại để làm nơi sinh hoạt tâm linh. Phần đất quanh đền được đưa vào để canh tác hoa màu. Các giếng nước của làng và các bến nước quanh Bàu Ó vẫn được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày. Bên cạnh đó, nhiều cảnh quan mới được xây dựng. Khi đó cả xã chia thành nhiều đội. Hai đến ba đội thì xây dựng một nhà kho. Ngoài việc chứa lương thực thì sân kho cũng là một nơi để sinh hoạt cộng đồng như chiếu bóng, tổ chức biểu diễn văn nghệ quần chúng, chia lương thực sau khi thu hoạch…. Cửa hàng mậu dịch với việc xếp hàng dài chờ mua lương thực phẩm. Sân vận động để diễn tập, thao tập các lực lượng dân quân, tự vệ còn là nơi tổ chức thể thao, chiếu phim, biểu diễn văn công và nhiều sinh hoạt khác. Các ao hồ xung quanh cũng được san lấp dần làm ruộng nước hoặc ao thả cá. Việc sản xuất lương thực không có năng suất cao do đất đai không được tốt. Nhưng bù lại do có nhiều ao hồ, đầm vũng nên có nhiều thủy sản. Người dân vùng này nổi tiếng về nghề đan lưới và đánh cá. Bắt cua bắt ốc, đánh cá trở thành một phần quan trọng trong sinh kế người dân khi mà sản xuất hợp tác xã và chăn nuôi còn hạn chế.

Sau này, khi nhìn nhận lại nhiều vấn đề của thời kỳ bao cấp khiến cho nhiều người nghĩ rằng nó lạc hậu, kém phát triển. Nhưng trong ký ức của nhiều người lớn tuổi đã kinh qua các giai đoạn từ làm cách mạng, tham gia kháng chiến, sống qua thời bao cấp cho đến nay thì họ vẫn có nhiều điều rất tự hào. Lối làm ăn tập thể, sản xuất theo hợp tác xã có thể sau này có vô vàn hạn chế, nhưng trong thời đoạn chiến tranh, nó đã tập trung được hầu hết nguồn lực của nông dân vào kháng chiến, kiến quốc. Vậy nên, với nhiều người, nhiều không gian văn hóa thời đó có nhiều giá trị không thể chối bỏ được.

"Có nhiều đêm, chúng tôi đốt đèn ra sân nhà kho để tổ chức biểu diễn văn nghệ. Mọi thứ đều thô sơ, từ trang bị cho đến con người. Ấy vậy mà ai cũng hăm hở tham gia. Sân kho lúc đó gắn với hầu hết mọi hoạt động. Có nhiều đám cưới được tổ chức ngay tại sân nhà kho. Rồi khi lễ tết, có con lợn để làm thịt cũng mang ra nhà kho. Lúc đó, con người ta đối xử với nhau tình cảm lắm. Đời sống vật chất khó khăn nhưng tinh thần thì không thiếu. Sẵn sàng chia nhau những thứ mình có. Có thể nói cả một thời trai trẻ chúng tôi gắn với sân kho" (Đàn ông, 81 tuổi).

"Trong cái đói nghèo chung, chúng tôi vẫn xếp hàng ở cửa hàng mậu dịch quốc doanh để chờ mua thực phẩm. Từ sáng sớm đã ra xếp hàng, có lúc quá trưa còn chưa đến lượt. Ấy vậy nhưng người ta không tranh cướp, ít khi có xô xát hay tranh chấp lẫn nhau vì mọi người đều chờ nhau xếp hàng và theo lượt chứ không có phân biệt. Sau này thì thấy khổ quá. Nhưng khi đó con người ta chấp nhận. Và giờ thấy cũng thú vị. Nó là một phần trong cuộc đời chúng tôi" (Phụ nữ, 78 tuổi).

Chúng ta sau này vẫn phê phán nhiều về hệ quả của công cuộc cải cách văn hóa, trong đó có việc phá bỏ đi nhiều di sản văn hóa, nhất là với các đình, chùa, đền, miếu,…. Nhưng với nhiều người thì việc làm đó cũng có giá trị riêng. Việc phá bỏ đình lấy gỗ xây dựng trường học, hợp tác xã để sản xuất lúc đó lại được nhiều người ủng hộ.

"Các đình làng lần lượt bị mất đi là một điều đáng tiếc. Không phải bây giờ chúng tôi mới thấy tiếc mà lúc đó đã buồn rồi. Nhưng trước đó, chiến tranh rồi lũ lụt đã hủy hoại đi nhiều. Trong bối cảnh còn nghèo đói, lại đang chiến tranh nên không có điều kiện để tu bổ. Khi có chính sách dỡ bỏ thì người ta làm thôi. Dù thấy tiếc nhưng vì điều kiện lúc đó cần gấp nên phải chấp nhận. Nó đổi lại có nhiều con em có trường để học, có trạm xá để chữa bệnh" (Đàn ông, 84 tuổi).

Như vậy, cảnh quan làng trong thời bao cấp đã có những biến đổi cả về tự nhiên lẫn xã hội và văn hóa. Đình làng hư hại và bị dỡ bỏ. Đền Hữu cũng hoang sơ hơn, hư hại đi nhiều và không được tu bổ thêm nhưng cũng may mắn không bị phá hủy. Một số cảnh quan giếng làng, bến nước vẫn còn. Bên cạnh đó, một số không gian, cảnh quan mới được xây dựng như nhà kho, sân vận động, hợp tác xã, cửa hàng mậu dịch,… Một điều đáng chú ý khác là lúc đó, để có diện tích đất sản xuất chính quyền có chính sách yêu cầu người dân di dời toàn bộ mộ táng từ dưới đồng ruộng lên trên rú. Và từ đó về sau không còn chôn cất ở dưới đồng nữa, tập trung lên các rú trong làng.

Cảnh quan làng sau Đổi mới

Từ sau khi thực hiện đường lối Đổi mới đất nước, bộ mặt của hầu hết các làng xã ở Việt Nam đều có những thay đổi mạnh mẽ. Làng tôi cũng không ngoại lệ. Nếu những năm 1990 là giai đoạn chuyển đổi, các cảnh quan cũ vẫn còn ít nhiều. Thì từ đầu thế kỷ XXI đến nay là cả một công cuộc thay đổi nhanh chóng đến mức khó nhận ra. Kết quả của quá trình thay đổi đó là cái làng tôi hiện tại đã được trình bày ở phía trên. Nếu nhìn vào cái làng trong ký ức của người già đã trình bày qua hai giai đoạn trên với cái làng hiện tại thì có một quá trình biến đổi mạnh mẽ: Những cảnh quan thời bao cấp gần như không còn dấu vết. Hệ thống nhà kho, cửa hàng mậu dịch bị biến mất. Sân vận động thì được hiện đại hóa và tách ra chủ yếu dành cho các hoạt động lớn. Những sinh hoạt như biểu diễn văn công, xem văn nghệ quần chúng cũng theo đó mà lụi tàn. Đình không còn dấu vết nhưng đền lại được tu bổ to đẹp hơn và hoạt động náo nhiệt hơn. Tuy nhiên, cảnh quan đền cũng có những thay đổi. Cả một dãy mấy chục cây cổ thụ đã bị chặt hết. Một phần đất trong đền cũng được đem bán hoặc cho người khác thuê. Toàn bộ hệ thống ao, hồ, đầm, vũng xung quanh đã được đắp lại thành ruộng nước hoặc thành đất thổ cư. Hầu hết các giếng làng bị mất dần, hiện nay chỉ còn một hai cái nhưng người dân ít sử dụng. Bàu Ó bị ô nhiễm nặng nên người dân không còn tắm giặt ở đó nữa, làm cho các bến nước cũng mất theo. Nhìn chung, làng hiện nay là kết quả của quá trình hiện đại hóa nông thôn. Và nó làm cho con người, đặc biệt những người trẻ tuổi không hình dung ra được kết cấu làng trước đó. Nên có thể gọi đây là "làng hiện đại" với kết cấu theo đơn vị xóm, có đường lớn, đường nhỏ, nhà văn hóa, sân bóng đá….

Người già với "làng truyền thống" và "làng hiện đại"

Qua những phân tích phía trên chúng ta thấy cũng một cái làng nhưng có nhiều sự thay đổi qua các giai đoạn khác nhau. Làng hiện nay không còn mái đình, không còn bến nước, không còn giếng làng, nhưng liệu có phải nó không có truyền thống? Nếu nhận định vậy thì hơi khắt khe với làng hiện nay bởi dù sao nó vẫn mang trên mình truyền thống của thời đại nó. Chỉ khác nhau là sự thay đổi trong tâm thức con người. Lấy người già như là một đối tượng để phân tích chúng ta sẽ thấy sự biến đổi của làng luôn gắn theo với tâm thức của những thế hệ khác nhau sinh sống trong làng đó.

Những thông tin từ cuộc khảo sát về làng đã cho thấy, với người già, họ nhìn về cái làng bằng hoài niệm, bằng ký ức hơn là sự khách quan. Trong thâm tâm những người chúng tôi phỏng vấn, họ vẫn nhớ về cái đình làng, về các giếng làng, các bến nước, cái sân kho hay thậm chí cái cửa hàng mậu dịch. Họ nhớ về những ao hồ, đầm vũng vốn từng cung cấp cua cá cho họ. Họ nhớ về những đêm diễn văn nghệ quần chúng hay xem văn công, xem phim màn ảnh rộng. Và họ vẫn nhớ về những ngôi nhà đi vắng cả ngày nhưng không đóng cửa. Có thể cha ông họ trước đây, tức là những người là chủ nhân của làng này từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cũng nghĩ về cái làng của họ với nhiều điều khác. Rồi đến thế hệ họ là chủ nhân làng nửa sau thế kỷ XX nhận thức về cái làng như vậy. Đó là làng của thời cách mạng, của thời bao cấp trong không khí làm ăn tập thể, sản xuất hợp tác xã và phục vụ kháng chiến. Và trong làng bây giờ, họ là người già, là những người được cho là thuộc về xã hội cũ, đang chứng kiến công cuộc hiện đại hóa của làng mà chủ nhân là con, cháu họ. Với họ, cái làng truyền thống chỉ còn trong ký ức, còn cái làng hiện tại lại không có bóng hình của mình.

"Bây giờ, không còn làng nữa. Làng bọn tôi sống ngày trước khác nhiều lắm. Các sinh hoạt văn hóa xã tổ chức theo phong trào vậy thôi. Các không gian mới như nhà văn hóa, sân bóng cũng vậy, chỉ dành cho bọn trẻ vui chơi nhảy múa thôi. Giờ nhà nào cũng kín cổng cao tường cả, có mấy khi quan tâm đến nhau như trước nữa đâu. Trừ khi có việc gì thì mới qua lại thăm hỏi nhau. Chẳng bù cho bọn tôi ngày trước, ngày nào cũng tập trung nhau lại để uống nác chè xanh và trò chuyện. Có việc gì cũng cùng nhau tập trung lại làm giúp nhau cho nhanh xong. Bọn trẻ bây giờ không quan tâm gì việc làng xóm. Chúng chỉ biết sống cho mình thôi. Mà có mấy đứa ở lại làng xóm đâu. Đi ra ngoài hết. Tết nhất về thì tụ tập ăn nhậu, bài bạc rồi quậy phá" (Ý kiến thảo luận nhóm).

Điệp ngữ "bọn tôi ngày trước" hay "làng tôi trước đây" được nhiều người nhắc đi nhắc lại nhiều lần như để ám chỉ về sự phân biệt thế hệ. Thực tế, nhiều người lớn tuổi đối diện với quá trình hiện đại hóa đang cảm thấy hoang mang. Nhiều giá trị mới khiến họ khó có thể tiếp nhận được. Trong bối cảnh đó, họ quay lại nhớ về những giá trị của thế hệ mình, nhớ về làng cũ, bạn cũ. Cái "làng hiện đại" trong mắt họ không phải là làng. Vì cái làng của họ có kết cấu mở với cảnh quan sinh thái hoang sơ hơn. Còn cái làng hiện nay có kết cấu đóng, nhà nào cũng kín kẽ cả về cảnh quan lẫn cuộc sống. Nhưng không phải ai cũng bài trừ những giá trị của cái làng hiện nay, bởi họ hiểu cuộc sống thay đổi thì làng cũng thay đổi. Như một người già kết luận: "Làng thời cha ông mình nó khác. Làng thời anh em mình cũng khác với trước đó. Và giờ làng của con cháu mình cũng vậy thôi. Dù sao thì vẫn là cái làng mình sinh ra và xây dựng, giờ là con cháu mình tiếp nối đấy thôi. Nó không làm được khác đi thì hóa ra con cháu lại kém hơn cha ông".

Liệu có nên đi tìm làng truyền thống?

Để kết thúc bài viết này, thay cho lời kết  chúng tôi xin đưa ra một sự gợi mở về mặt phương pháp luận trong tiếp cận vấn đề làng xã. Trước nay, nhiều nhà nghiên cứu vẫn quen với con đường đi tìm các làng xã truyền thống để phân tích nhằm chứng minh cho một cấu trúc (cả về nhận thức lẫn thực tiễn) làng mà họ coi là "truyền thống". Nhưng cái gọi là "làng truyền thống" chỉ mang tính tương đối mà thôi. Ngoài việc phân tích các cấu trúc về cảnh quan, kinh tế, xã hội và văn hóa làng thì còn có vấn đề đối tượng chủ thể của làng. Những phân tích về cảnh quan một làng vốn không có gì nổi bật như đã làm ở trên qua tâm thức của một nhóm người đã gợi mở cho chúng ta rằng không có cái nào gọi là làng truyền thống hay nói cách khác thì làng nào cũng có truyền thống riêng của mình và truyền thống đó luôn biến đổi nên không thể "tĩnh hóa" các cấu trúc để mà xem xét. Làng là một kết cấu xã hội đã tồn tại lâu dài trong lịch sử dân tộc. Nó biến đổi qua các giai đoạn khác nhau, và làng trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa lại càng thay đổi mạnh mẽ và nhanh chóng. Những kết cấu cũ sẽ dần thay đổi và thích ứng, cùng với đó là những kết cấu mới xuất hiện và dần có vai trò. Quan trọng hơn nữa, những chủ nhân làng cũng thay đổi qua các thế hệ khác nhau. Và đã là con người cùng sinh sống trong một môi trường nhất định, họ sẽ không ngừng tái tạo, sáng tạo ra các truyền thống của riêng họ. Vậy nên, xét cho cùng, bất cứ làng nào cũng có truyền thống và truyền thống đó luôn biến đổi. Thay vì đi tìm làng truyền thống để nghiên cứu thì hãy nghiên cứu làng dưới những góc độ khác nhau, những cách tiếp cận khác nhau để tìm và hiểu về truyền thống của làng. Điều đó cần thiết hơn.            

Hồ Xuân Hùng

Một câu hỏi lớn mà ngay từ khi tôi đang công tác ở tỉnh là: Liệu Nghệ An có thoát nghèo và trở thành giàu có được không? Và bằng con đường nào? Nên tập trung phát triển ngành kinh tế nào (sau này gọi là ngành kinh tế mũi nhọn)? Sản phẩm nào là chính (nay gọi là sản phẩm chủ lực)? Trong nhiều câu hỏi ấy, tôi muốn được đóng góp phần nhỏ vào định hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực ở Nghệ An trong thời gian tới 2020 - 2030. Không phải đến nay mới bàn, mà từ nhiều năm nay, nhất là từ những năm đầu thập niên thứ 2 của thế kỷ XXI đã bàn, chỉ khác nhau tên gọi mà thôi. Có lẽ khi Việt Nam tham gia sâu vào hội nhập kinh tế thế giới - kinh tế thị trường, chúng ta mới thức tỉnh điều đó. Sau khi nghiên cứu kỹ những chính sách, quyết định, nghị định, thông tư từ Trung ương đến tỉnh tôi xin được nêu một số ý kiến sau:

I. Một số kết quả đạt được trong tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Nghệ An những năm gần đây

Trong quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp những năm gần đây, Nghệ An đã đạt được nhiều thành tựu vượt trội đáng mừng.

1. Từ khi Chính phủ phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên phạm vi cả nước, Nghệ An đã nhanh chóng rà soát lại quy hoạch, chính sách nhằm thúc đẩy tạo ra những đột phá cho nông nghiệp. Đặc biệt chú trọng khai thác lợi thế so sánh vốn có của tỉnh so với cả nước, tạo ra đột phá trên cơ sở vừa có kế thừa, vừa phát triển ứng dụng mới. Nhất là khẳng định khai thác lợi thế từng vùng sinh thái huyện và truyền thống địa phương. Đây là cơ sở lợi thế cho lựa chọn xác định và phát triển cây, con chủ lực của tỉnh nhà.

Ví dụ: Vùng chăn nuôi bò sữa tập trung: Nghĩa Đàn, Thái Hòa; Vùng mía nguyên liệu 6 huyện: Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Con Cuông, Thái Hòa; Vùng chè chất lượng cao tại 4 huyện: Anh Sơn, Thanh Chương, Con Cuông, Kỳ Sơn…

2. Quá trình thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, tỉnh đã mạnh dạn ứng dụng công nghệ cao từ khâu giống, công nghệ sản xuất, đến quản lý. Nhờ ứng dụng công nghệ mới mà tốc độ tăng trưởng bình quân toàn ngành 5 năm qua đạt 4,8% trong khi cả nước khoảng 3,5% và đã nâng thu nhập bình quân trên toàn tỉnh xấp xỉ 90 triệu đồng/ha (so với 2008 chỉ 37 triệu VNĐ). Có nhiều điểm đã đạt 200 - 400 triệu tấn/ha kể cả cây công nghiệp và rau quả.

3. Nghệ An đã xác định được nhân tố động lực tạo ra đột phá trong tái cơ cấu nông nghiệp là doanh nghiệp, vì vậy đã có chính sách phù hợp thu hút được một số doanh nghiệp lớn đầu tư vào tỉnh nhà như: Tập đoàn TH, Vinamilk, FLC, Vingruop, Mường Thanh, Masan,… Và chính nhờ họ đã tạo ra chuỗi sản xuất phát triển ổn định, gắn kết được với các HTX, hộ nông dân. Đây cũng là những hạt nhân để xác định và phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh nhà trong thời gian sắp tới.

4. Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia và quyết định phê duyệt danh mục sản phẩm quốc gia, UBND tỉnh đã có quyết định phê duyệt: Đề án phát triển cây, con chủ yếu, gắn với cơ chế quản lý đất đai, tạo vùng nguyên liệu phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đến năm 2020 (QĐ: 3079/QĐUB ngày 3/7/2014). Đây là những cơ sở pháp lý và quá trình thực hiện trong những năm qua là cơ sở thực tiễn để chúng ta thảo luận những định hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực ở Nghệ An tính đến 2030, nhằm tạo bước đột phá bền vững cho giai đoạn mới.

II. Nghệ An cần thống nhất một số khái niệm và tiêu chí trước khi quyết định lựa chọn, công bố và có chính sách phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh

Ngày 13/12/2018, Thủ tướng Chính phủ mới có Quyết định số 50/2018/QĐ-TTg quy định đối tượng thủy sản nuôi chủ lực là: tôm sú, tôm thẻ chân trắng và cá tra; ngay sau đó ngày 25/12/2018 Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã có Thông tư số 37/2018/TT-BNN ban hành danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia gồm 13 sản phẩm (đã có cá tra và tôm).

Hiện nay hầu hết các tỉnh đang triển khai, nhưng chưa có quy định chung nào về tiêu chí và sự thống nhất khái niệm mỗi địa phương tùy theo thực tế của tỉnh mình có quy định riêng. Vì vậy, Nghệ An cũng cần có sự thống nhất về khái niệm và tiêu chí về sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh nhà để thuận lợi cho khi triển khai thực hiện và xây dựng chính sách. Trên cơ sở đó đưa ra danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực cho giai đoạn 2020 - 2030 (không đặt vấn đề đến 2025 với tầm nhìn 2030) thực ra chỉ là 2 kế hoạch 5 năm. Đương nhiên khi xây dựng chính sách và kế hoạch cụ thể thì phải phân kỳ cho phù hợp 2020 - 2025 và tính đến 2030.

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đưa ra những khái niệm và cách xác định tiêu chí sản phẩm nông nghiệp chủ lực của Nghệ An; Song theo tôi cần bổ sung và làm rõ thêm một số nội dung sau:

1. Về khái niệm

Cần nêu luôn khái niệm về sản phẩm nông nghiệp chủ lực, không cần cụ thể là cây, con chủ lực nội dung cơ bản không khác gì, cụ thể là: Sản phẩm nông nghiệp chủ lực là sản phẩm mang tính cạnh tranh, đặc thù cao, tạo ra sản phẩm hàng hóa lớn, chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Có khả năng lan tỏa, thu hút các ngành nghề khác phát triển.

2. Về quan điểm xác định các tiêu chí và tiêu chí lựa chọn để đề xuất lựa chọn sản phẩm nông nghiệp chủ lực.

Trong báo cáo đang nặng về nhóm tiêu chí kinh tế và nhóm tiêu chí về sản phẩm cần ưu tiên phát triển; thiếu hẳn nhóm tiêu chí xã hội và môi trường, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập hiện nay.

Ví dụ:

- Về tiêu chí xã hội phải bao hàm chỉ tiêu sản phẩm chủ lực, phải thu hút số đông lao động? Đảm bảo thu nhập ổn định cho người lao động và có mức thu nhập trung bình ra sao? Cũng cần phải tính thêm tỉ lệ hộ dân tham gia vào sản xuất sản phẩm chủ lực ấy?

Tiêu chí môi trường: Sản phẩm chủ lực ấy phải thân thiện với môi trường và có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu?...

3. Cần làm rõ thêm mối quan hệ giữa sản phẩm chủ lực với sản phẩm chủ yếu, sản phẩm đặc trưng, sản phẩm đặc sản của tỉnh, sản phẩm nào trùng lặp, sản phẩm nào riêng biệt để có chính sách phù hợp, tránh trùng lặp, bỏ sót cả trong chỉ đạo thực hiện và cơ chế hỗ trợ, khuyến khích…

Ví dụ: Cam Vinh vừa trong danh mục cây trồng chính, vừa là đặc sản và nhất định cũng trong nhóm cây chủ lực… những sản phẩm loại này cần có chính sách thúc đẩy phát triển nhanh không? Loại trừ trùng lặp chỗ nào?...

4. Cần có tiêu chí rõ sản phẩm có tính truyền thống, đặc trưng đang phù hợp với nhu cầu ngày một tăng của thị trường; sản phẩm mới được xác lập trên địa bàn và dự kiến sản phẩm chủ lực tương lai nhằm tạo cơ hội cho nhà đầu tư hoặc là đầu tư nâng cao mở rộng, hoặc là mạnh dạn đầu tư mới phù hợp với chiến lược phát triển của tỉnh.

Ví dụ: Mía đường vừa là sản phẩm truyền thống nhưng thực sự trở thành sản phẩm chủ lực từ những năm cuối của thập kỷ cuối cùng thế kỷ XX (1998).

Ngược lại bò sữa là sản phẩm chủ lực mới được xác lập từ những năm cuối của thập kỷ thứ II thế kỷ XXI.

Thử dự báo: sản phẩm quả bơ (Diện tích kế hoạch 2020 là 60 ha) nhưng trong vòng sau 10 năm nữa có thể trở thành sản phẩm chủ lực được không?

Hay quả chanh chua (chanh có múi) hiện tại còn chưa có thống kê trong danh sách sản phẩm nông nghiệp tỉnh nhà, nhưng thực sự nó đã nổi tiếng trong tiêu dùng (trên thị trường ở miền Bắc nước ta) do đang trồng phân tán, tận dụng trồng trong dân, nếu có sự đột phá trong giống để thành chanh không hạt và trồng tập trung ở diện tích lớn đất vườn, đồi thì sẽ ra sao, nhất là khi nhu cầu đang tăng?... Nghệ An có thể trồng chanh không hạt được ở các huyện Tây Nghi Lộc, Nam Đàn, Hưng Nguyên và một số huyện vùng bán sơn địa, núi thấp…

Tôi xin cung cấp vài thông tin về cây chanh có múi: Hiện nay thế giới tiêu thụ khoảng hơn 10 triệu tấn chanh tươi/năm. Thị trường lớn mà Việt Nam đang xuất khẩu chính là: Trung Đông, châu Âu, Úc, các nước Đông Nam Á. Thị trường Mỹ rất lớn nhưng Việt Nam chưa cạnh tranh nổi với Brazin,         Mexico… Việt Nam đến 2019 có 15.000 ha chanh không hạt được trồng tập trung (loại có hạt, trồng phân tán chưa tính đến). Riêng Long An: 7.000 ha, Hậu Giang hơn 2.000 ha.

- Giống chanh không hạt trồng 16 - 20 tháng cho thu hoạch, năm thứ nhất cho năng suất bình quân 10 - 15 tấn/ha, từ năm thứ 2 trở đi 20 - 25 tấn/ha (Năng suất điển hình đã có 30 - 40 tấn).

- Giá bán tại vườn bình quân 12.000 đồng/kg từ (12 triệu/tấn).

- Giá xuất FOB cảng HCM: 1.500 USD/tấn.

- Thời gian bảo quản tươi lâu: 45 - 60 ngày nếu áp dụng công nghệ hơn 6 tháng, vì vậy không bị áp lực về mùa vụ và thời gian xuất.

- Hiện nay tổng sản lượng ở Việt Nam xuất tươi khoảng 70% tổng sản lượng, ép chế biến 10%, bán chợ 20%.

- Chanh dễ trồng, ít sâu bệnh.

Nhiều chuyên gia kinh tế và doanh nghiệp con em Nghệ An đề xuất: Nghệ An có vùng trồng chanh truyền thống (chỉ khác đang là chanh hạt) như Hưng Nguyên, Nam Đàn; và có nhiều huyện khác có thể trồng chanh được. Chỉ phải chọn giống không hạt và quy hoạch khoảng 2.000 - 3.000 ha là có khả năng thực thi.

III. Một số ý kiến về đề xuất danh mục cây con chủ lực

Về cơ bản nhất trí với đề xuất của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, song có một vài đề nghị bổ sung, sửa đổi sau đây:

1. Đối với cây trồng

1.1. Không nên đưa cây sắn nguyên liệu vào nhóm cây chủ lực không phải vì chỉ đóng góp khoảng 0,7% vào giá trị sản xuất của ngành, phương án của Sở cũng chỉ tìm giải pháp hỗ trợ để đảm bảo đủ nguyên liệu cho 3 nhà máy hiện có; mặt khác đây là loại cây trồng "phá đất" và thực sự không thu hút nhiều lao động. Cả về tiêu chí xã hội, kinh tế, môi trường và hướng phát triển ưu tiêu (quy hoạch và danh mục chung cả nước) đều không lợi thế.

1.2. Cân nhắc đánh giá lại cây lạc. Hiện nay Việt Nam đang đứng thứ 5 về sản xuất lạc ở châu Á. Tuy diện tích (S) nhiều năm nay không tăng nhưng tương đối ổn định, xấp xỉ 150.000 ha, năng suất bình quân 2,4 tấn/ha. Nghệ An có S ≈ 15.000 ha (10% cả nước). Riêng năm 2014 có S: 17.950 ha, sản lượng đã đạt 35.000 - 40.000 tấn. Đây là vùng lạc truyền thống, tuy đóng góp chỉ 1,53 % giá trị của ngành, nhưng lại thu hút lao động cao, nhất là hộ dân vùng đất cát pha và thời vụ ngắn, thân thiện môi trường, cải tạo đất và còn có tác dụng trồng xen vụ, rải vụ. Nếu đầu tư thêm để có giống năng suất cao ở mức khả thi 4 - 5 tấn/ha gắn với công nghiệp chế biến chắc sẽ khác? Hiện nay bình quân năng suất ở Nghệ An mới đạt 2,6 tấn/ha.

1.3. Tách hẳn cây bơ thuộc loại cây chủ lực trong tương lai gần, từ đó để có chính sách khuyến khích và thu hút đầu tư mở rộng, nhất là để tái cơ cấu kinh tế cho miền Tây Nghệ An.

1.4. Đưa cây chanh không hạt (có múi) vào cây chủ lực trong kế hoạch phát triển từ nay đến 2030. Trên cơ sở đánh giá lại vùng chanh đang rất nhiều hạt hiện nay và quy hoạch hướng phát triển mới để kêu gọi thu hút đầu tư gắn với cải tạo vườn chanh hiện có ở các huyện truyền thống của tỉnh nhà.

1.5. Cây lấy gỗ, dược liệu thống nhất như dự thảo của Sở Nông nghiệp.

2. Đối với chăn nuôi

2.1. Đàn trâu cả nước đang có xu hướng giảm, nguyên nhân do hiệu quả kinh tế không cao, diện tích chăn thả giảm, dùng làm sức kéo gần như không. Tuy vậy hiện tại vẫn là nguồn thu nhập và giải quyết việc làm khá lớn của hộ dân vùng nông thôn, và vẫn là nguồn thực phẩm quan trọng của họ trong vòng 10 - 15 năm nữa; hơn nữa đàn trâu Nghệ An đang chiếm ≈ 12% tổng đàn cả nước (280.000/2.350.000 con). Vì vậy cùng với đàn bò nhất định trong thời gian tới vẫn phải được quan tâm phát triển.

2.2. Đàn bò thịt của tỉnh đã chiếm 7,2% tổng đàn cả nước (425.000/5.940.000 con) nhu cầu đang tăng đều đến hàng năm, có nhiều tỉnh đang xây dựng kế hoạch tăng nhanh đàn đến 2025. Như Thái Bình đang đặt kế hoạch đến 2025 tăng trưởng đến gấp 3 lần so với 2019 (Tuy nhiên tổng đàn hiện nay chỉ có 55.000 con)…

Nghệ An vừa có truyền thống, vừa có tiềm năng để tăng nhanh đàn cả hình thức hộ gia đình, trang trại, doanh nghiệp.

2.3. Đàn bò sữa cả nước đang tăng rất nhanh, năm 2018 tổng đàn là: 250.000 con, thì 2019 là: 322.000 con. Nghệ An đã có 2 doanh nghiệp có thương hiệu không chỉ ở trong nước mà đã có tên tuổi ở nhiều nước trên thế giới, sản phẩm sữa của T.H và Vinamilk đang có giá trên thị trường. Tổng đàn ở Nghệ An chỉ chiếm 1,9% cả nước (60.000/322.000 con), nhưng đang tạo ra những đột phá trong chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh nhà cả về sản phẩm, công nghệ, chuỗi sản xuất được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ghi nhận. Nghệ An đủ điều kiện để tăng nhanh đàn bò sữa, để tăng nhanh sản phẩm sữa.

2.4. Lợn và gia cầm (gà vịt) vừa là sản phẩm đạt tiêu chí kinh tế, xã hội (việc làm) và cũng là sản phẩm truyền thống của địa phương, phù hợp với yêu cầu ngày càng phát triển của thị trường và cũng nằm trong danh mục sản phẩm chủ lực của ngành nông nghiệp Việt Nam.

3. Thủy sản

Dự kiến cuối 2020 giá trị sản lượng thủy sản chỉ chiếm 16,14% tổng giá trị của ngành (so với tỷ trọng thủy sản trong nông nghiệp toàn quốc thì Nghệ An ở mức thấp. Cả nước thủy sản 23,7% GDP nông nghiệp). Nhưng khả năng để phát triển ngành thủy sản ở Nghệ An là rất lớn kể cả nước mặn, lợ và nước ngọt.

Muốn phát triển bền vững ngành này nhất định tỉnh ta phải tập trung vào nuôi trồng là chính. Đây là dư địa rất lớn ở Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đưa cá nước ngọt và tôm vào danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực vừa phù hợp với nhu cầu ngày một tăng của thị trường trong nước (trong tỉnh) và quốc tế; Vừa phù hợp với thực tế của tỉnh nhà và định hướng phát triển của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Thực tế hiện nay Nghệ An đã có nhiều mô hình nuôi tốt như ở Diễn Trung - Diễn Châu, ở Quỳnh Phương - Quỳnh Lưu... Riêng sản lượng thủy sản Quỳnh Lưu năm 2018 đã đạt 74.000 tấn là rất đáng khuyến khích phát triển.

IV. Về mục tiêu và giải pháp

Từ thực tiễn đó, cần tập trung làm rõ một số giải pháp sau:

1. Cần chuyển hẳn tư duy phát triển một nền nông nghiệp toàn diện sang tư duy phát triển nông nghiệp sạch, ứng dụng công nghệ cao trên nền tảng hiệu quả kinh tế theo tín hiệu thị trường.

Đây không phải là vấn đề mới nhưng không dễ gì áp dụng. Một thực trạng là cả hệ thống nông nghiệp Việt Nam chưa thoát khỏi tư duy "phát triển một nền nông nghiệp toàn diện…"? Nghệ An có quyết tâm để thoát khỏi vòng này không?

Trên cơ sở tư duy đó mới có thể tập trung đầu tư khai thác lợi thế vùng sinh thái và phát triển nông sản chủ lực hiệu quả được. Nguồn lực đầu tư, nhất là khâu chủ trương mới có thể tập trung mở rộng.

2. Đầu tư cho khâu giống (cả cây và con) là khâu quyết định. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, khoa học sinh học thế giới, loài người đã tạo được bước đột phá lớn trong cây trồng vật nuôi, vừa nâng cao được giá trị sản lượng, vừa chất lượng đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người trong kinh tế hội nhập toàn cầu.

Tư duy nông nghiệp ngày nay không thể: "Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống" được nữa. Mà nhất định phải là "nhất giống". Giống thế nào thì yêu cầu phân bón, nước và công chăm bón thế đó!

Ví dụ: Những năm gần đây huyện Ứng Hòa, Hà Nội đã nhận chuyển giao giống bò: BBB (gọi là 3B) do Trung tâm giống vật nuôi của Học viện Nông nghiệp Việt Nam nhập từ Bỉ, nuôi tại Ứng Hòa 15 - 18 tháng xuất chuồng. Trọng lượng xuất chuồng bình quân 500 - 600 kg/con. Bò đực đã đạt cao 900 - 1.200 kg/con, bò cái 600 - 800 kg/con, thành thịt xẻ hơn 52% (bò thường chỉ 35 - 42%). Giá bán hiện nay tại Hà Nội hơi 90.000 đồng/kg, thịt 240.000 - 250.000 đồng/kg. Chỉ cần lấy tinh Bò 3B phối với Bò lai là được. Nghệ An đã phối để có bò 3B này chưa? Nếu như trước đây chúng ta đã thành công trong Sin hóa đàn bò thay đàn bò "nhọn 2 đầu" thì nay nên tính giống mới.

Ví dụ 2: Ai nghĩ Nghĩa Đàn đã thành công quả bơ Mỹ? Sự thực nó sẽ trở thành một trong những trái cây chủ lực ở Nghệ An trong tương lai gần. Nếu chúng ta tiếp tục tạo môi trường phát triển.

3. Kiên trì chính sách thúc đẩy sản xuất theo chuỗi giá trị dưới sự dẫn dắt của doanh nghiệp đầu đàn có ứng dụng công nghệ cao.

4. Soát lại chính sách tổ chức tiêu thụ cho sản phẩm nông nghiệp chủ lực không chỉ ở khâu chế biến, bảo quản mà ngay cả khâu xây dựng thương hiệu, xúc tiến, quảng bá sản phẩm và kết nối mạng thị trường trên phạm vi toàn tỉnh, vùng và quốc gia. Nghệ An hoàn toàn đủ điều kiện để phát triển hệ thống tiêu thụ: từ chợ truyền thống, đến chợ đầu mối, siêu thị và thị trường điện tử mạng. Vấn đề quan trọng là lựa chọn xác định đúng địa điểm, bố trí đúng chủ đầu tư? (Chúng ta cũng đã có bài học thất bại về vấn đề này).

5. Đơn giản, sát thực và hiệu quả hóa chính sách hỗ trợ cho dân và doanh nghiệp (đối tượng) tham gia vào sản xuất sản phẩm nông sản chủ lực theo hướng hỗ trợ trực tiếp vào những nội dung, chương trình phục vụ cộng đồng, khu vực liên quan sản xuất và dịch vụ sản xuất; hỗ trợ, thưởng cái họ làm ra sát thực cho quá trình đầu tư, phát triển bền vững.

Ví dụ: Ở Nghệ An khi tiến hành đàm phán và xây dựng nhà máy đường NAT&L, phía đối tác đề nghị tỉnh nâng cấp đường quốc lộ từ Quốc lộ 1A lên Quỳ Hợp (khi chưa có cầu qua sông Hiếu như bây giờ) làm hệ thống đường giao thông vận chuyển mía nội đồng (nhà máy mua mía của dân) gắn với quy hoạch phát triển vùng mía, chiều dài 80 km và hỗ trợ dân trồng mía. Tỉnh đã báo cáo Chính phủ và chúng ta đã làm được điều đó. Trong mọi giai đoạn thăng trầm của các nhà máy đường trong cả nước thì NAT&L vẫn hiệu quả nhất.

Tình hình hiện nay ở nước ta và tỉnh Nghệ An đề nghị: Ngoài việc hỗ trợ và phát triển hạ tầng (nếu chưa có) thì nên áp dụng 2 hình thức sau đây vừa dễ quản lý vừa khuyến khích doanh nghiệp tích cực phát triển sản xuất:

a) Hỗ trợ lãi suất tiền vay cho quá trình đầu tư mới khi có áp dụng giống và công nghệ mới, tỷ lệ % do điều kiện thực tiễn mà công bố.

b) Thưởng % phần vượt thuế cho đối tượng nộp thuế, nhưng yêu cầu tiền thưởng ấy tiếp tục đầu tư vào tài sản cố định hoặc lưu động; không đưa vào lãi để chia nhau.

Đây cũng là kinh nghiệm của Nghệ An nhiều năm qua và nhiều tỉnh hiện nay đang làm. Nhất là phần hỗ trợ lãi suất tiền vay.

c) Hỗ trợ xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu.

Cách hỗ trợ này hiệu quả, đỡ phiền hà và dễ giám sát quá trình thực hiện.

V. Lời kết

Cho đến kết thúc năm 2019 (cuối thập niên thứ 2 của thế kỷ XXI) cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Nghệ An vẫn chiếm 19 - 20% tỷ trọng GDP tỉnh nhà. Tuy là không lớn, nhưng trên bình diện chung Nghệ An vẫn là tỉnh nông nghiệp, vẫn còn tới 42% lao động nông nghiệp và hơn 85% cư dân sống ở nông thôn; và thực tế trong vòng vài chục năm nữa (theo tôi) lợi thế so sánh của Nghệ An so với cả nước vẫn là nông nghiệp (nông - lâm - ngư). Vì vậy Nghệ An cần tranh thủ cơ hội, nhất là sau khi đã xác lập được những sản phẩm nông nghiệp chủ lực, cùng với những sản phẩm đặc sản, đặc trưng của tỉnh có chính sách phù hợp thúc đẩy phát triển nhanh tạo đột phá ngay trong 5 - 10 năm đầu này nhằm thực hiện mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư Bác gửi BCH Đảng bộ tỉnh ngày 21/7/1969: "… Rất mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc".

 

Nguyễn Quốc Hồng

Tháng 1 năm 1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (khóa II) mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, xác định "Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam, phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đánh đổ quyền thống trị của đế quốc, phong kiến, trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm - tay sai của đế quốc Mỹ, thiết lập chính quyền cách mạng"(1).

Thực hiện nghị quyết của Trung ương Đảng và nghị quyết của Tổng quân ủy Trung ương, Bác Hồ và Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định mở tuyến đường chiến lược vận tải quân sự từ miền Bắc xuyên qua dãy Trường Sơn trùng điệp để chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam. 

Ngày 5 tháng 5 năm 1959, Bộ Quốc phòng tổ chức "Đoàn công tác quân sự đặc biệt" làm nhiệm vụ mở đường, vận chuyển hàng quân sự vào chiến trường, tổ chức đưa, đón cán bộ, chuyển công văn, tài liệu từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc. 

Ngày 19 tháng 05 năm 1959, "Đoàn công tác đặc biệt" đã tiến hành mở đường chiến lược Hồ Chí Minh, điểm xuất phát tại thị trấn Lạt, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, điểm cuối cùng Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Từ khi mở đường đến cuộc tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đường Hồ Chí Minh không ngừng được mở rộng, kéo dài, vươn tới các chiến trường với chiều dài 17.000 km đường cho xe cơ giới hoạt động. Riêng phía Đông Trường Sơn 1.920 km với 5 hệ thống đường dọc và 21 trục ngang nối với các chiến trường. Đường giao liên dài 3.000 km, đường ống dẫn dầu gần 1.400 km.

Từ ngày mở đường đến kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng, trên con đường Hồ Chí Minh huyền thoại, bộ đội Trường Sơn đã vận chuyển 455 triệu tấn vũ khí, lương thực, đạn dược và gần 58 triệu tấn xăng dầu chi viện cho chiến trường miền Nam.

Sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử, ngày 27 tháng 4 năm 1990 cột mốc km số 0 thị trấn Lạt, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Đến ngày 09 tháng 12 năm 2013, khu di tích Km0 được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định số 2383/QĐ -TTG nâng cấp thành Di tích quốc gia đặc biệt. Ngày 9 tháng 5 năm 2019, nhân kỷ niệm 60 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh - ngày truyền thống bộ đội Trường Sơn (19/5/1959 - 19/5/2019), UBND tỉnh Nghệ An ban hành Quyết định số 1489/QĐ - UBND ngày 6 tháng 5 năm 2019 công nhận điểm du lịch "Di tích quốc gia đặc biệt Km0 - Đường Hồ Chí Minh". Sau khi được công nhận Khu Di tích Km 0 - đường Hồ Chí Minh là di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, khu di tích được đầu tư xây dựng các hạng mục như: nhà trưng bày hình ảnh, tài liệu, hiện vật đường Trường Sơn - Hồ Chí Minh - Tân Kỳ - Lộc Ninh. Công trình khởi công xây dựng ngày 15 tháng 7 năm 2004, hoàn thành ngày 19 tháng 05 năm 2006 và được bàn giao đưa vào sử dụng.

Công trình bao gồm các hạng mục: Nhà trưng bày 650m2; Diện tích ngoài trời 10.113m2, hồ điều hòa và hệ thống tường rào. Sau khi đưa vào sử dụng, khu di tích đã trở thành điểm đến của khách tham quan và địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cho học sinh, sinh viên, thế hệ trẻ trên địa bàn tỉnh và cả nước. 

Theo báo cáo khoa học của Đề tài "Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể trên địa bàn miền Tây Nghệ An" hàng năm tại khu di tích đón từ 14 đến 16 ngàn khách thăm quan, trong đó có khoảng 1.500 khách nước ngoài và nhiều học sinh, sinh viên trong huyện, tỉnh đến thăm quan. 

Tuy nhiên, từ khi bàn giao đưa vào sử dụng (năm 2006) đến nay, khu di tích chỉ mới một lần chỉnh sửa các nội dung trưng bày vào năm 2009. Do vậy, hệ thống cơ sở đã xuống cấp, nhất là nhà trưng bày xuống cấp nghiêm trọng. Hệ thống hồ điều hòa, tường rào hầu như không còn tác dụng. Về trưng bày ngoài trời, mặc dầu có diện tích, không gian trưng bày nhưng đến nay hầu như chưa có hiện vật nào trưng bày. Các hiện vật trong nhà trưng bày đã lâu không được bổ sung thêm những tư liệu, hiện vật mới tạo nên sự nhàm chán cho du khách. 

Để tiếp tục phát huy Khu Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Km0 - đường Hồ Chí Minh là điểm đến cho du khách và địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống các thế hệ thanh thiếu niên, nhất là để thực sự trở thành điểm du lịch theo quyết định của UBND tỉnh. Từ đó kết nối thành tour du lịch với các di tích lịch sử văn hóa: cột mốc Km 0 - đường Hồ Chí Minh - dốc Truông Bồn với huyền thoại các nữ thanh niên xung phong - phà Nam Đàn - Ngã Ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh). Đồng thời Di tích Quốc gia đặc biệt Km 0 - đường Hồ Chí Minh trở thành trung tâm kết nối với các di tích danh thắng khác trên địa bàn, hình thành kinh tế di sản của huyện Tân Kỳ trong thời gian tới. Để đạt được mục tiêu trên, các cơ quan có trách nhiệm trên địa bàn xây dựng đề án huy động nguồn vốn từ địa phương, tỉnh, Bộ Quốc phòng và từ nguồn xã hội hóa để tôn tạo; nâng cấp nhà trưng bày gồm: phòng trung tâm, không gian trưng bày các hiện vật, hình ảnh. Bổ sung thêm các tư liệu, hình ảnh, hiện vật mới của Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và tư liệu hình ảnh, hiện vật của nhân dân Tân Kỳ qua các thời kỳ lịch sử. Cải tạo, nâng cấp hệ thống tường rào, hồ điều hòa đảm bảo kỹ thuật, mỹ thuật.

Huy động một số hiện vật trưng bày tại không gian ngoài trời để làm phong phú thêm khu di tích như: xe vận tải zin 157; xe vận tải gaz 66; pháo cao xạ 37, 57; súng 12,7mm và một số súng bộ binh cá nhân, quân tư trang, các loại dụng cụ và xe thô sơ dùng trong mở đường.v.v.. Việc đầu tư tôn tạo, nâng cấp, bổ sung các tư liệu, hiện vật và một số hạng mục tại Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Km 0 - đường Hồ Chí Minh là việc làm rất cần thiết và ý nghĩa. Sau khi tôn tạo, nâng cấp, thông qua việc trưng bày hệ thống hiện vật sẽ giới thiệu cho du khách trong và ngoài nước về trang sử vẻ vang của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tạo điểm du lịch hấp dẫn để quảng bá với du khách về hình ảnh đất nước, con người Nghệ An nói chung và huyện Tân Kỳ, các huyện miền Tây Nghệ An. Đồng thời để tri ân và tôn vinh những công lao to lớn đối với các anh hùng, liệt sĩ, các thương binh, bệnh binh, các cựu chiến binh, thành niên xung phong đã từng chiến đấu, phục vụ trên tuyến đường Trường Sơn năm xưa. Là nghĩa cử đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ trên quê hương Xô viết anh hùng.

 

Tài liệu tham khảo 

1. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành trung ương Đảng lần thứ 15 (khóa II) mở rộng. 

2. Bộ Quốc phòng - Bộ Tư lệnh binh đoàn 12: Lịch sử đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh - tập I (1959 - 1975) - NXB Quân đội nhân dân. 

3. Ban Tuyên giáo trung ương: Đề cương tuyên truyền 60 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh - ngày truyền thống mở đường Trường Sơn. 

4. Thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh: Những cột mốc vinh quang đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn và đường Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

5. Tài liệu khảo sát thực tế của tác giả. 

PGS.TS Lý Việt Quang

Đồng chí Nguyễn Duy Trinh với 75 năm tuổi đời, 55 năm tuổi Đảng, gần 60 năm hoạt động cách mạng liên tục ở cả ba miền Trung, Nam, Bắc, đã được Đảng và nhân dân tin cậy giao phó nhiều trọng trách. Đồng chí đã đem hết tâm lực và trí tuệ của mình hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Gắn bó với những trang sử hào hùng của dân tộc, cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Nguyễn Duy Trinh là tấm gương sáng của một người cộng sản kiên trung, suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Từ người thanh niên yêu nước trở thành chiến sĩ cộng sản

Đồng chí Nguyễn Duy Trinh sinh ngày 15/7/1910 trong một gia đình nông dân ở xã Nghi Thọ (nay là xã Phúc Thọ), huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An - một vùng đất địa linh nhân kiệt, giàu truyền thống yêu nước, cách mạng. Được nuôi dưỡng bởi truyền thống yêu nước của gia đình, quê hương và dân tộc, chứng kiến nỗi đau của người dân mất nước, ở Nguyễn Duy Trinh đã sớm hình thành tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc, lòng căm thù giặc và ý chí quyết tâm cứu nước, cứu dân. Điều đó đã thôi thúc Nguyễn Duy Trinh tích cực tham gia hoạt động yêu nước khi mới 17 tuổi.

Năm 1927, Nguyễn Duy Trinh tham gia các phong trào học sinh chống áp bức của đế quốc và phong kiến tay sai, đòi tự do hoạt động chính trị ở thành phố Vinh. Năm 1928, người thanh niên yêu nước Nguyễn Duy Trinh tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng - một trong những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo sự phân công của tổ chức, đồng chí vào hoạt động ở Sài Gòn, tích cực gây dựng cơ sở và tuyên truyền cách mạng. Bị thực dân Pháp bắt tại một cơ sở của Tân Việt và giam tại Khảm Lớn Sài Gòn, bị kẻ địch tra tấn dã man, nhưng dù còn trẻ tuổi, đồng chí Nguyễn Duy Trinh vẫn giữ vững khí tiết bất khuất trước kẻ thù. Không khai thác được thông tin gì, tháng 7/1930, thực dân Pháp đưa đồng chí ra tòa và kết án 18 tháng tù, sau đó trục xuất về Trung bộ.

Mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đồng chí Nguyễn Duy Trinh trở thành đảng viên lớp đầu tiên của Đảng. Trở về quê hương khi phong trào cách mạng Nghệ Tĩnh dưới sự lãnh đạo của Đảng đang lên cao quyết liệt, đồng chí đã bí mật liên lạc với chi bộ Đảng ở địa phương và tiếp tục hoạt động, được cử làm bí thư chi bộ. Năm 1931, đồng chí được cử làm Bí thư huyện ủy Nghi Lộc. Đồng chí đã cùng huyện ủy lãnh đạo phong trào cách mạng 1930-1931 ở Nghi Lộc phát triển sôi nổi, góp phần vào cao trào cách mạng sục sôi ở Nghệ - Tĩnh.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, thực dân Pháp và phong kiến tay sai thẳng tay khủng bố, đàn áp với những cuộc vây bắt, truy lùng cán bộ, triệt phá làng mạc và những vụ thảm sát đẫm máu. Hàng trăm cán bộ, quần chúng cách mạng bị bắt bớ, tù đày và giết hại, nhiều làng mạc bị đốt phá gây tổn thất nặng nề. Trong muôn vàn khó khăn, đồng chí Nguyễn Duy Trinh vẫn giữ vững tinh thần cách mạng, tích cực giữ mối liên lạc giữa huyện ủy và cơ sở cách mạng, giữ gìn cơ sở, tổ chức huấn luyện ngắn ngày cho đảng viên và quần chúng trung kiên; tiếp tục bắt mối liên lạc với những đồng chí đảng viên chưa sa vào lưới giặc, kiên trì khắc phục khó khăn, duy trì phong trào ở địa phương, đưa cách mạng rút dần vào hoạt động bí mật.

Từ một thanh niên yêu nước, qua đấu tranh và rèn luyện trong phong trào cách mạng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh trở thành một chiến sĩ cộng sản kiên trung, thuộc lớp đảng viên đầu tiên của Đảng và hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Đấu tranh trong nhà tù đế quốc, thể hiện bản lĩnh của người cộng sản kiên trung

Cuối năm 1931, đồng chí Nguyễn Duy Trinh bị thực dân Pháp bắt. Chúng dùng mọi thủ đoạn từ tra tấn dã man đến dụ dỗ hòng khuất phục đồng chí khai báo về tổ chức nhưng đều lần lượt bị thất bại. Đầu năm 1932, đồng chí bị chúng kết án 13 năm khổ sai, đày đi Buôn Ma Thuột. Vì những hoạt động cách mạng tích cực trong nhà đày Buôn Ma Thuột, năm 1935, đồng chí bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo, nơi được mệnh danh là "địa ngục trần gian". Qua đấu tranh rèn luyện trong tù, đồng chí được cử làm bí thư chi bộ, lãnh đạo cuộc đấu tranh. Năm 1941, đến thời gian đồng chí Nguyễn Duy Trinh mãn hạn tù, nhưng chính quyền thực dân, phong kiến coi đồng chí là một phần tử nguy hiểm nên đã tiếp tục đưa đi đày ở Kon Tum đến tháng 5/1945.

Trong thời gian 15 năm bị bắt, bị giam cầm ở những nhà tù khét tiếng tàn bạo của thực dân Pháp, đồng chí Nguyễn Duy Trinh luôn lạc quan, tin tưởng vào con đường cách mạng đã lựa chọn và tương lai tất thắng của sự nghiệp cách mạng. Trước những thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc, tra tấn dã man của kẻ thù, đồng chí vẫn giữ trọn khí tiết của người cộng sản bất khuất, kiên trung. Trong những lúc nguy nan nhất, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã đem tất cả tâm sức của mình, cùng với nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng như: Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Văn Lương… biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng, coi đó là trận tuyến đấu tranh mới của người cách mạng bằng cách tích cực tuyên truyền, vận động cách mạng; tổ chức đoàn kết bạn tù đấu tranh buộc kẻ thù phải giảm bớt chế độ lao tù khắc nghiệt, giành lấy sự sống để trở về với Đảng với phong trào cách mạng của nhân dân.

Sau khi ra tù, Nguyễn Duy Trinh tích cực tham gia phong trào Việt Minh. Đồng chí trở thành hạt nhân quan trọng trong việc tập hợp lực lượng, đoàn kết các tầng lớp nhân dân chuẩn bị lực lượng sẵn sàng đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ tới.

Khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, là Thường vụ xứ ủy Trung bộ, đồng chí đã lăn lộn trong phong trào kháng chiến ở Liên khu V, xây dựng căn cứ địa, vùng tự do cách mạng ở Nam Trung bộ. Sự năng động trong thực tiễn đầy gian khổ mà đồng chí Nguyễn Duy Trinh trải qua đã góp phần hình thành quan điểm, đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng.

Trở thành nhà lãnh đạo có uy tín lớn

Từ năm 1951 đến đầu năm 1965, đồng chí Nguyễn Duy Trinh được giao nhiều trọng trách lãnh đạo quan trọng các cơ quan của Đảng và nhà nước, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Thủ tướng kiêm chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Ý thức được trách nhiệm trước công việc được Đảng và Nhà nước và nhân dân giao phó, bằng phẩm chất và tài năng, đồng chí đã có những đóng góp quan trọng vào thực hiện chiến lược cách mạng của Đảng. Trên cương vị Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, với tư duy lý luận và sự am hiểu sâu sắc thực tiễn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về các mối quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế quốc dân, về các nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, về phát triển kinh tế và cải tạo xã hội, phát triển văn hóa… đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã chỉ đạo một cách toàn diện và sâu sát công cuộc đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Từ năm 1965, trước yêu cầu mới của cách mạng, Phó Thủ tướng Nguyễn Duy Trinh được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị yêu cầu thôi kiêm chức Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước để kiêm chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Đây là thời kỳ có nhiều khó khăn, thử thách khi đế quốc Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam và mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, là giai đoạn cuộc đấu tranh của chúng ta diễn ra trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao. Thời kỳ này cũng diễn ra sự bất đồng, sự phân liệt sâu sắc trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa.

Quán triệt sâu sắc tư tưởng đối ngoại độc lập, tự chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và phụ trách công tác ngoại giao của Đảng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đóng góp tích cực vào việc hoạch định và thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế. Dưới sự chỉ đạo sát sao của Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh, ngoại giao đã trở thành một mặt trận quan trọng, cùng với mặt trận chính trị và quân sự. Những đường lối ngoại giao ghi lại dấu ấn Nguyễn Duy Trinh như: nghệ thuật vừa đánh vừa đàm; phối hợp đấu tranh ngoại giao của hai miền Nam - Bắc và nghệ thuật đàm phán của ngoại giao Việt Nam mà đỉnh cao là việc ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973… đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã lãnh đạo ngành ngoại giao hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ chính trị vô cùng quan trọng: đó là tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của bạn bè, cộng đồng quốc tế cho sự nghiệp cách mạng của Việt Nam, hình thành một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam và phản đối chiến tranh xâm lược phi nghĩa.

Tiếp tục cống hiến vì sự nghiệp xây dựng đất nước và công cuộc đổi mới

Sau hai cuộc kháng chiến trường kỳ, đến năm 1975 khi đất nước thống nhất và tiến hành công cuộc tái thiết sau nhiều năm bị chiến tranh tàn phá; trong bối cảnh khó khăn, vừa phải tranh thủ sự hỗ trợ của thế giới và cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa, vừa đấu tranh chống bao vây cấm vận, trên cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng chí Nguyễn Duy Trinh tiếp tục có những đóng góp lớn trong việc thúc đẩy mở rộng quan hệ ngoại giao của Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Ngày 21/9/1977, đồng chí Nguyễn Duy Trinh thay mặt Đảng và Nhà nước Việt Nam tham dự Lễ thượng cờ Việt Nam được tổ chức tại trụ sở Liên Hợp Quốc, đánh dấu việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của một tổ chức có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới. Đồng chí cũng đề xuất với Bộ Chính trị chủ trương sớm thiết lập và tăng cường quan hệ với các nước láng giềng ở khu vực với chính sách bốn điểm nổi tiếng(1). Trên cơ sở chính sách 4 điểm, đồng chí đã góp phần thúc đẩy quá trình thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước Đông Nam Á còn lại là Thái Lan và Philippin, đồng thời có rất nhiều hoạt động nhằm xây dựng và củng cố mối quan hệ chặt chẽ giữa Việt Nam với nhiều nước khác trong khu vực.

Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng chí Nguyễn Duy Trinh còn có những đóng góp rất quan trọng trong việc xây dựng ngành ngoại giao của Việt Nam. Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn mới của cách mạng, đồng chí đã vạch ra phương hướng để xây dựng ngành ngoại giao, đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ của ngành về cả phẩm chất và năng lực, trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch cán bộ dài hạn và tiêu chuẩn hóa cán bộ…

Năm 1982, tại Đại hội lần thứ V của Đảng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh được phân công là Thường trực Ban Nghiên cứu chiến lược kinh tế - xã hội của Trung ương Đảng và Chính phủ. Trước những bất cập trong cơ chế quản lý kinh tế của đất nước khi chúng ta duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế hành chính quan liêu bao cấp gây nên tình trạng trì trệ của nền kinh tế, không kích thích được phát triển sản xuất, ảnh hưởng tiêu cực về tâm lý xã hội, đồng thời ảnh hưởng lớn đến các mặt của đời sống, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã có những ý kiến phát biểu sâu sắc về việc sửa đổi cơ chế quản lý kinh tế, về chính sách phân phối, lưu thông về phân cấp công tác quản lý kinh tế. Dành nhiều tâm huyết nghiên cứu các vấn đề kinh tế, chuẩn bị nội dung các hội nghị bàn về kinh tế của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, đồng chí đã kiến nghị về những biện pháp để tháo gỡ khó khăn của nền kinh tế và xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp. Những ý kiến tâm huyết của đồng chí đã đóng góp quan trọng vào những kết luận của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, trở thành tiền đề quan trọng cho những chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng.

Trong lúc Đảng và đất nước đang rất cần những nhà lãnh đạo có nhiều kinh nghiệm với tinh thần đổi mới và sáng tạo, ngày 20/4/1985, do tuổi cao, bệnh nặng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã từ trần tại bệnh viện Quân y Hà Nội, hưởng thọ 75 tuổi.

Tấm gương đạo đức sáng ngời 

Có thể nói, trong những năm tháng kháng chiến, thời kỳ hoạt động vô cùng gian khó, thiếu thốn, đồng chí Nguyễn Duy Trinh là một nhà hoạt động cách mạng kiên trung, một lòng tận tụy, tận trung với nước, tận hiếu với dân, sẵn sàng hi sinh bản thân vì nền độc lập của dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân, gần dân, gắn bó mật thiết với nhân dân.

Khi cách mạng thành công, Đảng trở thành đảng cầm quyền, trở thành một lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, đồng chí Nguyễn Duy Trinh lại càng tỏa sáng những phẩm chất đạo đức cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy, trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, yêu thương con người, tinh thần quốc tế trong sáng. Dù ở chức vụ cao, đồng chí luôn có lối sống giản dị, thanh bạch, chan hòa, tấm lòng rộng mở, chân tình, thương yêu cán bộ, quý trọng bạn bè, gần gũi nhân dân. Trong công việc, đồng chí không lấy quyền uy áp đặt quan điểm của mình đối với cấp dưới mà thường ôn tồn thuyết phục, luôn phát huy dân chủ, quý trọng mọi tài năng, dùng người đúng việc, không có thành kiến thiên lệch, sẵn sàng giúp đỡ mọi người…

Những công lao to lớn của đồng chí Nguyễn Duy Trinh được Đảng, Nhà nước, nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận. Đồng chí vinh dự được tặng thưởng Huân chương Sao vàng; Huân chương kháng chiến hạng Nhất; Huân chương kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất và nhiều huân chương, huy chương cao quý khác.

Viết về đồng chí Nguyễn Duy Trinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người đồng chí người bạn thân thiết đã cùng nhau làm việc trong một thời gian dài trong cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, khẳng định: "Tấm gương chiến đấu và phẩm chất cách mạng, đức tính khiêm tốn và tình thương yêu chân thành đối với đồng chí, đồng bào của anh đã để lại cho chúng ta nhiều tình cảm tốt đẹp và sâu sắc"(2).

Chú thích

1. Chính sách bốn điểm bao gồm: Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lược nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không để lãnh thổ của mình cho bất cứ nước nào dùng làm căn cứ xâm lược nước khác trong khu vực, thiết lập quan hệ hữu nghị, láng giềng tốt; phát triển hợp tác vì sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, vì độc lập dân tộc, hòa bình, trung lập ở Đông Nam Á.

2. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Nhớ anh Nguyễn Duy Trinh" in trong Nguyễn Duy Trinh - Hồi ký và tác phẩm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.107.

 

 

Đoàn Mạnh Tiến

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù bận trăm công nghìn việc vẫn dành sự quan tâm đặc biệt đối với thương binh liệt sĩ và gia đình liệt sĩ. Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về thương binh liệt sĩ, gia đình liệt sĩ toát lên những nét nhân văn cao đẹp. Tư tưởng ấy bao gồm những nội dung cụ thể sau đây:

Trước hết, Người luôn luôn có ý thức tôn vinh và khẳng định một cách hùng hồn đức hi sinh cao cả, anh dũng của những người liệt sĩ thương binh. Trong nhiều bài viết, bài nói, trong những bức thư gửi quần chúng nhân dân, đầu tiên bao giờ Người cũng khẳng định và nhấn mạnh rằng sở dĩ ngày nay toàn dân tộc được sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc là nhờ có sự hi sinh không tiếc máu xương của biết bao thế hệ liệt sĩ, thương binh: "Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt qua tất cả mọi khó khăn gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã truyền lại cho chúng ta" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 12 - trang 401). Rất nhiều lần Người đã ca ngợi, tôn vinh, trân trọng đức hi sinh, sự xả thân của các thương binh, liệt sĩ với những lời lẽ rất cảm động: "Khi giặc ngoại xâm ào ạt đến, nó như một trận lụt to. Nó sẽ đe dọa tràn ngập cả non sông, Tổ quốc. Nó đe dọa cuốn trôi cả tính mệnh, tài sản… của dân ta. Trước cơn nguy biến ấy, các thanh niên yêu quý của nước ta đã dũng cảm xông ra trước mặt trận. Họ quyết đem xương máu của họ đắp thành một bức thành đồng, một con đê vững để ngăn cản nạn ngoại xâm tràn ngập Tổ quốc, làm hại đồng bào" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 10 - trang 203). Như vậy, Hồ Chí Minh đã đánh giá cao ý nghĩa và giá trị của sự hi sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, của các liệt sĩ, thương binh. Ta thấy rõ Hồ Chí Minh là tấm gương sáng trong việc thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ người trồng cây" của dân tộc Việt Nam.

Thứ hai, Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định tính tất yếu phải làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ, tính tất yếu của việc phải thể hiện tốt đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc.

Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định rõ ràng: "Công tác thương binh, liệt sĩ là một trong những hình thức xây dựng trong lòng nhân dân "những tượng đài tưởng niệm" công ơn và sự hi sinh to lớn, cao cả của những người con ưu tú đã không tiếc máu xương xả thân cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân, để từ đó, các thế hệ kế tiếp mãi mãi ghi nhớ" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 5 - trang 79). Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh vì sao phải làm như vậy: "Bởi vì thương binh, liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, nhân dân. Họ đã quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Vì vậy bổn phận của chúng ta là phải biết ơn các thương binh, liệt sĩ. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, toàn Đảng, toàn dân cũng phải luôn ghi nhớ công ơn của các thương binh, liệt sĩ, những người đã hi sinh tính mệnh của mình hoặc bỏ lại một phần xương máu của mình trên chiến trường để cho đất nước được tự do, độc lập" (Thư gửi đồng bào cả nước nhân ngày thương binh liệt sĩ đầu tiên 27/7/1947).

Đó là tư tưởng nhất quán thể hiện rõ trong các bức thư, các bài viết của Người: "Liệt sĩ là người đã quyết hi sinh tính mệnh của mình để giữ gìn tính mệnh cho nhân dân. Thương binh là những người đã hi sinh một phần cơ thể của mình để bảo vệ non sông. Vì thế mà họ phải chịu què quặt, ốm yếu. Đồng bào chúng ta phải có nghĩa vụ, trách nhiệm đền đáp lại sự hi sinh đó. Bởi vậy, "đền ơn đáp nghĩa là việc tất yếu chúng ta phải làm" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 7 - trang 213). Qua đó ta thấy nét nhân văn trong tư tưởng của Hồ Chí Minh không chỉ là sự tiếc thương mà còn là sự tự hào về tinh thần anh dũng, bất khuất của các thương binh, liệt sĩ. Sự hi sinh của họ đã làm hồi sinh sức sống của cả dân tộc. Chính Hồ Chí Minh đã khẳng định sự hi sinh đó càng thêm cao đẹp bằng cách gắn sự hi sinh đó vào ý thức của những người còn sống về nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đối với những người đã hi sinh cho Tổ quốc, trên cơ sở đó, những người còn sống thấy rõ sự tất yếu, sự đương nhiên của việc phải đền ơn đáp nghĩa.

Thứ ba, với lòng trân trọng và lòng tiếc thương vô hạn, Hồ Chí Minh luôn luôn coi thương binh, liệt sĩ như con cháu ruột thịt của mình, coi nỗi đau, nỗi mất mát khi người liệt sĩ hi sinh là nỗi mất mát của chính bản thân mình.

Cứ mỗi lần nghe tin thanh niên hi sinh trên chiến trường là người cảm thấy như chính bản thân mình mất đi một phần cơ thể. Như khi nghe tin anh Vũ Văn Thành, con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng (Giám đốc Sở Y tế Bắc bộ) hi sinh (1947), mặc dù đang rất bận công việc lãnh đạo, kháng chiến, Người vẫn tranh thủ gửi thư thăm hỏi với những lời rất cảm động: "Tôi không có gia đình, tôi không có con cái. Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi, thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất đi một thanh niên, thêm một liệt sĩ là tôi coi như mình mất đi một đoạn ruột" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 7 - trang 112). Sau này ông Vũ Đình Tụng có kể lại rằng: "Đọc xong thư của Bác, tự nhiên tôi thấy nỗi đau thương và sự mất mát của gia đình tôi trở thành nhỏ bé trong tình thương mênh mông của Bác. Tôi biết mình sẽ phải làm gì để xứng đáng với sự hi sinh của con tôi và để khỏi phụ tấm lòng của Bác".

Không những thế, nhiều lần Người đã nói những lời lẽ đầy cảm động và thông cảm, chia sẻ: "Những ngày họ chưa hi sinh, con của họ còn là con thơ, vợ của họ còn là vợ dại, nhưng khi họ trở thành liệt sĩ thì con thơ trở thành con côi, vợ dại trở thành vợ góa, và trên bàn thờ của gia đình từ đây thêm một tấm hình liệt sĩ. Thưa toàn thể đồng bào! Của cải mất đi còn có thể lấy lại được nhưng chân tay mất đi không thể mọc lại được và những liệt sĩ không thể nào sống lại. Vì vậy, tôi mong đồng bào hãy thương lấy các thương binh và các gia đình liệt sĩ" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 8 - trang 119).

Điều đặc biệt cảm động là ngày 7/11/1946, Bác đã ra "Thông báo về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi của mình". Và tiếp đó nhất trí chọn ngày 27/7 hàng năm làm "ngày thương binh, liệt sĩ" (bắt đầu từ 27/7/1947).

Thứ tư, Hồ Chí Minh đã chỉ ra cách làm, phương pháp tiến hành, phương thức tiến hành thực hiện công tác thương binh, liệt sĩ.

Hồ Chí Minh đã vạch rõ rằng: "Công tác thương binh, liệt sĩ không giống như những công tác bình thường mà một loại công tác xã hội đặc biệt. Chính sách đối với thương binh, liệt sĩ là một loại chính sách xã hội đặc biệt, đó không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ mà còn là vấn đề lương tri, tình cảm, đó là một nét nhân văn trong đạo lý sống, trong văn hóa ứng xử, trong đạo lý sống của con người Việt Nam, công tác này phải thu hút được sự tham gia của mọi ngành, mọi giới, mọi lứa tuổi trong xã hội" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 5 - trang 216). Người khẳng định rằng Đảng Cộng sản Việt Nam phải là người khởi xướng tổ chức, lãnh đạo công tác này thông qua hệ thống các chủ trương, đường lối, chính sách, công tác này không được dừng lại ở những hô hào, kêu gọi chung chung mà phải được thể chế hóa thành luật, thành văn bản dưới luật và phải thể hiện bằng những việc làm cụ thể. Bản thân Người chỉ trong vòng 8 tháng (từ tháng 2/1947 đến tháng 10/1947) đã ký liên tiếp 3 sắc lệnh về công tác thương binh, liệt sĩ: Sắc lệnh số 20 (16/2/1947) quy định tiền hưu, thương tật, tiền tuất cho thân nhân liệt sĩ; Số 58 (6/6/1947) thưởng Huân chương cho các tập thể, cá nhân có công với nước; Số 11 (3/10/1947) thành lập các Sở Thương binh trong cả nước.

Trên đây, chúng tôi đã trình bày những vấn đề chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thương binh, liệt sĩ. Có thể nói, trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn luôn dành những tình cảm đặc biệt đối với thương binh, liệt sĩ, gia đình liệt sĩ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thương binh, liệt sĩ vẫn mãi mãi là bài học quý giá đối với tất cả chúng ta.

 

PGS.TS Đào Khang

Tóm tắt

"Lệ làng" bao gồm phong tục, tục lệ, tập quán,… được thể hiện trong hương ước của làng, có mối quan hệ mật thiết với công cuộc xây dựng nông thôn mới (NTM). Thế nhưng 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và 8 giải pháp Hướng dẫn tiếp tục thực hiện cuộc vận động lại không có tiêu chí nào liên quan trực tiếp đến "lệ làng"; và ở Nghệ An, rất ít làng còn giữ được hương ước.

Việc điều chỉnh bộ tiêu chí là rất khó khăn, phức tạp. Tuy nhiên, nếu có hương ước, trong đó có lồng ghép các tiêu chí xây dựng NTM thì việc thực hiện (của người dân trong làng xã) sẽ thuận lợi và công tác đánh giá kết quả xây dựng NTM (của chính quyền) sẽ nhanh chóng và chính xác hơn.

Bài viết trình bày khái quát vai trò của phong tục, tục lệ của làng trong bảo vệ bản sắc văn hóa Việt, trong quản lý tổ chức lãnh thổ nông thôn và đề xuất xây dựng hương ước có lồng tiêu chí xây dựng NTM nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng NTM ở Nghệ An.

1. Đặt vấn đề

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên những thành tựu đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất nước để phát triển một nền kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại.

Từ thực tế đó, Chính phủ Việt Nam đã có cuộc vận động xây dựng nông thôn mới (NTM) với mục tiêu "kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao".

Cuộc vận động được toàn bộ hệ thống chính trị - xã hội từ Trung ương đến địa phương, nhiều bộ, ban ngành trong cả nước triển khai thực hiện quyết liệt:

Ngày 5/8/2008 Chính phủ Việt Nam xây dựng "Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới"(1).

Ngày 4/6/2010, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020"(2).

Ngày 16/8/2016, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020"(3).

Ngày 27-29/5/2020 Hội nghị toàn quốc hệ thống Văn phòng Điều phối nông thôn mới năm 2020 được tổ chức tại tỉnh Quảng Trị(4) và tại nhiều địa phương khác, thời điểm khác.

Sau 10 năm triển khai, công cuộc xây dựng NTM đã "đạt và vượt các mục tiêu đề ra trước gần 2 năm, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước"(5)(Quang Huy, 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020: kết quả và bài học kinh nghiệm (Báo Dân vận, thứ ba, 12/5/2020 8:57'(GMT+7).

Ở Nghệ An, công tác xây dựng NTM thực sự trở thành sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân; được cả hệ thống chính trị đồng lòng, chung sức thực hiện. Kết quả 10 năm xây dựng NTM, Nghệ An đã tạo ra một diện mạo nông thôn mới, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Với những bước tiến vượt bậc, Nghệ An vươn lên đứng thứ 5 trong cả nước về xây dựng NTM(6).

Một đặc điểm của bộ tiêu chí quy định đạt chuẩn NTM là chú trọng nhiều đến giá trị vật thể của kiến trúc làng - nông thôn. Còn giá trị phi vật thể, trong đó có phong tục, tục lệ,… chỉ được lồng ghép trong các tiêu chí văn hóa, giáo dục, hệ thống tổ chức chính trị và tiếp cận pháp luật,… mà không có tiêu chí riêng.

Đặc điểm đó của bộ tiêu chí dẫn đến sự hạn chế đóng góp của phong tục, tục lệ của làng vào xây dựng NTM và xây dựng NTM có thể ảnh hưởng đến phong tục, tục lệ của làng ở Việt Nam nói chung, ở Nghệ An nói riêng.

Nên chăng, trong tiến trình xây dựng NTM, cần quan tâm đến tiêu chí phi vật thể như phong tục, tục lệ của làng - xã, đồng thời có biện pháp bảo tồn và phát huy vai trò của phong tục, tục lệ của làng vào xây dựng NTM. Một trong những biện pháp đó là thôn bản làng xã cần có hương ước và người dân thực hiện nghiêm hương ước như ông cha ta đã từng làm.

2. Vai trò của phong tục, tục lệ của làng

Phong tục là những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày.

Tục lệ là những quy định có từ lâu đời, đã trở thành thói quen trong đời sống xã hội.

Phong tục, tục lệ có thể phổ biến ở cấp quốc gia hay địa phương. Có phong tục, tục lệ có ý nghĩa tích cực cần gìn giữ (mỹ tục), có phong tục, tục lệ mang tính tiêu cực cần thay đổi, xóa bỏ (hủ tục).

Có ý kiến cho rằng ngày trước, cơ chế làng xã bền chặt với các phong tục, tục lệ của làng được thực hiện nghiêm đã góp phần quan trọng chống lại chính sách đồng hóa của ngoại bang, bảo vệ bản sắc văn hóa Việt và quản lý tổ chức lãnh thổ nông thôn Việt Nam phát triển bền vững.

Ngày nay, trong tiến trình xây dựng NTM, phong tục, tục lệ của làng vẫn có những đóng góp nhất định. Xây dựng NTM cũng có nhiệm vụ bảo tồn, sửa đổi phong tục, tục lệ của làng cho phù hợp với pháp luật của Nhà nước, phương hướng, nhiệm vụ của cuộc vận động, đặc điểm của địa phương. Các nội dung này cần đưa vào hương ước thôn bản làng xã.

2.1. Phong tục, tục lệ của làng góp phần chống lại chính sách đồng hóa của ngoại bang

Thời cổ, nền văn hóa Hán ngữ của Trung Quốc từng có sức đồng hóa rất mạnh. Dân tộc Hồi ngày xưa dùng chữ A Rập, sau khi giao lưu với người Hán đã dùng chữ Hán và nói tiếng Hán. Dân tộc Mãn sau khi chiếm Trung Quốc, lập ra nhà Thanh đã kiên quyết đồng hóa dân tộc Hán, trong đó có việc bắt bỏ chữ Hán, chỉ dùng chữ Mãn,… Tuy nhiên, chưa đến giữa đời Thanh thì tiếng Mãn, chữ Mãn đều biến mất. Người Mãn chỉ dùng tiếng Hán và chữ Hán. Họ bị đồng hóa ngược bởi chính nền văn hóa Hán.

Thế nhưng sau hơn ngàn năm bị bọn phong kiến người Hán thống trị và cưỡng bức đồng hóa, dân tộc Việt Nam vẫn không bị Hán hóa.

Nhiều quốc gia trên thế giới, sau khi bị các đế quốc châu Âu chiếm làm thuộc địa, đã bị đồng hóa ngôn ngữ. Thường thì sau 5 - 6 thế hệ (mỗi thế hệ khoảng 25 năm), ngôn ngữ của người bản xứ bị thay bằng ngôn ngữ của nước cai trị. Các nước châu Mỹ La tinh nói tiếng Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Nhiều quốc gia châu Phi (Benin, Togo, Senegan…) nói tiếng Pháp. Hoa Kỳ, New Zeeland, Australia,… dùng tiếng Anh.

Ở Việt Nam, từ năm 1918, bắt đầu dạy tiếng Pháp ở lớp cuối Tiểu học. Sau đó học sinh Trung học cơ sở trở lên đến trường chỉ nói tiếng Pháp, giáo viên chỉ dạy bằng tiếng Pháp… Vậy nhưng, Việt Nam chỉ nằm trong Cộng đồng Pháp ngữ mà không lấy tiếng Pháp làm quốc ngữ. Không nhiều dân tộc trên thế giới làm được điều này.

Để có được kỳ tích đó, ngoài yếu tố nhân dân ta giàu lòng yêu nước, tính tự lực tự cường và tinh thần dân tộc cao,… thì một nguyên nhân rất quan trọng là: xã hội Việt Nam từ xưa đã có cơ chế làng xã bền chặt, được quản lý không chỉ "phép vua" mà còn có cả "lệ làng" bao gồm cả phong tục, tục lệ,… của làng được ghi rõ trong hương ước.

2.2. Vai trò của phong tục, tục lệ của làng trong việc quản lý tổ chức lãnh thổ nông thôn

Nông thôn là vùng lãnh thổ (thôn/làng) của cộng đồng dân cư sinh sống chủ yếu bằng một nghề (nông). Nông thôn là địa bàn phát triển sản xuất của ngành nông nghiệp, là môi trường sống của người nông dân trong các làng.

Làng ở Việt Nam được hình thành rất sớm, từ khi mới lập nhà nước Âu Lạc, suốt thời đại Hùng Vương, các triều đại phong kiến, chế độ thực dân… cho đến tận ngày nay.

Ở nông thôn Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng, người trong làng có mối quan hệ với nhau về tình là dựa theo huyết thống (một giọt máu đào hơn ao nước lã) và láng giềng (bán anh em xa mua láng giềng gần); về lý là dựa vào phong tục, tục lệ - hương ước hay lưu chiếu văn (lệ làng được ghi bằng văn bản) và luật tục (lệ làng được quy định bằng lời nói) quy định cách ứng xử của các thành viên trong làng.

Quá trình hình thành và phát triển của văn hoá pháp lý Việt Nam, "phép vua/luật nước và lệ làng/hương ước luôn là hành trang pháp lý song hành trong mọi thăng trầm của đất nước. Các vương triều Việt Nam đã xây dựng và thực thi nhiều bộ luật lớn (Hình thư triều Lý, Hình thư triều Trần, Quốc triều Hình luật triều Lê, Hoàng triều luật lệ triều Nguyễn) vẫn duy trì, tôn trọng lệ làng, coi đó là công cụ điều chỉnh - duy trì quan hệ giữa quốc gia và cộng đồng làng xã.

2.3. Phong tục, tục lệ của làng trong xây dựng nông thôn mới

2.3.1. Phong tục, tục lệ của làng chưa được thể hiện đầy đủ trong bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

Làng ở nông thôn Việt Nam từng được coi như một quốc gia thu nhỏ với một "luật pháp riêng". Mỗi làng như là một "triều đình riêng" với hội đồng kỳ mục là cơ quan lập pháp, lý dịch là cơ quan hành pháp,... Sự can thiệp của nhà nước phong kiến, và sau này của chế độ thực dân không làm ảnh hưởng nhiều đến tổ chức làng xã, thậm chí có khi "phép vua thua lệ làng".

Trong cuộc vận động xây dựng NTM, phép vua chính là chủ trương/bộ tiêu chí xây dựng NTM, lệ làng bao gồm phong tục, tục lệ, tập quán,… của làng, có mối quan hệ mật thiết với công cuộc xây dựng NTM.

Tuy nhiên, "phép vua" với 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới(7) (mỗi tiêu chí lại được các địa phương cụ thể hóa thành nhiều tiêu chí nhỏ hơn: Quảng Bình: 39; Bến Tre 49; Miền núi Nghệ An 15 tiêu chí lớn, 39 tiêu chí cụ thể(8)) và 8 giải pháp Hướng dẫn tiếp tục thực hiện cuộc vận động(9), thì không có tiêu chí nào liên quan trực tiếp đến "lệ làng". Vì vậy, các báo cáo kết quả thực hiện xây dựng NTM của các địa phương không thể hiện rõ vai trò/đóng góp của "lệ làng".

Việc bổ sung, điều chỉnh bộ tiêu chí xây dựng NTM là rất khó khăn, phức tạp. Tuy nhiên, có thể bổ sung một số biện pháp liên quan đến "lệ làng" nhằm thực hiện hiệu quả hơn công cuộc xây dựng NTM.

2.3.2. Biện pháp nâng cao hiệu quả xây dựng NTM liên quan đến phong tục, tục lệ của làng ở Nghệ An

Đối với một nước nông nghiệp, làng là gốc của đất nước. Hoạt động xây dựng NTM với bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban hành chủ yếu là cho các làng và thực hiện ở các làng.

Ở Nghệ An, làng ở đồng bằng, bản ở miền núi là môi trường văn hoá pháp lý để phát huy hiệu lực của bộ tiêu chí về NTM trong mối quan hệ bảo lưu các nét đặc trưng lối sống cộng đồng dân cư nông thôn của một tỉnh có nền kinh tế thiên về nông nghiệp. Phong tục, tục lệ của làng bản cần được vận dụng như là phương tiện hỗ trợ chuyển tải các tiêu chí xây dựng NTM vào cụ thể từng thôn bản làng xã. Nói cách khác, để cuộc vận động xây dựng NTM đi vào thực tiễn, các tiêu chí phải tìm cách hoá thân vào các quy định của lệ làng/hương ước, thông qua phong tục, tục lệ,… của làng bản.

Theo cố PGS Ninh Viết Giao, các hương ước ở Nghệ An (còn giữ lại được) về cơ bản đều thể hiện ý thức hệ Nho giáo. Đó là các quy định về "tam cương, ngũ thường", về "tôn ti trật tự" trong các quan hệ có tính thứ bậc trong làng xã.

"Thứ bậc" trong hương ước mới, về cơ cấu có thể vận dụng thành các tổ chức đoàn thể Đảng, Đoàn, kể cả Phụ lão, Thiếu niên, Nhi đồng, Nhi ấu; các hội Phụ nữ, Cựu chiến binh, Khuyến học, Hội đồng gia tộc trong các họ, Trưởng thôn ở khu vực đồng bằng; Già làng, Trưởng bản ở khu vực miền núi.

Một trong những biện pháp có thể bổ cứu, cụ thể hóa tiêu chí xây dựng NTM chung cho các địa bàn ở Nghệ An (ven biển, đồng bằng, miền núi) là hoàn thiện bộ hương ước (đối với những nơi còn giữ được hương ước của tổ tiên) hoặc xây dựng hương ước mới (đối với những nơi bị mất hương ước).

Hương ước là một phần lệ làng được văn bản hóa, phản ánh trung thực, cụ thể và sinh động những quy định mang nét đặc trưng của làng. Sự phát triển ổn định hàng ngàn năm nay của nông thôn Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng không thể tách rời vai trò của hương ước và sự thực thi hương ước nghiêm minh của người xưa. Nếu xây dựng NTM có yếu tố hương ước thì hiệu quả sẽ rất cao. Ví dụ:

Trong bộ tiêu chí NTM, tiêu chí 17. Môi trường, có 2 mục nhỏ luôn có trong hương ước làng xã trước đây:

- Mục 17.3. Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường... Trong các hương ước luôn có khoản "không ai được vi phạm cây cối của làng". Thực tế là ngày xưa không ai dám động đến cây đa hay bất cứ cái cây nào của làng (Ngày nay cây "quốc cấm" như cây sưa ngay giữa thủ đô Hà Nội cũng bị chặt). Nếu có hương ước, trong đó có điều khoản "cấm vi phạm cây xanh của làng" thì tất cả các làng đều nghiễm nhiên đạt tiêu chí này.

- Mục 17.5. Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định. Tiêu chí này hiện nay rất khó thực hiện ở phạm vi làng xã. Ngày trước trong hương ước có điều khoản "cấm vi phạm nguồn nước" được dân làng bản thực hiện rất nghiêm. Thậm chí phụ nữ ngày kinh nguyệt cũng tự biết mà không đến nơi có nguồn nước của làng bản (Ngày nay người dân sẵn sàng vứt cả gia súc, gia cầm chết vì dịch bệnh ra mương máng, ao hồ trong làng). Nếu có hương ước, trong đó có điều khoản "cấm xả các loại chất thải chưa được xử lý theo tiêu chuẩn ra môi trường" thì tất cả các làng đều nghiễm nhiên đạt tiêu chí này.

Người dân nông thôn Nghệ An trước đây ít được học hành so với ngày nay nhưng thực hiện "luật nước" nghiêm hơn ngày nay vì họ đã quen với việc chấp hành các điều khoản trong hương ước. Khi người dân chưa kịp quen với "luật nước" thì trước hết nên để họ thực thi hương ước (Chưa kể nhiều bộ luật của Việt Nam còn chưa thật hoàn thiện. Từ nhiều năm nay, mỗi năm Quốc hội họp 2 kỳ, mỗi kỳ họp trên dưới 1 tháng, kỳ nào cũng có nội dung bổ sung, sửa đổi luật).

Ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, rất nhiều làng còn giữ được đầy đủ hương ước của tổ tiên (như hương ước làng Thổ Khối, tổng Cự Linh, huyện Gia Lâm, Hà Nội; hương ước làng Phú Cốc (Hà Tây cũ) còn có cả bản gốc(10). Trong tác phẩm "Hương ước trong làng xã đồng bằng Bắc bộ nửa đầu thế kỷ XX" của Vũ Duy Mền và Trịnh Thị Hà, có tham khảo hương ước của 25 làng(11).

Ở Nghệ An hiếm làng còn giữ được hương ước xưa của tổ tiên. 

Xây dựng và/hoặc hoàn thiện hương ước là rất cần thiết. Các chi tiết trong hương ước sẽ khác xưa nhưng điều khoản thi hành thì phải nghiêm như ngày xưa. Nội dung hương ước nằm trong khuôn khổ pháp luật và mang đặc điểm riêng của mỗi bản làng.

Nếu hương ước có lồng tiêu chí xây dựng NTM thì hiệu quả thực hiện của làng xã sẽ cao và công tác theo dõi, đánh giá, nghiệm thu của chính quyền sẽ nhanh chóng, chính xác hơn. Nhưng quan trọng hơn cả là hạn chế được các hiện tượng, hành vi sai trái của người dân.

Cần lưu ý là: để hương ước được thực thi hiệu quả, cần tăng thêm trách nhiệm, quyền hạn và quyền lợi cho trưởng thôn.

Thời phong kiến, lý trưởng (tương đương trưởng thôn ngày nay) có quyền cấp đất (ngang quyền hạn của chủ tịch huyện ngày nay), có quyền ra lệnh trói, đánh, làm nhục người có tội (bất cứ chức vụ gì hiện nay cũng không được làm). Quyền của trưởng thôn và ban cán sự thôn ngày nay không thể như quyền của lý trưởng và hội đồng kỳ mục thời phong kiến. Nhưng nếu trưởng thôn ngày nay gần như không có quyền hạn gì thì hương ước của làng sẽ giảm hiệu lực; tác dụng của hương ước sẽ không cao.

3. Kết luận

Ngày trước, cơ chế làng xã bền chặt và toàn dân thực hiện nghiêm hương ước đã góp phần tạo nên thành tựu vĩ đại rất đáng tự hào của dân tộc ta là không bị ngoại bang đồng hóa mà hoàn cảnh nào cũng giữ được bản sắc văn hóa Việt.

Sự phát triển bền vững hàng ngàn năm qua của dân tộc Việt Nam, một phần cũng nhờ vào sự quản lý lãnh thổ nông thôn bằng hương ước, phong tục, tục lệ.

Để công cuộc xây dựng NTM được thực thi thuận lợi (phía nông dân) và việc giám sát, đánh giá được nhanh chóng, chính xác (phía cơ quan quản lý), các làng bản ở Nghệ An, còn giữ được hay đã mất hương ước, cần xây dựng, hoàn thiện hương ước, công cụ hữu ích cho nhiều mục đích, trong đó có công cuộc xây dựng NTM.

 

Chú thích

1. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.

2. Cổng thông tin điện tử nước CHXHCNVN ngày 4/6/2010. Quyết định số 800/QĐ-TTg.

3. Thư viện pháp luật 10/11/2017. Quyết định số 1760/QĐ-TTg.

4. Cổng thông tin điện tử Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới. 30/5/2020).

5. Quang Huy, 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020: kết quả và bài học kinh nghiệm (Báo Dân vận. Thứ Ba, 12/5/2020 8:57'(GMT+7).

6. Đ.A. Một số kết quả nổi bật sau 10 năm xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An. nghean.dcs.vn. 22/10/2019.

7. 19 tiêu chí: 1. Quy hoạch và thực hiện quy hoạch; 2. Giao thông; 3. Thủy lợi; 4. Điện; 5. Trường học; 6. Cơ sở vật chất văn hóa; 7. Chợ nông thôn; 8. Bưu điện; 9. Nhà ở dân cư; 10. Thu nhập; 11. Hộ nghèo; 12. Cơ cấu lao động; 13. Hình thức tổ chức sản xuất; 14. Giáo dục; 15. Y tế; 16. Văn hóa; 17. Môi trường; 18. Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh; 19. An ninh, trật tự xã hội.

8. UBND tỉnh Nghệ An, Bộ tiêu chí thôn, bản miền núi đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2017 - 2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số: 2337/QĐ-UBND ngày 01/6/2017).

9. 8 giải pháp là: 1. Tiếp tục thực hiện cuộc vận động xã hội sâu rộng về xây dựng nông thôn mới; 2. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách; 3. Đa dạng hóa các nguồn vốn huy động để thực hiện Chương trình; 4. Cơ chế phân bổ, giám sát và theo dõi các nguồn vốn thực hiện Chương trình; 5. Cơ chế hỗ trợ; 6. Cơ chế đầu tư; 7. Hợp tác quốc tế trong xây dựng nông thôn mới; 8. Điều hành, quản lý Chương trình.

10. Bùi Xuân Đính, Hương ước về quản lý làng xã, NXB Khoa học Xã hội, H. 1998 (Dẫn theo Lê Minh Thông. Luật nước và hương ước lệ làng trong đời sống pháp lý của các cộng đồng làng xã Việt Nam. VNH3.TB7.851).

11. Vietnam Citation Gateway (V-CitationGate). Truy cập tháng 6/2020.

 

Tài liệu tham khảo

1. Bùi Xuân Đính, Hương ước về quản lý làng xã, NXB Khoa học Xã hội, H. 1998,

2. Đ.A, Một số kết quả nổi bật sau 10 năm xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An. nghean.dcs.vn. 22/10/2019.

3. Cao Xuân Huy: Tư tưởng phương Đông - Gợi những tầm nhìn tham chiếu, Nxb Văn học, Hà Nội 1995.

4. Quang Huy, 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020: kết quả và bài học kinh nghiệm (Báo Dân vận. Thứ Ba, 12/5/2020).

5. Lê Minh Thông, Luật nước và hương ước lệ làng trong đời sống pháp lý của các cộng đồng làng xã Việt Nam. VNH3.TB7.851. UBND tỉnh Nghệ An. Bộ tiêu chí thôn, bản miền núi đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2017 - 2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số: 2337/QĐ-UBND ngày 01/6/2017).

Nguyễn Hồ Lâm

Cùng với sự phát triển chung của làng nghề cả nước, các làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An cũng đang có sự chuyển mình mạnh mẽ, phù hợp xu thế hội nhập kinh tế, tạo động lực mới phát triển kinh tế nông thôn, góp phần quan trọng nâng cao thu nhập cho người dân, đẩy mạnh hiệu quả phong trào xây dựng nông thôn mới trên toàn tỉnh.

Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sự tồn tại và phát triển của các làng nghề, làng nghề truyền thống là tất yếu khách quan, xuất phát từ nhu cầu, đòi hỏi của đời sống và sản xuất. Thực tế phát triển các làng nghề ngày càng cho thấy những lợi thế, tiềm năng, vai trò và ý nghĩa tích cực của nó, bởi lẽ các làng nghề là nơi lưu trữ và thể hiện những nét riêng biệt của một nền văn hoá, giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc; góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, tăng thu nhập, giảm bớt tình trạng nghèo đói cho người dân địa phương; tạo ra sự phát triển hài hòa giữa sản xuất và bảo vệ môi trường; là một trong những yếu tố quan trọng thu hút sự tìm hiểu và khám phá của du khách trong và ngoài nước; ở mức độ rộng hơn, góp phần khẳng định vị thế của một quốc gia trong xu thế hội nhập toàn cầu, mà không mất đi bản sắc văn hóa của dân tộc.  

Sự tồn tại và phát triển của các làng nghề đã khẳng định vị thế và vai trò của nó trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội tại địa phương, là một trong những mục tiêu quan trọng để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, góp phần phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, đời sống của nhân dân và thực hiện hiệu quả nhóm tiêu chí "Kinh tế và tổ chức sản xuất" trong xây dựng nông thôn mới.

Sau 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, cũng như các chủ trương, chính sách về phát triển ngành nghề nông thôn, hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa,… và hơn 01 năm thực hiện chương trình OCOP "Mỗi xã một sản phẩm". Nhờ sự vào cuộc quyết liệt của toàn hệ thống chính trị, sự nỗ lực của các sở, ngành, địa phương, đặc biệt là sự đồng thuận hưởng ứng của nhân dân trong toàn tỉnh, ngành nghề nông thôn, HTX, doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh đã có bước phát triển đáng kể cả về quy mô và giá trị sản xuất. Đến nay, toàn tỉnh có 33.271 cơ sở ngành nghề nông thôn và 562 HTX nông nghiệp, thu hút 662.250 lao động tham gia, có 164 làng nghề  được công nhận giải quyết việc làm cho gần 25.000 lao động, thu nhập bình quân 4 - 4,5 triệu đồng/lao động/tháng; hiện có 182 sản phẩm của 156 tổ chức, cá nhân có thế mạnh để phát triển thành các sản phẩm OCOP; Giá trị sản xuất hàng năm mang lại khoảng 2.430 tỷ đồng. Năm 2019 qua đánh giá phân hạng sản phẩm OCOP toàn tỉnh có 48 sản phẩm đạt 3 sao trở lên, trong đó có 15 sản phẩm đạt 4 sao, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 45.000 lao động, với mức thu nhập bình quân 4,5-5 triệu đồng/tháng nhiều làng nghề chiếm 30% - 40% tỷ trọng giá trị sản xuất của thôn (bản), tiêu biểu như: Làng nghề Nước mắm hạ thổ Vạn phần, Hương trầm Liên Đức; Dệt thổ cẩm Châu Tiến, Làng nghề sản xuất Muối Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Thuận, An Hòa; Làng nghề chế biến hải sản Ngọc Văn... Đời sống của người dân làng nghề đã được nâng lên. Qua đó, đã góp phần quan trọng vào kết quả xây dựng nông thôn mới ở các địa phương, đến nay toàn tỉnh đã có 4 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn Nông thôn mới (Thái Hòa, Thành phố Vinh, Nam Đàn, Yên Thành), có 332/431 xã đạt tiêu chí số 10 về thu nhập, chiếm 77%; 356/431 xã đạt tiêu chí về tổ chức sản xuất chiếm 82,9%; có 318/431 xã đạt tiêu chí về hộ nghèo (chiếm 73,7%); có 395/431 xã đạt tiêu chí về lao động có việc làm (tiêu chí 12, chiếm 91,65%) góp phần từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần tích cực vào mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, đến nay toàn tỉnh có 265/431 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 61,5%.

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách tổng thể cho thấy thời gian qua sự phát triển các làng nghề nói chung làng nghề truyền thống nói riêng của tỉnh Nghệ An vẫn chưa phát huy được tiềm năng và lợi thế của nó, thể hiện rõ nhất là sự mai một và thậm chí biến mất của một số ngành nghề đã được cha ông gìn giữ từ hàng nghìn đời nay. Song song với đó là tình trạng manh mún, nhỏ lẻ, tự phát và lạc hậu trong hoạt động sản xuất; hậu quả là chất lượng của sản phẩm truyền thống chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, chưa hấp dẫn khách du lịch, khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường kém, tính ổn định của sản phẩm chưa cao và đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường của các làng nghề do một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất: Nhận thức của một số bộ phận cán bộ và nhân dân về phát triển ngành nghề nông thôn chưa toàn diện, mới thuần túy về phát triển kinh tế còn vai trò vị trí của làng nghề, làng nghề truyền thống trong việc bảo tồn và phát triển các làng nghề nhằm giữ gìn các giá trị văn hoá, khẳng định vị thế của địa phương, tạo việc làm, nâng cao mức sống, cải thiện môi trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhưng chưa được quan tâm đúng mức, nên thiếu tính đồng bộ trong quá trình thực hiện.

Thứ hai: Hiện nay chưa có các chính sách đủ mạnh để giữ gìn và phát triển các làng nghề nhất là chính sách cho đầu tư phát triển, chính sách đãi ngộ cho các nghệ nhân, lao động có tay nghề cao trong các làng nghề bởi: Nghệ nhân và lao động có tay nghề cao là tài sản quý của từng địa phương và của cả tỉnh mà ông cha để lại như: Tương Nam Đàn; Nhút Thanh chương; Dệt thổ cẩm; Nghề đan lát của người Khơ mú, Nghề chế biến dầu lạc Hưng Nguyên, Nghề chế biến bánh đa Đô Lương, Nghề chế biến nước mắm Quỳnh Dị…

Thứ ba: Việc đào tạo lao động có tay nghề cao, bảo vệ môi trường, ổn định đầu ra là ba vấn đề cốt lõi và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của từng cơ sở và người dân làng nghề để duy trì, phát triển bền vững làng nghề ở tỉnh ta, tạo ra bộ mặt đô thị hóa mới cho nông thôn, để nông dân "ly nông nhưng không ly hương" và làm giàu trên quê hương mình, cả trong hiện tại, cũng như trong tương lai. Tuy nhiên hiện nay chưa được quan tâm đúng mức nhất là đào tạo lao động có tay nghề cao, bảo vệ môi trường, ổn định đầu ra cho sản phẩm do vậy có sự mai một và thậm chí biến mất của một số ngành nghề truyền thống đã được cha ông gìn giữ từ hàng nghìn đời nay như: Nghề chạm khắc; Nghề trồng cói; Trồng dâu nuôi tằm; Trồng đay; Nghề đúc đồng; Nghề chế biến bánh đúc; Nghề nấu cao cỏ đị; Nghề sản xuất thuốc lào ….

Thứ tư: Thiếu sự liên kết chuỗi giá trị trong sản xuất để mở cửa và phát triển thị trường phù hợp, chưa chuyển từ sản xuất cho mình thành sản xuất hàng hóa bán cho thị trường, từ tự cung tự cấp sang sản xuất để bán. Bởi hiện nay hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu là hộ gia đình mang tính tự phát, thiếu quy hoạch, thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa người sản xuất với các nhà khoa học, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp và thị trường; chưa nắm bắt kịp nhu cầu thị trường; thị hiếu người tiêu dùng trong và ngoài nước, công tác xây dựng thương hiệu sản phẩm chưa được chú trọng...; hệ thống thông tin, quảng bá sản phẩm chưa đáp ứng nhu cầu phát triển nên xảy ra tình trạng manh mún, nhỏ lẻ, tự phát và lạc hậu trong hoạt động sản xuất. Hậu quả là chất lượng của sản phẩm truyền thống chưa đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng, chưa hấp dẫn khách du lịch, khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường kém.

Thứ năm: Sản phẩm làng nghề chưa chú trọng về chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng, và các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng sản phẩm, còn nặng về sản xuất theo số lượng chưa quan tâm đến chất lượng sản phẩm; Các sản phẩm ngành nghề nông thôn chưa gắn kết với du lịch và dịch vụ. Tính ổn định của sản phẩm chưa cao.

Thứ sáu: Thiếu mặt bằng để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường của các làng nghề, trong quy hoạch xây dựng nông thôn mới một số địa phương chưa dành quỹ đất để di dời một số làng nghề gây ô nhiễm ra khỏi khu vực dân cư. Bên cạnh đó nếu có mặt bằng thì vấn đề thủ tục hành chính và nguồn lực để di dời là một nội dung cần quan tâm.

Thứ bảy: Việc áp dụng và đổi mới công nghệ tại các cơ sở sản xuất còn chậm, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và giá thành, cũng như tính cạnh tranh của sản phẩm. Mối liên kết giữa các cơ sở sản xuất ngành nghề nông thôn với các nhà khoa học, nhà đầu tư và thị trường còn lỏng lẻo, chưa gắn bó chặt chẽ. Bên cạnh đó một số nguồn nguyên liệu đang dần cạn kiệt như (mây, nứa, lùng, gỗ...) nên sản phẩm của làng nghề truyền thống thường có giá thành cao.

Thứ tám: Việc huy động vốn để sản xuất chủ yếu là vốn tự có của các hộ làm nghề là chủ yếu, vốn vay tín dụng từ các ngân hàng thương mại hoặc hỗ trợ từ nhà nước còn hạn chế. Các hộ gia đình, HTX và doanh nghiệp về ngành nghề nông thôn vẫn còn gặp nhiều trở ngại trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng, chủ yếu cơ chế tín dụng và thủ tục vay.

Thứ chín: Thị trường tiêu thụ sản phẩm còn quá nhỏ hẹp, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc và quảng bá sản phẩm, hệ thống các ngành sản xuất hỗ trợ, nhất là trong các khâu sản xuất, khai thác và xử lý nguyên vật liệu phục vụ cho các loại ngành nghề dù đã được tăng cường vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển.

Thứ mười: Nguồn vốn đầu tư để mở rộng sản xuất kinh doanh còn hạn chế. Khả năng huy động vốn từ các tổ chức tín dụng để phát triển làng nghề còn thấp. Cơ chế quản lý và hoạt động sản xuất cũng theo kiểu tự phát nên các hộ làm nghề trong làng nghề chưa có sự gắn kết, dẫn đến kết quả sản xuất kinh doanh hiệu quả chưa cao.

Để làng nghề "cất cánh" cũng như đạt được các mục tiêu của chương trình xây dựng nông thôn mới, thì việc phát triển, nhân rộng các làng nghề, ngành nghề nông thôn hiện nay cần sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị, theo tôi các địa phương cần làm tốt một số nội dung sau đây:

- Chúng ta phải thống nhất nhận thức rằng việc phát triển làng nghề là chiến lược mang tính lâu dài nên không cần phải thúc ép thực hiện vấn đề, quan trọng hơn hết phải đặt ra lúc này là làm gì để phát triển các làng nghề truyền thống đúng hướng, thực chất và đảm bảo chất lượng, tránh tình trạng vàng thau lẫn lộn, hay cách làm hình thức.

- Các địa phương cần lựa chọn, xác định được ngành nghề có tiềm năng lợi thế để tập trung phát triển. Chú trọng công tác đào tạo, truyền nghề cho người lao động. Đặc biệt, cần khuyến khích thành lập các doanh nghiệp đầu mối, đảm nhận khâu tiêu thụ sản phẩm cho các hộ sản xuất.

- Tập trung giải quyết các vướng mắc khó khăn của các làng nghề hiện nay chính là mặt bằng sản xuất, đất chật người đông, làng nghề và các hộ làm nghề hầu hết là nằm đan xen trong khu dân cư nên mặt bằng sản xuất chật hẹp, không có điểm tập kết nguyên vật liệu phục vụ sản xuất. Chính khó khăn này đã khiến cho vấn đề môi trường của làng nghề khó được cải thiện làm ảnh hưởng đến thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới. Vì vậy cần được quy hoạch và xây dựng riêng một khu hoặc cụm tiểu thủ công nghiệp dành riêng cho các hộ làm nghề sản xuất hàng hóa, tạo thuận lợi cho công tác quản lý, xử lý ô nhiễm môi trường cũng như giao dịch thương mại sản phẩm hàng hóa.

- Quan tâm thị trường tiêu thụ sản phẩm, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc và quảng bá sản phẩm, hệ thống các ngành sản xuất hỗ trợ, nhất là trong các khâu sản xuất, khai thác và xử lý nguyên vật liệu phục vụ cho các loại ngành nghề dù đã được tăng cường vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển.

- Nguồn vốn đầu tư để mở rộng sản xuất kinh doanh cho các chủ thể. Khả năng huy động vốn từ các tổ chức tín dụng để phát triển làng nghề.

- Tăng cường hỗ trợ các làng nghề hoạt động sản xuất kinh doanh nhất là liên kết chuỗi giá trị để kết quả sản xuất kinh doanh hiệu quả cao.

Hy vọng rằng, với tiềm năng thế mạnh sẵn có của các làng nghề cùng sự đầu tư đúng hướng, những chính sách phù hợp sát thực tiễn, các làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An sẽ vượt qua được khó khăn thách thức hiện nay góp phần đưa Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới về đích theo đúng kế hoạch đề ra.

Trần Quốc Thành

Phát triển nông nghiệp là một định hướng lớn của Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng nhằm phát huy lợi thế của đất nước có truyền thống nông nghiệp và đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, đa dạng sinh học.

Trong những năm qua, Việt Nam cũng như Nghệ An đã xác định cây con chủ lực trên địa bàn để có chính sách khuyến khích phát triển và đã có những bước phát triển đáng kể góp phần vào tăng trưởng kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Nhất là góp phần tái cơ cấu nội ngành nông nghiệp nhằm nâng cao giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích đất. Một số sản phẩm đã có bước phát triển nhanh, có thương hiệu như bò sữa, cam…

Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn lại, chúng ta thấy việc phát triển sản phẩm chủ lực của Nghệ An trong lĩnh vực nông nghiệp kết quả còn  hạn chế. Sự đóng góp của các sản phẩm chủ lực được xác định chưa thực sự bứt phá, chưa góp phần xây dựng thương hiệu Nghệ An, thị trường còn hạn chế, nhiều sản phẩm khó đạt mục tiêu, chưa thúc đẩy mạnh mẽ tái cơ cấu ngành nông nghiệp; sản phẩm có giá trị gia tăng ít.

Vậy nguyên nhân từ đâu?

Trước hết, việc xác định cây chủ lực để khuyến khích, hỗ trợ đầu tư phát triển còn quá nhiều đối tượng. Nghệ An năm 2014 xác định 12 cây, 8 con với 21 chỉ tiêu là quá rộng. Trong khi đó Lâm Đồng xác định 4 đối tượng chủ lực (rau hoa, cà phê, chè và bò sữa); Quảng Trị xác định 8 đối tượng; Bắc Giang chọn 8 sản phẩm,… Vì xác định nhiều, trong khi nguồn lực yếu cho nên đầu tư và hỗ trợ đầu tư dàn trải, thiếu tập trung, thiếu kết nối giữa các nguồn lực (trong đó có nguồn lực khoa học), khó thu hút doanh nghiệp. Cũng vì khó thu hút doanh nghiệp nên khó kết nối chuỗi, chưa có nhiều sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm đầu ra giá thấp, bấp bênh, chất lượng không đồng đều, khó kiểm soát, năng lực cạnh tranh thấp.

Đất đai phần lớn do nông dân được cấp quyền sử dụng, diện tích nhỏ lẻ, khó đầu tư cơ giới, khó áp dụng kỹ thuật công nghệ mới, khó kết nối với doanh nghiệp. Nông lâm trường thì chưa phát huy được hiệu quả so với tiềm năng, lợi thế. Doanh nghiệp tiếp cận đất đai khó khăn.

Thị trường bị cạnh tranh không chỉ thế giới mà ngay cả trong nước, thông tin thị trường người dân chưa được tiếp cận thường xuyên. Hợp tác giữa doanh nghiệp và nông dân lỏng lẻo, thiếu tin cậy.

Cơ sở hạ tầng còn chưa đồng bộ, nhất là điện, logistic trong nông nghiệp. Tài chính trong nông nghiệp cũng gặp khó khăn, trong khi chính sách hỗ trợ phát triển còn nặng hỗ trợ đầu vào, ít hỗ trợ đầu ra (áp dụng tiêu chuẩn, hỗ trợ doanh nghiệp, xúc tiến thương mại...), thậm chí có chính sách nhưng thiếu nguồn lực thực hiện. hoặc quy trình thủ tục phức tạp không hấp dẫn doanh nghiệp tham gia.

Quản lý nhà nước về phân bón, giống, chất lượng,... còn hạn chế.

Chất lượng lao động trong ngành nông nghiệp chất lượng thấp. Thiếu nguồn nhân lực trẻ ở nông thôn. Trong khi hệ thống đào tạo chủ yếu là Đại học Vinh, còn hệ thống cao đẳng trung cấp cũng có đào tạo nhưng ít và nặng lý thuyết không hề có thực hành mà đào tạo nông nghiệp rất cần thực hành trên thực địa.

Từ những vấn đề trên chúng tôi xin đưa ra một số đề xuất như sau:

Thứ nhất: Trước hết cần rà soát lại danh mục các đối tượng sản phẩm chủ lực. Tiêu chí lựa chọn tập trung ưu tiên hai vấn đề chính là: Lợi thế so sánh và Cơ hội thị trường.

Cần thống nhất tiêu chí cơ bản để chọn:

+ Điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp để phát triển tốt, năng suất chất lượng cao (nếu có khác biệt càng tốt, thậm chí chỉ có thể sản xuất ở Nghệ An hoặc ít tỉnh).

+ Thuận lợi để phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển.

+ Có diện tích có thể mở rộng và sản lượng chiếm tỷ lệ đáng kể trong toàn quốc.

+ Có thể sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng.

+ Có cơ hội cao thâm nhập thị trường rộng cả trong và ngoài nước. Thậm chí có thể xác định được thị trường chủ đạo.

+ Có lợi thế cạnh tranh với các tỉnh bạn và các nước cùng sản xuất sản phẩm.

 Hiện nay trên cơ sở lợi thế so sánh và cơ hội thị trường, Bộ NN&PTNT xác định 13 đối tượng chủ lực quốc gia. Vậy trước hết, Nghệ An trên cơ sở xem xét thực tế về lợi thế của mình để tham gia vào chuỗi sản phẩm chủ lực quốc gia.

Do vậy, theo chúng tôi, hãy chọn các sản phẩm Nghệ An có ưu thế và có thể tham gia 6 đối tượng, đó là: cây ăn quả (gồm cây có múi, bơ); Cây chè các loại (bao gồm cả chè Shan, Olong và chè Hoa vàng); Thịt và trứng gia cầm (tập trung con gà); Tôm các loại; Thịt lợn; Gỗ và sản phẩm từ gỗ (bao gồm cả tre).

 Đồng thời cần xác định một số đối tượng là chủ lực của tỉnh mà chưa phải là sản phẩm chủ lực quốc gia gồm 3 đối tượng: Bò sữa và bò thịt; Mía và sản phẩm từ mía; Cây dược liệu và sản phẩm dược.

Bên cạnh đó, các huyện thành thị, trên cở sở sản phẩm chủ lực của tỉnh để chọn sản phẩm tham gia chuỗi, đồng thời cần xác định cây con đặc sản đặc trưng của mình để tham gia chương trình OCOP.

Từ đề xuất lựa chọn trên, cần có chiến lược so sánh lợi thế và cơ hội thị trường trên cơ sở dự báo để xác định thứ tự ưu tiên đối tượng hỗ trợ phát triển trước sau cho từng giai đoạn ngắn.

Thứ hai: Trên cơ sở đối tượng đã chọn, định hình vùng sản xuất tập trung cho từng đối tượng, quy định diện tích tối thiểu tham gia chuỗi để thuận lợi áp dụng khoa học kỹ thuật và chuyên môn hóa, cơ giới hóa. Ví dụ: bò sữa tập trung ở vùng Tây Bắc, bò thịt ở vùng Tây Nam; Cây ăn quả tập trung vùng trung du; dược liệu tập trung vùng núi thấp, núi cao, vv. Mỗi vùng, mỗi đối tượng cần có chủ trương chuyên môn hóa các khâu: giống, phân, canh tác, thu hoạch và chế biến sau thu hoạch, dịch vụ v..v. Hỗ trợ phát triển hạ tầng kỹ thuật, nhất là điện, giao thông và sơ chế, bảo quản... Và đặc biệt cần có doanh nghiệp chủ lực nhằm dẫn dắt cả vùng cho từng sản phẩm.

Thứ ba: Rà soát lại quỹ đất từng vùng đã xác định đối tượng để xây dựng vùng tập trung, tiến hành chuyển đổi đất khi có người dân trong vùng không có nhu cầu canh tác đối tượng chọn. Hỗ trợ mô hình hợp tác giữa doanh nghiệp với nông dân thông qua hợp tác xã chuyên ngành với sự phân công trách nhiệm và phân chia lợi ích hợp lý. Ưu tiên một phần diện tích quy hoạch của vùng cho doanh nghiệp chủ lực thông qua tích tụ đất. Cần kiến nghị Chính phủ thực hiện thuế đất nông nghiệp nhằm hỗ trợ tích tụ ruộng đất tránh lãng phí nguồn lực.

Thứ tư: Mỗi sản phẩm cần xác định rõ thị trường chiến lược dù đó là thị trường trong hay ngoài nước để có giải pháp xúc tiến thương mại, chiến lược sản phẩm phù hợp.

Thứ năm: Ngành NN&PTNT cần phân tích chuỗi giá trị từng đối tượng sản phẩm để từ đó tham mưu xây dựng chiến lược tác động khoa học kỹ thuật hay chính sách hỗ trợ, tham mưu điều phối các nguồn lực từ chính sách, kinh phí sự nghiệp khoa học, khuyến nông, thương mại và kinh phí sự nghiệp của các chương trình mục tiêu, đầu tư công… nhằm tập trung ưu tiên cho các sản phẩm chủ lực và hỗ trợ các doanh nghiệp nòng cốt đầu tư vào một số khâu của sản xuất sản phẩm chủ lực. Ưu tiên các giải pháp kỹ thuật tiên tiến và phù hợp để đổi mới công nghệ và sản xuất sản phẩm sáng tạo. Hình thành một số trung tâm R&D ở các doanh nghiệp chủ lực.

Thứ sáu: Đào tạo nhằm nâng cao chất lượng, kỹ năng, hiểu biết của nông dân và công nhân nông nghiệp và cán bộ nông nghiệp cơ sở. Cần có cơ chế đặt hàng đào tạo tập huấn theo chuyên đề và ưu tiên đào tạo thực hành. Tăng cường kết nối để đào tạo nhân lực nòng cốt thông qua gửi thực tập sinh sang Nhật trong chương trình hợp tác với JICA, cũng như một số nước có kỹ thuật cao mà tỉnh hợp tác. Thường xuyên cập nhật quy trình kỹ thuật, công nghệ, thị trường nông sản cho nông dân trên hệ thống truyền thông đại chúng, trên      internet, mạng xã hội… Khuyến khích hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực nông nghiệp, du lịch sinh thái...

Thứ bảy: Nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong vai trò khởi động, dẫn dắt, hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân tiếp nhận và triển khai đường hướng đề ra của chính quyền. Thực hiện quản lý nhà nước đồng bộ cả ba khâu: Đầu vào, sản xuất và đầu ra sản phẩm nhằm giúp cam kết chất lượng sản phẩm và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

 

Định Thị Hải Đường

Cương Quốc công Nguyễn Xí, một người con ưu tú, tài giỏi của quê hương Cửa Lò, đã được vinh danh trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XV với những công lao trong sự nghiệp cứu nước đầu thế kỷ và trong sự nghiệp dựng nước thời Lê sơ. Đối với người dân Cửa Lò, công lao to lớn của ông còn gắn liền với công cuộc khai phá, mở mang vùng đất quê hương. Cho đến ngày nay, công ơn khẩn hoang, lập làng của ông và các con cháu vẫn được khắc sâu trong đời sống văn hóa - tín ngưỡng của nhân dân Cửa Lò cũng như trong những dấu tích vật chất còn lưu giữ trên đôi bờ sông Xá và vùng quanh Thượng Xá xưa.

1. Vùng đất Cửa Lò trước thế kỷ XV

Vùng Cửa Lò trên đất Nghệ An là khu vực miền duyên hải trải dài từ cửa sông Cấm (Cửa Lò) đến cửa sông Lam (Cửa Hội). Cho đến đầu thế kỷ XV, vùng đất Cửa Lò ngày nay, biển còn ăn sâu vào đất liền với nhiều đầm phá ven biển, dân cư thưa thớt, đất đai còn hoang vắng, chưa được khai khẩn nhiều(1). Theo Nghệ An ký, Cửa Lò ngày trước có tên là Cửa Xá. Sông Cấm đổ ra biển ở địa phận xã Thượng Xá (thuộc huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang, quận Hoan Châu thời Lê sơ; ngày nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) nên cửa biển nơi đây được gọi là Cửa Xá hay Tấn Xá. Biển lùi, cùng với thời gian, dòng sông Cấm chảy xuống tận dãy núi Lò (tên chữ là Lô Sơn; bên kia xã Vạn Lộc ngày nay), cửa sông Cấm khi đó mới gọi là Cửa Lò. Cửa Hội là cửa của dòng sông Lam đổ ra biển ở địa phận xã Hội Thống cũ (ngày nay là xã Xuân Hội, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh), nên gọi là Cửa Hội(2).

Tại vùng Cửa Lò, Nguyễn Hợp (ông nội của Cương Quốc công Nguyễn Xí) vốn quê ở làng Cương Giản (nay là xã Xuân Song, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) đã dời nhà ra ở Thượng Xá, vừa khai hoang cày ruộng, vừa làm nghề muối, trở thành ông tổ thứ nhất của dòng họ Nguyễn ở Thượng Xá. Nguyễn Hợp cùng với xóm làng khẩn hoang hai bên bờ sông Xá, lập ra làng Trung (đình làng Trung ngày nay là sân kho đội I hợp tác xã Nghi Hợp) và phát triển nghề làm muối. Tiếp nối Nguyễn Hợp, con trai ông là Nguyễn Hội tiếp tục nghề làm muối và công cuộc khẩn hoang vùng Cửa Lò, mở mang xóm làng, nhất là khai phá các đầm phá ven biển. Nguyễn Hội đã có công trong khai khẩn vùng đồng Hang, đồng Đìa, Cồn Thông và mở rộng vùng Nại Muối. Nhờ đó, ở Thượng Xá, từ làng Trung dần dần phát triển thêm làng Thượng(3).

Nguyễn Xí (1379 - 1465) thuộc đời thứ 3 của dòng họ Nguyễn trên đất Thượng Xá. Ông là con của Nguyễn Hội và bà Vũ Thị Hạch, được sinh ra tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc (thuộc xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An ngày nay). Nguyễn Xí cùng các con cháu tiếp tục công cuộc khẩn hoang, lập làng của ông cha, mở mang, phát triển quê hương Thượng Xá cũng như vùng đất Cửa Lò.

2. Chính sách "lộc điền" và khẩn hoang thời Lê sơ (1428 - 1527)

Sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, vương triều Lê được thành lập. Trước yêu cầu của việc khôi phục nền kinh tế sau một thời gian dài chiến tranh, nhà Lê đã nhanh chóng thực hiện chính sách khuyến khích nhân dân khẩn hoang, lập làng và cho các công thần khai quốc được khai khẩn đất hoang. Cùng với đó, nhà Lê cũng đưa nhiều tù binh người Minh, người Chăm đi khai phá các nơi, lập xóm làng. Nhiều công thần được cấp tù binh để khai khẩn các vùng đất hoang.

Đối với các công thần, cùng với việc định công phong tước, ngay từ triều vua Lê Thái Tổ, nhà vua đã ban thưởng ruộng đất (lộc điền), nhưng chưa thành chế độ với qui định rõ ràng. Cho đến năm 1477, vua Lê Thánh Tông ban hành thành chế độ lộc điền. Chế độ lộc điền chỉ dành riêng cho tầng lớp quý tộc và quan lại cao cấp từ Tòng Tứ phẩm trở lên. Lộc điền gồm ruộng đất thế nghiệp (đời đời hưởng lộc và truyền lại cho con cháu); tứ điền (ruộng ân tứ), ao đầm, bãi dâu (chỉ cho hưởng dụng suốt đời, sau khi chết ba năm phải trả lại cho Nhà nước), tự điền (ruộng tế; truyền lại con cháu lo việc thờ cúng).

Là một trong những công thần đứng đầu của triều Lê, Nguyễn Xí cũng được vua Lê ban cấp nhiều lộc điền. Thực hiện chính sách mở mang kinh tế, phục hưng đất nước của nhà Lê sơ, trên cơ sở lộc điền được ban cấp và ruộng đất, đất hoang, đầm phá mua thêm, Nguyễn Xí và các con cháu của ông đã tích cực chiêu dân khai phá đất hoang, lập thành xóm làng, phát triển kinh tế. Quê hương Cửa Lò cũng được mở mang, khai phá rộng lớn thêm vào thế kỷ XV gắn liền với công lao to lớn của Nguyễn Xí và các con cháu.

3. Nguyễn Xí với công cuộc khẩn hoang, lập làng và khai thác biển vùng Cửa Lò

Nguyễn Xí (1396 - 1465) sinh ra tại quê hương Thượng Xá, trong một gia đình "mấy đời sống ở vùng biển với nghề nấu muối". Từ nhỏ, ông đã cùng với anh cả là Nguyễn Biện theo cha đem muối ra vùng thượng du Thanh Hóa bán. Sau đó, ông ra Lam Sơn làm gia thần cho Lê Lợi và tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với nhiều công lao, đóng góp to lớn cho thắng lợi của cuộc khởi nghĩa. Khi nhà Lê được thành lập, Nguyễn Xí được phong quan tước, bổng lộc và được ban quốc tính là Lê Xí. Ông cũng là người đóng góp công lao hàng đầu trong việc đưa Lê Tư Thành lên ngôi vua, lập nên triều vua Lê Thánh Tông. Do đó, ông không chỉ được vua Lê Thánh Tông đặc phong quan tước đứng đầu hàng văn võ đại thần mà còn được ban cấp 350 mẫu ruộng thế nghiệp vào năm Canh Thìn (1460). Khi qua đời, ông được vua Lê Thánh Tông cho quan quân đưa linh cữu về an táng tại quê hương Thượng Xá, truy tặng tước Thái sư Cương Quốc công và cho xây dựng "Cương Quốc Công từ" ở Thượng Xá vào năm Đinh Hợi (1467)(4).

Theo tài liệu của một văn bia tại Nghệ An, các khu ruộng của Nguyễn Xí trải trên địa phận 93 xã thuộc 25 huyện với tổng diện tích 5.135 mẫu(5). Tại Nghệ An, số lộc điền và ruộng đất ao đầm Nguyễn Xí mua thêm là hơn 1.377 mẫu, trải trên địa bàn của các phủ Diễn Châu, Anh Đô, Đức Quang và các huyện Chân Lộc, Yên Thành, Nam Đường, Thanh Chương. Trong số đó, ngoài 618 mẫu tại các nơi ở huyện Đông Thành, huyện Nam Đàn, huyện Thanh Chương thì có đến hơn 759 mẫu chủ yếu tập trung ở vùng Cửa Lò.

Nguyễn Xí đã mua 300 mẫu ruộng ở Đồng Sô (tức làng Phú Ích thuộc xã Nghi Phong, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An ngày nay) và 200 mẫu ruộng ở Bàu Ổ (thuộc phường Nghi Hương, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An ngày nay). Ở Đồng Sô, ông dùng các tù binh người Minh (bị bắt từ thời chống quân Minh) được vua Lê ban cấp, cùng nhân dân địa phương khẩn hoang, lập ra làng Phú Ích. Những tù binh này được truyền đời cho con cháu những ruộng đất Nguyễn Xí dành cho họ, để lo việc hương khói tại xứ Đồng Sô. Cùng thời gian đó, Nguyễn Xí cũng tâu xin vua Lê cho được lập "Long thị" (Chợ Sơn, tại làng Long Trảo, xóm Kỳ Sơn, xã Nghi Khánh, huyện Nghi Lộc ngày nay) làm trung tâm giao lưu hàng hóa trong vùng và phát triển cuộc sống của người dân nơi đây(6).

Tháng 6 năm Ất Sửu (1445), Nguyễn Xí cùng Bình chương Tư đồ Lê Thận đưa quân đánh dẹp quân Chiêm Thành lấn chiếm biên giới phía Nam của Đại Việt, giành thắng lợi, bắt được hàng trăm tù binh về giam ở xứ Bàu Ổ (thuộc phường Nghi Hương, thị xã Cửa Lò ngày nay). Ông đã dùng số tù binh người Chăm vào việc khai khẩn đất đai ở Bàu Ổ. Theo gia phả họ Nguyễn Đình ở xã Nghi Hợp (huyện Nghi Lộc) và họ Chế Đình ở phường Nghi Hương (thị xã Cửa Lò), công cuộc khẩn hoang xứ Bàu Ổ đã đưa đến sự ra đời của các làng Kim Ổ (thuộc địa bàn phường Nghi Hương), Thu Lũng (thuộc địa bàn phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò). Những hàng binh này được Nguyễn Xí đối xử như con cháu và cho đổi từ họ Chế thành Chế Đình. Chế Lạc, Chế Du là những người Chăm được Nguyễn Xí cho đứng đầu trông coi các làng xã mới được khai khẩn. Trước những công đức của Nguyễn Xí, dân làng về sau tự nhận là con nuôi (dưỡng tử) của ông. Vì vậy, trong số các chi họ là con cháu của Nguyễn Xí sau này, có 3 chi họ dưỡng tử (con nuôi) là con cháu những tù binh người Minh, người Chăm năm xưa(7).

Trong cuộc đời 37 năm làm quan của mình, Nguyễn Xí đã phụng sự 4 triều vua Lê tại thành Đông Kinh ở Thăng Long và không tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý, khai thác ruộng đất của mình, trong đó có vùng đất Cửa Lò. Tuy vậy, tấm lòng của ông vẫn luôn hướng về quê hương, chăm lo đến việc tổ chức khai khẩn, mở mang, xây dựng vùng quê Cửa Lò với việc giao cho các con trai quản lý khẩn hoang, lập làng, khai thác ruộng đất và thu hoa lợi, xây dựng và phát triển xóm làng ở nơi đây.

4. Nguyễn Sư Hồi, Nguyễn Kế Sài, Nguyễn Trọng Đạt, Nguyễn Nhân Thực tiếp nối công cuộc khẩn hoang, lập làng trên vùng đất Cửa Lò

Trong số 16 người con trai của Cương Quốc công Nguyễn Xí thì Nguyễn Sư Hồi, Nguyễn Kế Sài, Nguyễn Trọng Đạt, Nguyễn Nhân Thực là những người tiếp nối công cuộc khẩn hoang, lập làng, mở mang, phát triển vùng đất Cửa Lò của ông cha.

- Nguyễn Sư Hồi

Nguyễn Sư Hồi (1444 - 1506) là con trai trưởng của Cương Quốc công Nguyễn Xí, được vua Lê Thánh Tông thăng quan đến chức Nhập nội Thiếu úy, Phò mã Đô úy, ban quốc tính là Lê Sư Hồi và giao trọng trách trấn thủ, bố phòng 12 cửa biển của Đại Việt, trong đó có vùng biển Cửa Xá. Vào năm Canh Thìn (1460), Nguyễn Sư Hồi được vua ban cấp 150 mẫu ruộng thế nghiệp(8).

Trong thời gian trấn trị tại vùng Cửa Xá, ông đã lấy Cửa Xá làm trung tâm để tập hợp và chiêu mộ những người dân chài ven biển, nông dân nghèo ven sông Xá và các nơi đến khai phá, phát triển nghề đánh cá và làm ruộng. Năm 1493, Nguyễn Sư Hồi đã lập ra xã Hải Giang, bao gồm Vạn Lộc và Tân Lộc (nay thuộc phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò)(9). Theo ghi chép của Hippolyte Le Breton trong An Tĩnh cổ lục thì Nguyễn Sư Hồi được ban cấp đầm phá Cây Bằng. Trên miền đất đai mới bồi đắp này, các làng Vạn Lộc, Tân Lộc từ đó mà hình thành(10). Cư dân Vạn Lộc một nửa làm nghề đánh cá, một nửa làm ruộng và từ nhiều nơi tụ tập lại nên thường gọi là "dân góp"(11).

Thần phả đền Vạn Lộc cũng cho biết, Nguyễn Sư Hồi là người có công đầu trong việc mở mang đất đai, tạo cơ sở ban đầu cho làng Vạn Lộc - tiền thân của phường Nghi Tân (thuộc thị xã Cửa Lò) ngày nay. Con đê đá dài khoảng năm cây số, cao hàng mét, chạy từ núi Tượng Sơn (núi Voi) vòng đến phía Đông Bắc núi Mũi Gươm, theo dọc bờ Đông Nam sông Cấm ra đến sát biển Cửa Lò hiện nay là dấu tích công cuộc khai phá vùng đất này của ông. Theo tương truyền, chợ Lò của làng Vạn Lộc cũng được hình thành từ khi có làng. Cùng với đó, việc tổ chức hội bơi thuyền ở làng Vạn Lộc (và làng Trung Kiên bên kia sông) là nhằm tái hiện lại những chiến tích oai hùng trên sông nước của thủy quân Nguyễn Sư Hồi và ghi nhớ việc ông từng dạy cho dân trong vùng cách đóng thuyền đi sông, đi biển(12).

Thực hiện công cuộc khẩn hoang của cha, Nguyễn Sư Hồi giao hàng trăm mẫu lộc điền của Nguyễn Xí cho tù binh người Minh, người Chăm khai khẩn, sản xuất, ổn định và phát triển cuộc sống. Từ đó lập thành các làng Kim Ổ, Thu Lũng Lộc Kén (phường Nghi Thu)(13). Tưởng nhớ công ơn to lớn của ông, sau khi qua đời, Nguyễn Sư Hồi được dựng đền thờ và phong Thượng đẳng phúc thần. Dân làng Vạn Lộc đã tôn ông làm Thành hoàng làng. Cho đến nay, ở Vạn Lộc vẫn còn đền thờ Nguyễn Sư Hồi và di tích một đoạn lũy bảo vệ mặt biển do ông xây dựng tại cánh đồng Lũy(14).

- Nguyễn Kế Sài

Nguyễn Kế Sài là con trai thứ 5 của Cương Quốc công Nguyễn Xí. Dưới triều Lê sơ, ông làm quan đến chức Hành Thuận Hóa đạo tam phụ quốc quân đồng tri, Đô tổng binh sứ Ty Đô tổng binh sứ, được tặng Thái Bảo - Thượng trụ quốc. Cũng giống như Nguyễn Sư Hồi, Nguyễn Kế Sài sinh trưởng và lập gia đình tại thành Đông Kinh. Ông đã sát cánh cùng anh trưởng Nguyễn Sư Hồi, mở mang, khai phá thêm cho vùng Thượng Xá, Vạn Lộc. Nguyễn Kế Sài chiêu dân khai khẩn vùng đồng Biển Trên, đồng Biển Dưới, trọt Nhà Trần ở phía Tây làng và vùng Đập Hách, trọt Miếu ở phía Đông làng. Lăng mộ của ông và phu nhân Phạm Thị Ngọc Ất đặt tại xã Thượng Xá(15).

- Nguyễn Trọng Đạt

Nguyễn Trọng Đạt là con trai thứ 10 của Cương Quốc công Nguyễn Xí, làm quan chức Đạt tín đại phu. Năm Ất Sửu (1445), ông theo cha đưa quân đánh dẹp quân Chiêm Thành lấn chiếm biên giới phía Nam của Đại Việt, giành được thắng lợi. Với công lao đó, ông được vua ban phong Tín đạt đại phu xuất thân, tán trị công thần, Bắc quân đô đốc, lịch trung dinh thượng tướng quân Linh quận công.

Nguyễn Đạt được cha giao quản lý việc khai phá ở khu vực làng Kim Ổ và làng Phú Ích. Gia phả họ Nguyễn Đình ở xã Nghi Hợp (huyện Nghi Lộc) và họ Chế Đình ở phường Nghi Hương (thị xã Cửa Lò) cho biết, Nguyễn Trọng Đạt được cha giao cai quản và tổ chức lực lượng hàng binh Chăm (các tướng Chế Đình Đá, Chế Đình Lân, Chế Đình Hiệp) khai khẩn vùng bãi ngang phía Đông Nam huyện Chân Lộc tại Bàu Ổ. Cuộc khẩn hoang này đã lập nên các làng Kim Ổ, Thu Lũng. Khi qua đời, ông được táng tại nơi đây. Dân làng sau này đã lập đền thờ ông trên mộ và tự nhận mình là con nuôi, mang họ Nguyễn Đình, sau đổi là Chế Đình, rồi lại đổi là Nguyễn Chế tại phường Nghi Thu(16).

- Nguyễn Nhân Thực

Nguyễn Nhân Thực là con trai thứ 14 của Nguyễn Xí, giữ chức Nghiêm dũng vệ tiền sở quản lĩnh. Ông khai khẩn vùng Đồng Nổi, Cửa Ngoài ở phía Tây Nam làng. Theo tác giả Phan Huy Lê, công việc mở mang vùng Thượng Xá được Nguyễn Xí giao cho con trai thứ 5 là Nguyễn Kế Sài và con trai thứ 14 là Nguyễn Nhân Thực(17).

* Một vài nhận xét

Như vậy, sinh ra trên quê hương Thượng Xá, trong một gia đình có truyền thống khai thác biển vùng Thượng Xá từ thời ông cha, Nguyễn Xí có tuổi ấu thơ gắn bó với vùng đất Cửa  Lò của những ngày theo cha và anh cày ruộng, làm muối và bán muối. Sau 10 năm tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Xí có những năm tháng "tột đỉnh vinh quang" chốn quan trường và những công lao, đóng góp to lớn của ông cho công cuộc khai phá, mở mang, phát triển vùng đất Cửa Lò. Những lộc điền và ruộng đất ao đầm mua thêm của ông tại Cửa Lò là tiền đề vật chất cho công cuộc khẩn hoang, hình thành và phát triển những xóm làng mới trên quê hương Cửa Lò.

Tiếp nối công cuộc khẩn hoang của ông cha, những người con của Nguyễn Xí là Nguyễn Sư Hồi, Nguyễn Kế Sài, Nguyễn Trọng Đạt, Nguyễn Nhân Thực đã cùng nhân dân địa phương tiếp tục đẩy mạnh công cuộc khai khẩn, lập làng, phát triển kinh tế (nông nghiệp, khai thác biển), biến Cửa Lò thành vùng xóm làng trù phú với các nghề chính là cày ruộng, đánh cá và làm muối. Ghi nhớ những công lao, đóng góp to lớn của Cương Quốc công Nguyễn Xí và con cháu trên đất Nghệ An, trong đó có vùng Cửa Lò, nhân dân đã lập đền thờ ở nhiều nơi, thờ làm phúc thần. Một loạt di tích trên đôi bờ sông Xá và cả vùng quanh Thượng Xá xưa vẫn còn được lưu giữ đến ngày nay, gắn liền với công cuộc khẩn hoang của Nguyễn Xí và các con cháu năm xưa.

 

Chú thích

1. Hippolyte Le Breton, An Tĩnh cổ lục, Nxb. Văn hóa Thông tin - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2014, tr.89.

2. Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký, Quyển 1 và 2, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, tr.207, 170; Ninh Viết Giao, Nghệ An đất phát nhân tài, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2006, tr. 75-76, 79.

3. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2011, tr.1144.

4. Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, Ngô Thế Long dịch, Văn Tân hiệu đính và giới thiệu, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.218; Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập 1, Nxb. Giáo dục, 1998, tr.990; Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr. 1130-1131, 1143, 1144; Cương Quốc công di huấn, in trong Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Nxb. Nghệ An, 2013, tr.227.

5. Trương Hữu Quýnh, Chế độ ruộng và một số vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2009, tr.246.

6. Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr. 233, 146.

7. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, Nhân vật chí, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr.378; Hippolyte Le Breton, An Tĩnh cổ lục, Sđd, tr.89-90; Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr.147, 233, 304, 26

8. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr.391; Lê Thánh Tông ngự tứ thạch bi, in trong Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr.41.

9. Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Lịch sử Nghệ An, Tập 1 (Từ nguyên thủy đến Cách mạng tháng Tám 1945), Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2012,tr.375-377.

10. Hippolyte Le Breton, An Tĩnh cổ lục, Sđd, tr.89.

11. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr.1145.

12. Nguyễn Quang Hồng, Thành phố Vinh - quá trình hình thành và phát triển, tr.24, dẫn theo Hoàng Anh Tài, Vai trò của Nguyễn Xí với việc hình thành các làng xã ở Nghệ An trong thế kỷ XV, in trong Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr.306; Hoàng Anh Tài, Đền thờ Nguyễn Sư Hồi và lễ hội làng Vạn Lộc, Tạp chí Khoa học Công nghệ Nghệ An, số 2 năm 2017, tr.30.

13. Nguyễn Thị Liễu, Những đóng góp của gia đình Nguyễn Xí với sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước và công cuộc xây dựng đất nước ở thế kỷ XV, in trong Trung tâm khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí, quê hương, con người, sự nghiệp, Sở Văn hóa Thông tin Nghệ An, Nghệ An, 1997, tr.74.

14. Hoàng Anh Tài, Đền thờ Nguyễn Sư Hồi và lễ hội làng Vạn Lộc, Sđd, tr.30.

15. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr.1145; Nguyễn Đình Nhàn, Phả hệ dòng họ Nguyễn Đình và di duệ của Nguyễn Xí hiện nay trên đất Nghệ Tĩnh và Bùi Ngọc Tam, Truyền thống thượng võ của gia tộc Nguyễn Xí, đều in trong Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí, quê hương, con người, sự nghiệp, Sđd, tr.40, 75; Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr.32, 187.

16. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr.1145; Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr. 304, 206-207.

17. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr.1145.

 

* Tổ chức Cuộc thi Hackathon Nghệ An lần thứ Nhất

Vừa qua, Cuộc thi Hackathon Nghệ An lần thứ Nhất đã diễn ra trong 3 ngày tại Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ và Tin học Nghệ An.

Hackathon là cuộc thi phát triển phần mềm do Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với Công ty Cổ phần Công nghệ Gostream tổ chức. Có 14 đội với 55 thành viên chia thành 2 khối: Khối Ươm mầm dành cho lứa tuổi từ 12-18 tuổi và khối Ứng dụng dành cho lứa tuổi từ 18 - 25 tuổi. Trải qua các vòng thi từ trình bày ý tưởng; Phân chia nhiệm vụ các thành viên trong đội; Tập hợp các ý tưởng từ các thành viên và chọn ra ý tưởng tốt nhất để thực hiện. Đến vòng thuyết trình Hackathon còn 11 đội tham gia với 43 thành viên. Đây là sân chơi cho các bạn trẻ bên cạnh phương pháp học Steam.

Trải qua các phần thi đầy cam go, Ban tổ chức đã lựa chọn và trao giải cho các đội xuất sắc, gồm: Khối Ươm mầm, giải Nhất được trao cho nhóm KC-RED với chủ đề Ứng dụng giáo dục Learn to Earn; 3 giải Nhì đều thuộc về chủ đề Du lịch của 3 nhóm: Hết thời; KC-GRAY và KC-PINK; Khối Ứng dụng, giải Nhất thuộc về nhóm TĐH với chủ đề Ứng dụng quản lý sự kiện tình nguyện; giải Nhì thuộc về nhóm BETA với chủ đề Tiết kiệm chi phí bằng tòa soạn hội tụ.

Hackathon không chỉ dừng lại ở cuộc thi mà sẽ là tiền đề cho Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong thời gian tới. Sở Khoa học và Công nghệ sẽ phối hợp cùng Công ty Cổ phần Công nghệ GoStream tạo điều kiện để truyền thông, hỗ trợ cho các dự án tiềm năng có cơ hội phát triển các ứng dụng đưa vào áp dụng trong thực tế đời sống.

Hoàng Anh

* Hội thảo khoa học: Đánh giá kết quả công tác bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014-2020 và xây dựng định hướng giai đoạn 2021-2025

Sáng 29/6, UBND tỉnh Nghệ An tổ chức hội thảo khoa học "Đánh giá kết quả công tác bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014-2020 và xây dựng định hướng giai đoạn 2021-2025".

Hội thảo đã được nghe 4 báo cáo chuyên đề: Tổng hợp đánh giá kết quả thực hiện đề án khung quỹ gen cấp Bộ, cấp tỉnh (2013-2019) và chia sẻ nguồn gen; Kết quả và giải pháp nghiên cứu bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen dược liệu; Kết quả công tác bảo tồn và khai thác nguồn gen cây trồng giai đoạn 2015-2020 và định hướng nghiên cứu giai đoạn 2021-2025; Kết quả duy trì, đánh giá và phát triển nguồn gen cây lương thực, cây ăn quả và 7 ý kiến phát biểu của các đại biểu tham dự hội thảo.

Các báo cáo và ý kiến phát biểu thảo luận đều đánh giá cao kết quả triển khai Đề án khung quỹ gen của tỉnh và đề nghị cần phải triển khai quy mô rộng và đồng bộ hơn; chú trọng, nâng cấp hơn trong công tác lưu giữ, bảo tồn nguồn gen;  đưa đề án vào từng địa phương cụ thể; lồng ghép cac chương trình huấn luyện giúp cho người dân sàng lọc nguồn gen quý của các loại giống cây, con, vật nuôi,…

Hồng Bắc

* Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu niên nhi đồng tỉnh Nghệ An năm 2020

Ngày 2/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Nghệ An đã tổ chức Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh Nghệ An năm 2020.

Năm nay, cuộc thi đã quy tụ 125 mô hình/sản phẩm, là những sản phẩm xuất sắc được tuyển chọn từ vòng sơ khảo, nhiều mô hình/sản phẩm từng đạt giải các cuộc thi KHKT cấp quốc gia. Các mô hình sản phẩm dự thi năm nay đều là những đề tài có tính thực tiễn cao, thể hiện năng lực sáng tạo và niềm đam mê khoa học của đông đảo học sinh.

Kết thúc cuộc thi, Ban tổ chức đã trao 1 giải Đặc biệt, 3 giải Nhất, 5 giải Nhì, 10 giải Ba, 30 giải Khuyến khích và giải tập thể cho các dự án đạt giải. Những dự án xuất sắc đạt giải Ba trở lên cũng sẽ được lựa chọn để tham dự Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng toàn quốc dự kiến sẽ được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10/2020.

Nhân dịp Kỷ niệm 15 năm tổ chức cuộc thi, UBND tỉnh đã tặng Bằng khen cho 5 cá nhân có nhiều thành tích hướng dẫn học viên đạt giải cao trong Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng toàn quốc lần thứ XV năm 2019. Ngoài ra, nhiều tập thể và cá nhân khác cũng được khen thưởng vì có nhiều cống hiến trong 15 năm tham dự cuộc thi. 

H.B (tổng hợp)

* Ra mắt quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo VSV Nghệ An

Chiều ngày 5/7, Sở KH&CN phối hợp với Công ty CP Viet Nam Silicon Valley Accelerator và các Nhà đầu tư đã tổ chức buổi hội thảo chia sẻ thông tin và lễ ký kết ra mắt Quỹ hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Nghệ An.

Qũy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo góp phần tạo cộng đồng khởi nghiệp, là nơi kết nối quỹ khác trong và ngoài tỉnh, coi đây là kênh thu hút đầu tư. Tại buổi lễ diễn ra lễ ký kết chính thức ra măt Quỹ đầu tư VSV - Nghệ An với tổng số tiền là 8,8 tỷ đồng của 17 nhà đầu tư cá nhân và doanh nghiệp tham gia, trong đó có 3-5 doanh nghiệp đón góp 500-1500 tỉ đồng. Với sự ra mắt của Quỹ VSV - Nghệ An, đây là dấu mốc không chỉ của VSV mà còn là của cộng đồng khởi nghiệp, là quỹ đầu tiên của các doanh nhân của tỉnh theo mô hình đầu tư quốc tế…

VSV và Sở KH&CN Nghệ An cam kết sẽ cùng các nhà đầu tư cũng như các Startup trong các hoạt động đào tạo, marketing, SHTT cũng như cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ cho khát vọng khởi nghiệp. Tỉnh luôn đồng hành, hỗ trợ thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo của tỉnh.

Minh Tú - Hồng Bắc

* Sở Khoa học và Công nghệ: Tập huấn về dịch vụ du lịch nông nghiệp

Trong tháng 7 năm 2020, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện Nam Đàn, thị xã Cửa Lò, Ủy ban nhân dân xã Kim Liên và phường Nghi Hải tổ chức các lớp tập huấn về dịch vụ du lịch nông nghiệp. 

Tham dự lớp tập huấn có đại diện lãnh đạo UBND huyện Nam Đàn, Thị xã Cửa Lò; Phòng Văn hóa, Phòng Kinh tế - Hạ tầng, Phòng Nông nghiệp của huyện Nam Đàn và Thị xã Cửa Lò; Đại diện lãnh đạo và công chức văn hóa các xã Kim Liên, Nam Giang, Nam Nghĩa, Nghi Hải; Thành viên HTX Sen Quê Bác và thành viên liên kết với HTX Sen Quê Bác; Thành viên HTX Chanh Thiên Nhẫn; Hộ dân Làng nghề nước mắm Hải Giang 1; Thành viên Hội sản xuất và kinh doanh cá thu nướng Cửa Lò; Doanh nghiệp làm du lịch trên địa bàn huyện Nam Đàn, Thị xã Cửa Lò. Trung tâm Văn hóa Thông tin Truyền thông huyện Nam Đàn, Thị xã Cửa Lò; Một số tổ chức đang xây dựng mô hình du lịch nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Các lớp tập huấn đã trang bị cho các học viên, nhất là thành viên Hợp tác xã Sen Quê Bác, Hộ dân Làng nghề chế biến nước mắm Hải Giang 1 và Hội sản xuất và kinh doanh cá thu nướng Cửa Lò những kiến thức, kỹ năng cơ bản về du lịch nông nghiệp, tiếp cận các phương pháp nắm bắt tâm lý khách hàng, kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong hoạt động kinh doanh du lịch tại địa phương. Nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, chất lượng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực du lịch. Qua đó, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi ngành nghề cho lực lượng lao động tại các điểm có tiềm năng phát triển du lịch theo hình thức du lịch cộng đồng, nâng cao thu nhập đời sống cho nhân dân.

Nguyễn Nhung

 




BẢN BIÊN TẬP


Người biên tập:
Tên bài: Chuyên san KHXH&NV số 7/2020
Nội dung:

GS. Phong Lê

1. Đảng và đường lối văn nghệ của Đảng từ 1943 đến 1990

Văn kiện đầu tiên của Đảng chuyên về văn hóa, trong đó có văn học - nghệ thuật, đó là Đề cương về văn hóa Việt Nam - 1943(1). Một Đề cương về văn hóa sau một Cương lĩnh chính trị đã xuất hiện trong bí mật vào năm 1930.

Với Đề cương về văn hóa Việt Nam, văn hóa là một khái niệm có nội hàm rộng, bao gồm ba lĩnh vực: tư tưởng, học thuật, nghệ thuật. Bây giờ ta có hàng trăm định nghĩa về văn hóa. Ở thời điểm 1943, hiểu văn hóa ở ba phương diện: tư tưởng, học thuật, nghệ thuật tất nhiên là chưa đủ chiều rộng; nhưng lại có được một đường biên cụ thể cho sự hình dung. Đó là sự bao quát phạm vi hoạt động của người trí thức, của giới trí thức trên hai lĩnh vực cơ bản là khoa học và nghệ thuật.

Và, dẫu quan niệm về văn hóa là rộng hoặc hẹp, thì định hướng xuyên suốt của Đề cương vẫn là ở "ba nguyên tắc vận động của cuộc vận động văn hóa mới". Ba nguyên tắc xuất phát từ thực tiễn và đáp ứng rất kịp thời cho các nhu cầu bức thiết của thực tiễn. Đó là:

"a. Dân tộc hóa (chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa, khiến cho văn hóa Việt Nam phát triển độc lập);

b. Đại chúng hóa (chống mọi chủ trương, hành động làm cho văn hóa phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng);

c. Khoa học hóa (chống lại tất cả những cái gì làm cho văn hóa trái khoa học, phản tiến bộ)".

Ở đây, Dân tộc hóa là nguyên tắc được đặt ở vị trí số 1 trong Đề cươngĐại chúng hóa ở vị trí số 2. Và dẫu ở vị trí số 2 nó vẫn là nguyên tắc được đón nhận dễ dàng và có tác động sâu rộng đối với đời sống văn hóa, tinh thần nói chung và văn học - nghệ thuật nói riêng, góp phần tích cực vào thành công của Cách mạng tháng Tám và đem lại một sự sống tươi mới cho công cuộc kháng chiến chống Pháp.

Nguyên tắc Khoa học hóa là kết quả sự vận dụng chủ nghĩa Mác để phân tích lịch sử văn hóa dân tộc, và thực trạng văn hóa hiện thời. Từ đó đề ra phương hướng phát triển văn hóa "tân dân chủ", nó là mục tiêu chỉ có thể thực hiện được từ sau Cách mạng tháng Tám trên nền móng Dân chủ - Cộng hòa.

Năm 1960 - ghi một dấu mốc quan trọng trong hành trình dân tộc. Đó là năm ra đời Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, đưa cuộc chiến đấu chống Mỹ lên một cục diện mới - cục diện cả nước chống Mỹ. Đồng thời, đó là năm trên miền Bắc, Đảng Lao động Việt Nam tiến hành Đại hội lần thứ III công bố Cương lĩnh xây dựng Chủ nghĩa xã hội, và Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965).

Trong Cương lĩnh xây dựng Chủ nghĩa xã hội, Đảng chủ trương tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng:

- Cách mạng quan hệ sản xuất.

- Cách mạng khoa học - kỹ thuật.

- Cách mạng tư tưởng - văn hóa.

Như vậy, ba cuộc cách mạng ở đây cũng nhằm bao quát ba lĩnh vực chính trị - kinh tế - và văn hóa như đã được đặt ra trong Đề cương về văn hóa Việt Nam - 1943.

Từ yêu cầu của Cách mạng tư tưởng - văn hóa mà có Đường lối văn nghệ của Đảng. Đường lối này được đồng chí Trường Chinh trình bày trong bài phát biểu, thay mặt Đảng, trước Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ IV - tháng 12 - năm 1968, có tên Văn nghệ phải góp phần giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tiến tới thống nhất nước nhà, trong đó tác giả tổng kết và nêu lên 8 mục, được xem là "8 quan điểm cơ bản" - "những quan điểm làm cơ sở cho đường lối văn nghệ của Đảng", chiếm toàn bộ Phần I của bài phát biểu. Đó là:

"1. Văn nghệ là vũ khí sắc bén của giai cấp công nhân, của Đảng trong cuộc đấu tranh để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra.

2. Văn nghệ ta phải thực sự là nền văn nghệ của nhân dân.

3. Văn nghệ ta phải có tính chất dân tộc. Văn nghệ ta là văn nghệ của nhiều dân tộc ở nước ta.

4. Văn nghệ phản ánh hiện thực khách quan một cách cao đẹp, góp phần cải tạo hiện thực theo một lý tưởng nhất định.

5. Mục đích của văn nghệ ta đó là giáo dục con người mới.

6. Tiếp thu có phê phán những tinh hoa của văn nghệ dân tộc và những thành tựu tốt đẹp của văn nghệ thế giới xưa và nay.

7. Nắm vững phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa để sáng tác và phê bình.

8. Với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chúng ta xây dựng một nền văn hoá, văn nghệ cao đẹp nhất của loài người"(2).

Vậy là ở đây, qua 8 mục, bản báo cáo đã bao quát gần như đầy đủ những phạm vi cần quan tâm của lý luận văn nghệ (mácxít - lêninnít) gồm: chức năng và vai trò, đặc trưng và tính chất, mục đích và nhiệm vụ, phương pháp sáng tác, và mục tiêu xa của văn nghệ.

Bây giờ đọc lại, dễ nhận thấy ở đây có những mục vẫn đúng nhưng quá rộng hoặc quá hẹp; có những mục không còn thích hợp, cần phải bổ sung hoặc thay đổi.

Tôi chọn mốc 1968 để thấy sự tổng kết trên 8 mục như một cấu thành hoàn chỉnh Đường lối văn nghệ của Đảng mà tác giả Trường Chinh có trách nhiệm khởi thảo và phát biểu. Bởi từ sau 1968 cho đến khi ông qua đời, năm 1988, những bài nói và viết của Trường Chinh không còn mang tính chất tổng kết và vạch đường lối cho văn nghệ nói chung. Dường như, theo quan điểm của Trường Chinh, và cũng là theo sự tiếp thu của giới lý luận lúc ấy, một tổng kết gồm 8 mục như trong bài phát biểu năm 1968 là đầy đủ và không cần phải nói gì thêm. Một tổng kết như là một sự hoàn thiện cả một quá trình nhận thức, theo đuổi về các vấn đề văn hoá, văn nghệ cách mạng, theo quan điểm của Đảng, có khởi đầu từ Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943, ở một người trong gần nửa thế kỷ có trách nhiệm cao nhất thay mặt Đảng lãnh đạo, chỉ đạo văn học nghệ thuật.

Bộ tuyển của Trường Chinh: Bàn về văn hóa - nghệ thuật gồm 2 tập, Nxb. Văn học ấn hành năm 1986, tập hợp gần như tất cả những bài viết, bài nói quan trọng nhất của tác giả, từ 1938 đến 1984, với rất ít sửa chữa, chứng tỏ tác giả đã rất nhất quán và kiên định với các chủ kiến và ý kiến của mình.

Vậy là, sau 1945, và nhất là sau 1954, rồi 1960, trong hoàn cảnh mới của cách mạng, việc xác định một Cương lĩnh chính trị gồm 3 cuộc cách mạng, trong đó có Cách mạng tư tưởng - văn hóa, và một Đường lối văn nghệ của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để đưa văn nghệ vào quỹ đạo chung của cách mạng. Với đường lối này, lý luận văn học phải bao quát một phạm vi rất rộng các vấn đề, trong đó có vấn đề tự do trong sáng tạo văn học - nghệ thuật, là khu vực trực tiếp nhận sự lãnh đạo của Đảng. Bởi nó gắn với yêu cầu giảng dạy văn học trong nhà trường và yêu cầu trang bị về lập trường, quan điểm cho đội ngũ công tác tuyên huấn và lý luận. Cùng với phê bình, nó phải là "một phương thức chỉ đạo của Đảng trên mặt trận văn nghệ"(3). Không kể nó nhằm phổ cập tri thức cho công chúng đông đảo, một công chúng lúc nào cũng cần được giáo dục, động viên để vươn lên đứng ở tuyến đầu các cao trào cách mạng. Nền lý luận văn học đó, một mặt phải xuất phát từ Chủ nghĩa Mác - Lênin, vốn đã được đúc kết và diễn giải trong các bộ sách giáo khoa về triết học, về mỹ học và lý luận văn học nghệ thuật, bởi các học giả mácxít chủ yếu ở Liên Xô, được dịch sang tiếng Việt; một mặt là Đường lối văn nghệ của Đảng, được xem là sự vận dụng cụ thể và sáng tạo các nguyên lý kinh điển Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam được thể hiện và đúc kết trong các văn kiện của Đảng và các bài nói, bài viết của những người thay mặt Đảng.

Lý luận văn học, trong đó có vấn đề tự do trong sáng tạo văn học - nghệ thuật, được hiểu như thế nên có vai trò rất quan trọng, thậm chí rất thiêng liêng. Là "một phương thức chỉ đạo của Đảng" nên nó không được phép sai. Nhất là sai về đường lối. Nếu đường lối cách mạng là mục tiêu toàn Đảng, toàn dân phải nhất tâm thực hiện, thì đường lối văn nghệ phải là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của các giới văn hóa, văn học - nghệ thuật. Do vậy mà một vi phạm dẫu nhỏ vào những nguyên tắc đó là không được phép. Chẳng hạn, Đảng chủ trương hướng về "cuộc sống mới, con người mới" thì bất kể ai (giới lý luận hoặc sáng tác) không thể đặt vấn đề: "Con người bình thường, cuộc sống bình thường"(4). Cái đời thường mà bây giờ ta quen nói, có một thời dài rất ít được nói, hoặc không được phép nói, mà phải là "đến với những nơi tiên tiến, sống với những con người tiên tiến"... Đảng yêu cầu phản ánh trung thành hiện thực cách mạng thì không thể kêu gọi "phá vỡ lôgích cuộc sống"(5) để xen vào một "lô gích nghệ thuật" viễn vông nào đó. Hiện thực cách mạng là anh hùng và cao đẹp thì không thể nhấn mạnh cái bi, hoặc quá đi sâu vào những hiện tượng phân thân, "đối mặt" ở con người(6)… Và nếu người viết còn đi xa hơn, sa vào lực hút của các trường phái lý luận văn học phương Tây gồm các dạng của Chủ nghĩa Hiện đại, như Suy đồi hoặc Tiền phong, Siêu thực hoặc Tượng trưng, Chủ nghĩa Cấu trúc hoặc Hiện sinh, Phê bình mới hoặc Tiểu thuyết mới; hoặc "ăn phải bả" của Chủ nghĩa Xét lại như bênh vực tính người siêu giai cấp, hoặc chủ trương chung sống hoà bình giữa các chế độ xã hội khác nhau… thì không chỉ tác phẩm mà các tác giả của nó cũng bị liên luỵ, có người phải bị treo bút trong cả một thời gian dài.

Tình thế rồi sẽ thay đổi, từ Đại hội VI của Đảng - tháng 12-1986; với hai khẩu hiệu: "Lấy Dân làm gốc", và "Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật". Đây là một cuộc "Sửa sai" lớn, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, văn học - nghệ thuật; dĩ nhiên yêu cầu tự do sáng tạo soi vào đấy sẽ phải nhận thức lại nhiều điều. "Cởi trói" trở thành một nhu cầu tự thân. Mà nói "cởi trói" tức là nói trước đây đã có nhiều buộc trói. Để có tự do hãy tự cứu mình trước khi Trời cứu (lời Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh). Nhờ vậy yêu cầu tự do và phạm vi tự do mới được nới dần ra, để thoát ra khỏi các trói buộc, gần như lúc nào cũng bị xiết chặt, suốt hơn 30 năm. Một mùa gặt mở ra - mùa "tiền Đổi mới" trong mở đầu thập niên 1980, trổ ra được những khoảng trời, những cánh cửa cho những bức xúc của nhân dân và không khí thời đại tràn vào…

Từ Đổi mới (1986) chuyển sang Hội nhập (1995), cho đến cuối thập niên 1990 trở đi, văn học - nghệ thuật chuyển sang một thời kỳ mới với rất nhiều thay đổi trong đề tài - chủ đề, trong cảm hứng sáng tạo, trong thi pháp - bút pháp, trong cấu trúc nghệ thuật, trong văn bản ngôn từ... Đồng thời là sự nhận thức lại, đánh giá lại diện mạo lịch sử sau hơn một thế kỷ hiện đại hóa: nhiều án oan được giải tỏa; nhiều tên tuổi được khôi phục qua các dịp kỷ niệm nhân vào tuổi "trăm năm"; cùng nhiều giải - như Giải Hồ Chí Minh và Giải Nhà nước được trao hoặc truy tặng cho một số người từng bị tai nạn trước đây. Ít có các "vụ" "việc" xảy ra. Bớt dần, tuy chưa phải đã hết hẳn, những quy chụp nặng nề đối với một số hiện tượng có sự phân rẽ hoặc khác nhau trong dư luận. Tự do sáng tạo vẫn còn những khía cạnh cần bàn, nhưng là bàn trên một bình diện mới. Đó là sự chấp nhận, hoặc tôn trọng mọi tìm tòi để có thể vừa đến được với cái riêng, cái khác - vốn là mục tiêu săn tìm ráo riết của một thế hệ trẻ, kể từ 8X, 9X trở đi - thế hệ không phải sống trong bối cảnh chiến tranh và tình thế bao cấp, vừa vẫn có thể đồng hành cùng nhau trước những mục tiêu chung khi quốc gia "hữu sự" như chủ quyền biển - đảo bị đe dọa, quốc nạn tham nhũng vẫn chưa hoặc rất khó bị đẩy lùi; vừa khẩn trương tham gia hội nhập, nhưng vẫn phải cảnh giác trước nguy cơ đánh mất bản sắc riêng của mình...

2. Đảng và các nghị quyết của Đảng về văn hóa trong quan hệ với kinh tế, chính trị thời đổi mới và hội nhập

Từ Đường lối văn nghệ - 1968 đến một Nghị quyết riêng về văn hóa - Nghị quyết 05 khóa VIII năm 1998 là chẵn 30 năm.

Đó là 30 năm ghi nhận những chuyển động dữ dội trong đời sống dân tộc, qua các sự kiện lớn của lịch sử: Đại thắng mùa Xuân 1975. Đại hội VI - 1986 chính thức đưa đất nước vào kỷ nguyên Đổi mới. Đại hội VII - 1991 và Đại hội VIII - 1996 diễn ra sau sự kiện Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa tan vỡ (1990), Việt Nam thoát khỏi thế cấm vận và gia nhập ASEAN (1995) để mở đầu cho thời hội nhập.

Sau chiến thắng của hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ cùng với cuộc chiến ở hai đầu biên giới và sự tan vỡ tình thế hai phe, những sự kiện lịch sử như trên đã đưa Việt Nam vào một chuyển động chưa từng diễn ra trong lịch sử kể từ mở đầu thập niên 1990. Đó là sự xuất hiện nền kinh tế thị trường trong tư thế chủ động tham gia vào một cuộc hội nhập mới với khu vực, gắn với những tác động rộng lớn và sâu sắc vào mọi mặt sự sống con người của cuộc Toàn cầu hóa lần thứ 3 và Kỷ nguyên thông tin.

Như vậy là phải đến cuộc toàn cầu hóa lần thứ 3 gắn với kỷ nguyên thông tin ta mới có được tư thế chủ động trong các hoạt động có tính nhân loại, để kịp với tiến trình chung; với những Được và Mất có quy mô toàn cầu.

Các yếu tố trên quy định gương mặt dân tộc từ 1995 đến nay - trong độ dài trên 25 năm. Đó là 25 năm dân tộc đứng trước những cơ hội và thử thách gần như chưa có tiền lệ trong lịch sử. Hai mươi lăm năm với những thành tựu lớn và những mất mát lớn - cả hai tôi nghĩ là ngoài sức tưởng tượng. Nhìn vào cái Được trên mọi lĩnh vực: ăn, mặc, ở, đi lại, và các nhu cầu vui chơi - giải trí thì chưa có lúc nào bằng lúc này. Những tiệc nhậu triền miên, bia rượu tràn bờ, đủ sơn hào hải vị, ở một đất nước luôn luôn thiếu đói, sau hai trận đói lớn. Một là trận đói vào đầu năm Ất Dậu (1945) khiến hai triệu người chết. Và hai là cơn đói thời bao cấp kéo dài suốt thập niên 1980 khiến cho cả dân tộc ai cũng mang khuôn mặt của người "mất sổ gạo"... Những kiểu mốt thời trang không lúc nào là đủ cho mọi giới nghề nghiệp, mọi lứa tuổi. Những biệt thự, phủ đệ, nhà nghỉ và khu vui chơi, giải trí có ở khắp nơi. Phương tiện đi lại đắt nhất không thiếu. Những cuộc xem nghệ thuật nhiều triệu đồng thường cháy vé, và những tuor du lịch trong nước và khắp thế giới đều hết chỗ. Tất cả đó là biểu hiện trên bề mặt của sự phát triển kinh tế. Tất nhiên, những hưởng thụ như trên là chỉ dành cho một số người có tiền, có nhiều tiền; còn việc từ đâu mà có tiền như trường hợp của nhiều cán bộ cao cấp cùng nhiều đại gia khác trong bộ máy công quyền và giới doanh nhân đã phải ra hầu tòa và nhận tội thì phải tìm đến nhiều nguồn; và đây lại là câu hỏi cần một chuyên đề khác.

Trở lại câu chuyện Được - Mất. Được là được về kinh tế. Còn mất là mất về văn hóa, đạo đức, tinh thần... Trong rất nhiều cái mất, thì đau đớn nhất, khủng khiếp nhất vẫn là mất về luân lý, đạo đức, lối sống - thuộc khu vực văn hóa, và các mối quan hệ con người trong các cộng đồng, từ gia đình ra xã hội. Gia đình - đơn vị sống cơ bản của con người có nguy cơ tan rã; bởi ở đó, chữ hiếu bị một đòn tử thương, trong những vụ con cháu giết cha mẹ, ông bà. Còn xã hội là tình trạng bất an, do sự tràn lấn của cái ác, và cái giả. Cái ác thì thiên hình vạn trạng, trên mọi lĩnh vực, còn cái giả thì chỉ cần tiếp xúc với thực phẩm giả, phân bón giả, thuốc giả và bằng cấp giả - đủ thấy sự sống con người đang bị dồn đến chân tường như thế nào. Đó là những hiện tượng gắn trực tiếp với sự suy thoái đạo đức trong xã hội, đưa đến sự bất an, thậm chí làm rã rời các cộng đồng người trong dân tộc.

Tất nhiên, thực trạng vẫn là sự xen cài giữa thiện - ác, tốt - xấu, thực - giả. Nhưng những mặt tích cực lắm khi gần như bị chèn lấn, khuất lấp, bên cái tiêu cực gần như lộ diện ở khắp nơi, gồm cả đời sống công quyền, từ thấp lên cao; kể cả những khu vực lẽ ra là rất thiêng liêng, rất cao quý.

Tìm căn nguyên sâu xa cho những được - mất kể trên, đó là sự mất cân đối giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa; và suy cho cùng đó là sự coi nhẹ văn hóa, tức là sự coi nhẹ việc xây dựng Con người, bởi văn hóa - thực chất và cuối cùng là gắn với Con người. Và nói Con người, lại không thể bỏ qua khu vực giáo dục, từ nhiều chục năm qua đang trong một cơn suy thoái trầm trọng, bởi sự rời bỏ mục tiêu giáo dục làm người, dẫu những cấp báo về nó đã có từ rất sớm. Điều đó có nghĩa là 25 năm qua ta đã thiếu một cái nhìn xa về Con người, thiếu những chuẩn bị về Con người, cho một chuyển động, không chỉ là dữ dội mà còn là chưa có tiền lệ trong lịch sử dân tộc. Có nghĩa là ta đã vào cuộc với nhiều bỡ ngỡ và hăm hở, mà thiếu sót lớn là thiếu sự trang bị cho Con người - do vậy mà đến 1998 Đảng phải có một Nghị quyết riêng - Nghị quyết 05 - khóa VIII về vai trò và nhiệm vụ của văn hóa để xây dựng Con người. Ở Nghị quyết đó ta được thấy vai trò đặc biệt của văn hóa để chống đỡ với những tác động và tác hại của hội nhập và kinh tế thị trường; ở đó, đã cho thấy một công việc cấp bách là phải giữ gìn bản sắc riêng và truyền thống văn hóa dân tộc như một tễ thuốc kháng sinh, một vũ khí để tự vệ; để không tự đánh mất mình…

Một Nghị quyết đề cập toàn diện các phương diện của văn hóa, trong tương quan với đời sống chính trị - kinh tế - xã hội; với 5 quan điểm chỉ đạo:

"1. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

2. Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

3. Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

4. Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.

5. Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng."

So với 3 phương châm và cũng là 3 mục tiêu của hoạt động văn hóa trong Đề cương năm 1943; so với 3 cuộc cách mạng trong Cương lĩnh chính trị của Đảng ở Đại hội III - năm 1960; và 8 quan điểm cơ bản trong Đường lối văn nghệ của Đảng - năm 1968, thì Nghị quyết 05 - khóa VIII - 1998 là một phát triển vừa trên sự mở rộng, vừa là đào sâu vào những yêu cầu cốt lõi của văn hóa trong tương quan với những chuyển biến mới của dân tộc và thời đại.

Rõ ràng nói đến việc chuẩn bị về Con người ở Việt Nam ta thì, để đối phó với ngoại xâm, tình yêu nước, sẵn sàng hy sinh cho đất nước là một kho dồi dào, bất cứ lúc nào, bất cứ kẻ thù nào ta cũng đều có thể huy động. Nhưng để xây dựng và phát triển đất nước, trong thời bình; và nhất là trong bối cảnh một thế giới thay đổi trong gia tốc lịch sử lớn thì Con người Việt nói chung còn chưa đủ phẩm chất để đáp ứng bởi cái gốc nông dân, và căn rễ tiểu nông gắn quá sâu vào mọi lớp người, rất hiếm có ai là ngoại lệ. Những cái mất về văn hóa, về đạo đức, lối sống diễn ra có lúc gần như phủ khắp các tầng lớp cư dân, gồm cả bộ máy công quyền từ thấp lên cao đủ minh chứng cho điều đó. Có nghĩa là để giải quyết sự thiếu thốn văn minh, yếu kém văn hóa này rất cần trở lại sự thức nhận vai trò của văn hóa, xem văn hóa như một nền tảng tinh thần, một sức mạnh nội sinh của sự phát triển; và, cùng với văn hóa là giáo dục; phải thực sự xem giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhận thức đó, tiếp tục được thể hiện trong Nghị quyết 09 - khóa XI của Đảng, 16 năm sau, năm 2014, có tên: Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Tôi chú ý ở đây, trong Nghị quyết này có sự gắn nối Văn hóa với Con người. Và cũng ở Nghị quyết này, lần đầu tiên, sau 71 năm, kể từ Đề cương văn hóa - 1943, có thêm sự khẳng định: "Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội".

Vậy là, sau hơn 70 năm, trật tự và vị trí của Văn hóa đã được sắp xếp lại, để có được một tầm cao hơn, trong ngang bằng với Kinh tế và Chính trị. Hy vọng nhận thức này sớm được chứng nghiệm, bởi thực tiễn hôm nay sau 5 năm thực hiện Nghị quyết vẫn còn rất nhiều âu lo, rất lắm buồn phiền. Đầu tư cho văn hóa có thể bỏ ra nhiều chục nghìn tỷ để xây dựng cơ sở vật chất như quảng trường, rạp hát, khu lưu niệm, bảo tàng, trung tâm hành chính... trong khi nghệ nhân mòn mắt chờ trợ cấp vài triệu, các vở diễn không đủ tiền để dựng... Kinh phí cho giáo dục có thể phóng lên vài chục nghìn tỷ riêng cho việc viết sách giáo khoa, còn hàng triệu thầy, cô thì khó sống với đồng lương, học trò vùng sâu vùng xa thì cơm ăn không đủ. Chính những khu vực lẽ ra gắn với Con người nhất lại rất vô tâm với Con người. May mà một vài dự án như vậy đã phải dừng lại.

3. Vài suy nghĩ về mục tiêu và thực trạng

Giờ đây sau ngót 35 năm Đổi mới, trong đó có 20 năm hội nhập, để hướng tới một phát triển bền vững cho đất nước, nhìn từ văn hóa, đúc kết từ một lịch sử văn hóa như trên, tôi muốn tìm đến ba khu vực.

1. Một nền chính trị sáng suốt, có tầm cao về trí tuệ, có bề dày về văn hóa, hợp ý dân, được lòng dân - chịu được thử thách: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".

2. Một nền giáo dục được cải tạo và đổi mới triệt để, trên tất cả các cấp, các khâu. Ở khu vực giáo dục này, như nhiều năm nay đã làm, tôi thấy rất cần không chỉ một, mà nhiều Hội nghị Diên Hồng để tập hợp được trí tuệ của toàn dân. Bởi giáo dục là câu chuyện của nhiều năm, nhiều chục năm, chứ không phải một, vài năm, nó gắn bó và quyết định tương lai của dân tộc. Bởi giáo dục là câu chuyện có tác động xã hội rộng lớn phủ khắp nhiều chục triệu thanh, thiếu nhi ở học đường, và cũng chừng ấy các bậc bố mẹ, ông bà mất ăn, mất ngủ vì con cháu.

3. Một môi trường sống trong sạch, lành mạnh - không chỉ là sự giảm thiểu ô nhiễm từ các nguồn nước, không khí do rác thải và khí độc bao vây khắp chốn; mà nghiêm trọng hơn - là sự ô nhiễm về tinh thần bởi sự tràn lấn của cái ác, cái xấu, cái giả trong sinh hoạt thường nhật của con người; và sự lỏng lẻo, rời rã của các quan hệ xã hội.

Trong Nghị quyết mới của Đảng năm 2014 có việc đặt ngang nhau ba phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa; trên tinh thần khẳng định mạnh mẽ hơn nữa vai trò của văn hóa; nhưng xét đến cùng vẫn phải thấy mọi khởi đầu phải bắt đầu từ chính trị. Cần một nền chính trị anh minh và một bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh để giải quyết hài hòa hai phương diện sống cơ bản của con người là vật chất và tinh thần, là kinh tế và văn hóa, là sống cho sướng hơn và sống cho tốt hơn.

Cuối cùng tôi nghĩ là cần thiết, từ góc nhìn văn hóa để xác định những gương mặt đang và sẽ là chủ thể của tương lai. Nếu trong cách mạng và chiến tranh kéo dài hơn 40 năm, con người phải được trang bị bằng ý chí quyết chiến, quyết thắng trước mọi loại kẻ thù, với nhân vật trung tâm là công - nông - binh, là giai cấp công nhân và đội ngũ tiên phong của mình; thì trong thời bình và hội nhập, phẩm chất cơ bản của con người phải là hàm lượng trí tuệ và năng suất lao động, với nhân vật trung tâm - theo tôi, đó là lực lượng trẻtầng lớp trí thức và giới doanh nhân.

Từ những chuyển đổi làm nên gương mặt thời hôm nay, cần hướng tới một nhận thức mới về việc xây dựng con người - sao cho thích ứng và đáp ứng được yêu cầu của dân tộc đang trong một cuộc hội nhập lớn với khu vực và thế giới. Một thời đại như thế, ai là người có thể tiếp nhận, tiếp cận và làm chủ nó? Tất nhiên trước hết phải là những người trẻ tuổi chiếm tỷ lệ 40% dân số; với sức năng động, dám nghĩ, dám thử, dám làm nhờ vào những trang bị tốt trong khả năng am hiểu, nắm vững, và làm chủ các phương tiện thông tin; có tri thức phong phú, đầy đủ trên các lĩnh vực mũi nhọn; và rất chuyên nghiệp trên nghề nghiệp được chọn.

Phải xây dựng con người trên các yêu cầu mới của kỷ nguyên thông tin; và tin tưởng ở họ.

Nhìn lại lịch sử dân tộc Việt, đây chính là thế hệ từng làm nên các bước ngoặt trong các thời kỳ chuyển đổi của nó.

Để có được một lớp tuổi trẻ như vậy cần biết bao điều kiện. Họ cần được hưởng một nền giáo dục chu đáo, với những tri thức được trang bị đầy đủ, mà không nhồi nhét, đạt tầm khu vực và quốc tế. Được hưởng một bầu không khí trong lành từ gia đình ra mọi môi trường xã hội. Được hưởng sự thân thiện của bộ máy chính quyền từ thấp lên cao...

Sẽ rất khó khăn cho việc xuất hiện một đội ngũ trẻ như thế, nếu thiếu một hoặc tất cả những điều kiện ấy. Nếu xã hội, nếu bộ máy quản lý và thể chế chính trị không lo được, thì mỗi người, mỗi gia đình phải tự lo, bằng các cách chạy, từ chạy trường, chạy lớp, chạy xin việc cho đến chạy học bổng, chạy dự án để đi nước ngoài... Đó là tình hình đã diễn ra khá lâu, và chưa có dấu hiệu gì kết thúc.

Gương mặt thứ hai - rất cần được chăm nom, xây dựng để có được hình mẫu cho nó - đó là giới trí thức thuộc các lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn. Đây là yêu cầu đang thực sự nổi lên khi chúng ta đang nỗ lực xây dựng một xã hội học tập và một nền kinh tế trí thức; khi văn hoá đang trở thành "nền tảng tinh thần", "sức mạnh nội sinh" cho sự phát triển; khi sự phát triển về mọi phương diện của dân tộc phải dựa trên nền tảng văn hoá mới có thể giữ được cho dân tộc có gương mặt riêng, và bảo đảm được sự cân đối và bền vững mà không sa vào so lệch, khủng hoảng và suy thoái.

Gương mặt thứ ba là các doanh nhân trên mọi lĩnh vực sản xuất, lưu thông, lực lượng chủ chốt tạo nên sự phát triển, tăng trưởng của kinh tế - xã hội trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Đây là gương mặt mới, rất mới trong xã hội ta, sau một thời dài nhoà mờ, chìm nổi, bị phê phán hoặc kỳ thị, thậm chí là đối tượng số 1 của chuyên chính vô sản, qua các cuộc cải tạo giai cấp hữu sản và các cuộc đấu tranh tư tưởng.

Phải chờ cho đến bây giờ, khi đất nước bước vào hội nhập, thì gương mặt các giới doanh nhân mới có được vai trò quan trọng của nó cho nền kinh tế, và trở thành biểu tượng của cái mới, rất đáng tôn vinh qua hệ thống truyền thông.

Thời hiện đại do giai cấp tư sản tạo lập đã có lịch sử trên dưới năm thế kỷ ở phương Tây. Từ thời tích lũy nguyên thủy tư bản đến nay, cả thế giới cùng với gương mặt riêng của giai cấp tư sản đã chứng kiến những thay đổi khó có đầu óc giàu tưởng tượng nào mà hình dung nổi. Vị tỷ phú giàu nhất thế giới bây giờ là Bill Gäte có tài sản trên dưới 100 tỷ đô la, số lớn dùng làm việc thiện. Đánh giá công và tội của giai cấp tư sản là câu chuyện đã diễn ra cùng với lịch sử của nó. Nhưng lại có vấn đề vượt ra ngoài công và tội của một giai cấp, đó là vấn đề khẳng định sự phát triển chung của nhân quần và xã hội, từ thấp lên cao mà con người có thể rút ngắn, chứ không thể "bỏ qua" hoặc "đốt cháy" một cách tùy tiện, dễ dàng. Ý kiến sau đây của K. Marx rất đáng cho ta suy nghĩ: "Giai cấp tư sản không thể tồn tại nếu không luôn luôn cách mạng hóa phương tiện sản xuất, do đó cách mạng hóa những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hóa mọi quan hệ xã hội. Trái lại, đối với tất cả các giai cấp công nghiệp trước kia thì việc duy trì nguyên vẹn phương thức sản xuất cũ là điều kiện cho sự tồn tại của mình"(7).

Giờ đây, khi dấn sâu vào thế kỷ XXI, với hành trang tinh thần là chủ nghĩa yêu nước và khát vọng canh tân, chúng ta còn phải vượt rất nhiều rào cản và thử thách, trong đó thử thách lớn nhất là việc xây dựng và bồi đắp một bản lĩnh, một nền tảng văn hóa làm nên cái vốn Người (với ba thành phần cơ bản như trên); bởi chỉ với cái vốn Người chúng ta mới có thể chủ động trong hội nhập để đến với mục tiêu không chỉ của một thời, mà là cho muôn đời con cháu: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

 

Chú thích

(1). Các trích dẫn Đề cương... trong bài này, rút ở văn bản Đề cương về văn hóa Việt Nam, đăng trên Tiên phong số 1 (được xem là tái bản), ra ngày 10-11-1945.

(2). Sách Bàn về văn hóa, nghệ thuật; Tập II; Nxb. Văn học; 1986.

(3). Về phê bình văn học; Tạp chí Văn học số 11-1969.

(4). Tên một bài báo của Hoàng Trinh trên Tạp chí Văn học - 1965.

(5). Tên một bài báo của Mai Thúc Luân trên báo Văn hóa - 1963.

(6). Tên một vở kịch của Nguyễn Khải đăng trên Tác phẩm mới - 1974.

(7). Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản; Nxb. Sự thật; H; 1963; tr.26.

 

PGS.TS Nguyễn Đức Chiện

Đặt vấn đề

Nhiều công trình nghiên cứu trước về làng Việt truyền thống đã chỉ ra đặc trưng cơ bản của làng là một đơn vị kinh tế khép kín, chính trị mang tính tự trị - tự quản, văn hóa thể hiện tính cộng đồng (Nguyễn Văn Huyên, 1939; Trần Từ, 1984; Trần Ngọc Thêm, 1999; Ngô Đức Thịnh, 2001; Phan Ngọc, 2004). Có thể nói, tính cộng đồng là một giá trị văn hóa cốt lõi, quan trọng tạo nên bản sắc cộng đồng làng Việt ở miền Bắc. Khi đề cập đến tính cộng đồng trong văn hóa làng, các học giả nghiên cứu văn hóa thường trình bày với một nội dung khá rộng, bao gồm nhiều khía cạnh sinh hoạt khác nhau của đời sống, từ quan hệ trong gia đình, họ tộc, cho đến các mối quan hệ ngoài xóm làng như sự kiện lễ hội. Trong các mối quan hệ xã hội này, cá nhân, nhóm đã tham gia và ứng xử trong các sinh hoạt ở cộng đồng làng xã. Tìm hiểu về bản sắc làng Việt, nhất là đối với các làng Việt cổ truyền, chúng tôi nhận thấy, tính cộng đồng chính là giá trị văn hóa cốt lõi giữ vai trò quan trọng trong các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Nghiên cứu này chỉ tập trung tìm hiểu tính cộng đồng của văn hóa làng Việt qua hoạt động lễ hội truyền thống ở làng. 

Thực tế, trong xã hội của làng Việt trước đây đã tồn tại vô số các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Người ta gọi các lễ hội là các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng là có cơ sở khách quan của nó. Trong xã hội nông nghiệp cổ truyền ở Việt Nam trước đây, các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng vốn mang nhiều chức năng quan trọng, sự ghi ơn các tiền nhân có nhiều công đức; kỷ niệm và nhắc nhở về sự thay đổi thời tiết theo nông lịch; rồi vô vàn các nhu cầu khác nữa như cầu tài, cầu lộc, cầu an, v.v… Có thể nói, hình thức sinh hoạt văn hóa đó đều nhằm đề cao một hoặc một số giá trị xã hội và nhân sinh nào đó, song nhìn chung thì hướng tới việc tái khẳng định và thắt chặt hơn nữa các mối quan hệ cộng đồng của các thành viên tham dự.

Nhà nghiên cứu Đoàn Văn Chúc, khi bàn về chức năng của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng mà ông gọi là các lễ - tết - hội, đã viết: "Một ngày giỗ tổ họ (nhóm họ tộc) hoặc giỗ gia tiên (nhóm gia đình), các thành viên của nhóm hội tụ, biểu hiện giá trị của đối tượng bằng sự cử lễ, ấy là trong cùng một lúc họ biểu hiện giá trị của cái nhóm mà họ sở thuộc và là phần tử cấu thành. Do đó, sức cố kết xã hội được tái xác định, những rạn nứt, đố kỵ có khi cả những hận thù, diễn ra trong quan hệ hàng ngày được lắng dịu một phần, cũng có khi được xóa bỏ. Cũng là như thế về căn bản đối với các lễ kỷ niệm: khao vọng, ngày sinh, lễ tang, lễ cưới, lễ tiễn đưa, v.v… Ở đây, đằng sau và bên trong cái linh thiêng, huyền bí vốn bao phủ mọi lễ hội trong xã hội nông nghiệp cổ truyền, người ta thấy lễ hội có tính cứu cánh trần tục của nó. Bởi thế, người ta đã có thể qui cho các cuộc lễ chức năng xã hội đầu tiên là: Biểu hiện các giá trị xã hội của một cộng đồng và tái xác định những mối liên hệ đã gắn bó các nhóm lại với nhau" (Đoàn Văn Chúc, 1997:133).

Nói về các hình thức sinh hoạt văn hóa này, các nhà nghiên cứu thường phân chia thành hai phần: lễ và hội. Lễ là việc cúng tế, cúng bái các đối tượng được cử lễ với các nghi thức đã được định sẵn từ trước, còn hội là việc vui vẻ gặp nhau sau một thời gian xa cách (Nguyễn Lân, 2002:325 và 404). Đánh giá tác động của hai phần lễ và hội đối với việc nuôi dưỡng, củng cố các mối quan hệ cộng đồng, Đoàn Văn Chúc cho rằng nếu chỉ có những nghi thức lễ thuần túy (như tế lễ, cầu xin…), thì sự biểu hiện giá trị của đối tượng nhận lễ chỉ dừng lại ở hiệu quả ý tưởng tính, không hiện thực. Nhưng nhờ có phần hội, mà cụ thể là nhờ có những cuộc ăn uống, vui chơi của các thành viên trong tình thân thiện mênh mông, chan hòa mà sự "tái xác định lực cố kết trong lòng nhóm" mới trở thành toàn vẹn, hiện thực. Ông còn nói, cứ như thế, hàng tháng hay hàng năm (các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng) lặp đi lặp lại không mệt mỏi, làm cho đời sống của cư dân trong xã hội nông nghiệp, vốn đầy những nhí nhách và khó khăn gặm nhấm, mới trở thành bình thường, khả thể (Đoàn Văn Chúc, 1997: 133-134).

Đặt vấn đề trên bình diện hình thái kinh tế - xã hội, có thể nói, nếu như các nền tảng thuộc hạ tầng cơ sở như chế độ ruộng công, nghề trồng lúa nước hay các phương thức tổ chức và quản lý đã góp phần làm hình thành nên tính cộng đồng của làng Việt, thì việc thường xuyên củng cố và tái chuẩn nhận thuộc tính chung ấy lại là các nhân tố thuộc thượng tầng kiến trúc, mà tiêu biểu ở đây là các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

Giống như trong hoạt động kinh tế, trong tổ chức và liên kết xã hội, các dạng thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng ở làng Việt cũng luôn biến đổi và có những bước thăng trầm của chúng. Nếu như trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, các hoạt động này không chỉ diễn ra thường xuyên mà các nghi thức, thủ tục của chúng cũng rất phiền hà và tốn kém, thì từ sau năm 1945, nhất là ở thời kỳ hợp tác xã bao cấp, một số hình thức bị loại bỏ, số còn lại cũng được thu gọn và đơn giản hóa đi rất nhiều. Nhưng từ ngày Đổi mới (1986), các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng cổ truyền lại đang được phục hồi mạnh mẽ và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế - xã hội nơi làng xã.

Một điều cần nhấn mạnh ở đây là, bên cạnh sự nghiệp Đổi mới mà nội dung cơ bản là việc thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế thị trường, thì sự phục hưng các hình thức sinh hoạt văn hóa cổ truyền còn chịu thêm một lực tác động nữa - đó là tiến trình toàn cầu hóa. Vậy, trong bối cảnh của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay, giá trị văn hóa cộng đồng ở làng Việt đang diễn ra như thế nào? Chúng có tiếp thu thêm những yếu tố mới mà toàn cầu hóa mang lại hay không? Nếu có thì điều đó có ảnh hưởng gì đến các mối quan hệ cộng đồng và bản sắc làng Việt?

Động thái của tính cộng đồng trong sinh hoạt lễ hội ở làng Việt trong bối cảnh đổi mới và toàn cầu hóa

Vào bất cứ một làng Việt cổ truyền nào ở miền Bắc, chúng ta đều có thể bắt gặp mái đình, ngôi chùa, tiếp nữa là nghè, đền, am, miếu, rồi nhà từ đường/nhà thờ họ, cây hương, văn chỉ, v.v… Mỗi thiết chế văn hóa tâm linh ấy đều có các hình thức cúng lễ hoặc hội hè riêng với mục đích tăng cường sự thống nhất của các thành viên trong nhóm và cộng đồng làng. Tiêu biểu nhất cho các hình thức sinh hoạt văn hóa cổ truyền ấy là lễ hội đình để cúng tế thành hoàng, vị thần bảo trợ của làng.

Sự biến đổi về nghi thức trong lễ hội làng qua các giai đoạn lịch sử khác nhau

Đối với người Việt, nhất là cư dân ở nông thôn trong các làng ở miền Bắc, lễ hội làng là điều không thể thiếu trong đời sống tâm linh của họ. Ngày vào đám hay vào hội, ngoài các dòng họ, các phe giáp, thì hầu như nhà nào cũng làm cỗ, trước là tế lễ để tỏ lòng thành kính đối với vị thành hoàng, sau là họp mặt cháu con để ăn uống. Nói về lễ hội làng, ông Nguyễn Văn Huyên, trong công trình Văn minh Việt Nam, đã viết: "Sự thờ cúng đã được lưu truyền từ nhiều thế kỷ (…). Những sức sống đó góp phần tạo cho việc thờ cúng này cái khung cốt vững chắc hơn khung cốt của một tôn giáo bình thường. Tục thờ thành hoàng đã trở thành một lực cố kết, trong tổ chức của làng xã, hệ trọng và vững vàng đến nỗi nó có thể chống chọi thắng lợi với mọi toan tính qui định của Nhà nước" (Nguyễn Văn Huyên, 2005:161). Và, cứ lặp đi lặp lại như thế hàng năm, các lễ hội làng đã góp phần củng cố và tái chuẩn nhận tính cộng đồng của người Việt nơi làng xã.

Nhưng lễ hội làng cũng đã trải qua những bước thăng trầm không tránh khỏi. Kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhất là trong thời kỳ hợp tác xã bao cấp, các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng cổ truyền, trong đó có lễ hội làng, cứ mỗi ngày lại thưa vắng dần trong các hoạt động văn hóa mang tính cộng đồng của làng Việt. Một phần, đó là do sự tàn phá của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Song, mặt khác cũng là do quan niệm tả khuynh, ấu trĩ của một thời đã qua. Lúc bấy giờ người ta cho rằng tất cả những di tích lịch sử như đình chùa, đền, miếu, nhà từ đường, cũng như các lễ nghi thờ cúng, lễ hội, hay việc giỗ tổ họ, v.v… đều là những tàn dư của xã hội thực dân và phong kiến, vì vậy, cần phải xóa bỏ.

Theo các thông tin phỏng vấn sâu hồi cố trong một nghiên cứu của (Trần Nhật Hoàng, 2017) tại một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng sông Hồng cho thấy thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám ở Liên Đàm có ngôi đền rất lớn, nổi tiếng trong vùng xứ Kinh Bắc, trong ngôi đình chùa này có nhiều tượng phật quý hiếm. Tuy nhiên, những di tích quan trọng này đã bị người dân và chính quyền bỏ đi vào những năm tiến hành cải cách ruộng đất. Cũng theo thông tin phỏng vấn sâu một người dân trong làng Liên Đàm cho biết, "năm 1947 ngôi Đền bị phá, năm 1971 phá chùa, phá đình, cũng trong thời gian này v.v...". Cũng trong hoàn cảnh tương tự như Liên Đàm, Quỳnh Đôi là một làng Việt ở Bắc Trung bộ có lịch sử lâu đời, theo nhiều tài liệu nghiên cứu cho biết làng Quỳnh Đôi có lịch sử hơn 600 năm, nhiều di tích lịch sử như đình, chùa, đền, miếu, nhà từ đường đã được người dân dựng lên để trở thành nơi sinh hoạt của cộng đồng. Trong số các di tích còn lại và đang được khôi phục hiện nay là đình, đền, miếu và từ đường. Mặc dù, các di tích này có từ lâu nhưng nó cũng bị lãng quên trong nhiều thập kỷ qua và hiện nay đang từng bước được khôi phục trở lại (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013).

Tuy nhiên, từ ngày Đổi mới (1986), nhất là từ sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (thường gọi là khoán 10), với việc công nhận hộ gia đình nông dân là đơn vị tự chủ trong sản xuất, kinh doanh và giao khoán ruộng đất lâu dài cho họ thì tình hình đã thay đổi rất căn bản. Đầu những năm 1990, trong một công trình nghiên cứu về cải cách kinh tế và tăng cường lễ nghi ở hai làng Sơn Dương và Hoài Thị ở đồng bằng và trung du Bắc bộ, nhà nhân học Lương Văn Hy đã rút ra những nhận xét rất sâu sắc. Ông viết: "Tôi cho rằng ở cả Sơn Dương và Hoài Thị trong những năm 80, cải cách kinh tế đã có hai ảnh hưởng quan trọng đến tập tục lễ nghi của hai địa phương trên. Trước hết, thặng dư kinh tế ngày càng tăng và sự chuyển dịch khỏi nông nghiệp tập thể hóa tiến đến sản xuất hộ gia đình trong một nền kinh tế nhiều thành phần đã tăng cường mạnh mẽ các lễ nghi bên trong cũng như bên ngoài dòng họ. Lễ nghi và hệ thống tiệc tùng qua lại đã tăng cường quan hệ xã hội trong một cộng đồng nông nghiệp luôn bị những đe dọa tự nhiên đối với cuộc sống và càng ít có trợ giúp của nhà nước" (Lương Văn Hy, 1994: 437-438). Cho đến những năm 2000, nhà nghiên cứu văn hóa học Lê Hồng Lý, trong khi nghiên cứu về làng Cổ Mễ (thuộc Bắc Ninh) và tín ngưỡng bà Chúa Kho, cũng cho rằng khi kinh tế trở nên ổn định và ngày càng giàu có hơn, người dân đã tích cực phục hồi lễ nghi, lễ hội, các di tích, cũng như các sinh hoạt văn hóa cộng đồng nói chung (Dẫn theo Nguyễn Thị Phương Châm, 2010: 493).

Cũng như vậy, từ ngày Đổi mới (1986) đến nay, các bằng chứng của hai cuộc nghiên cứu cho thấy ở Liên Đàm và Quỳnh Đôi đã và đang có sự phục hưng các tập tục và lễ nghi cổ truyền một cách rất mạnh mẽ. Trong gia đình, nhà nào cũng có bàn thờ gia tiên, ngoài ngày giỗ gia tiên thì các ngày sóc (mồng một), ngày vọng (rằm) đều khói hương nghi ngút. Trong các dòng họ, người ta xây lại mộ tổ, trùng tu hay xây mới các từ đường, lập lại gia phả và chắp nối lại các quan hệ dòng họ đã phiêu tán nhiều nơi. Thực tế này được phản ánh rất rõ trong các phỏng vấn sâu người dân ở hai làng,  "Họ tộc Nguyễn Thời là một dòng họ lớn không chỉ trong làng mà còn được xem là một dòng họ lớn ở xứ Kinh Bắc này. Nếu tính đến nay dòng họ này đã có lịch sử khoảng hơn 600 năm. Dòng họ có từ đường, văn bia, hoành phi câu đối, tộc phả, và nhiều hiện vật cổ kinh có giá trị. Sau nhiều thập kỷ nhà thờ bị bỏ hoang đã được khôi phục gần đây" (Nam, 61 tuổi, làng Liên Đàm, Yên Thường, Gia lâm, Hà Nội).

Ra đến làng xã, một sự kiện đáng quan tâm nữa là việc tu bổ, xây mới các đình chùa, đền miếu, sưu tầm và dịch lại các thần tích, thần phả, sắc phong, v.v…

Khi tiến hành tìm hiểu riêng về ngôi chùa và lễ hội của hai làng khảo sát cho thấy ở Liên Đàm và Quỳnh Đôi mặc dù cùng trong hoàn cảnh bị lãng quên nhiều thập kỷ nhưng mức độ và thời điểm khôi phục diễn ra khác nhau. Ở Liên Đàm, các cơ sở vật chất của đình chùa, đến, miếu đã bị phá bỏ đi hoàn toàn. Thông tin phỏng vấn sâu một nam giới cao niên đã tham gia làm cán bộ trong làng nhiều năm cho biết: vào năm 1995, địa phương xây dựng nhà văn hóa, và cũng năm đó chính quyền và người dân bắt đầu khôi phục lại lễ hội truyền thống của làng. Ngày lễ hội truyền thống của làng hiện nay được tổ chức vào dịp đầu năm (trong hai ngày 19 và 20 tháng 3 âm lịch). Mặc dù lễ hội làng được khôi phục trước đó một thập kỷ, nhưng phải đến năm 2006 - 2007, bằng nguồn kinh phí địa phương và đóng góp của người dân trong làng, Liên Đàm mới có điều kiện khôi phục lại ngôi chùa. Ngôi chùa được dựng lại thì một không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng cũng được tái tổ chức trở lại. Hiện nay, trong chùa có một thầy chủ trì, trông coi, làng cũng thành lập ra ban chấp hành chùa gồm 5 ông bà trong ban chấp hành hội người cao tuổi; ban khánh tiết gồm có 8 phụ nữ trong hội người cao tuổi có trách nhiệm tham gia quét dọn và tổ chức các nghi lễ ngày lễ tết, ngày rằm, mồng một. Nghiên cứu ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An cũng cho thấy ngôi chùa đã bị phá hủy và đến nay vẫn chưa được khôi phục, tuy nhiên, đình làng vẫn còn giữ nguyên hình dáng và hàng năm được sửa chữa, từ năm 2012 được sự hỗ trợ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, địa phương đã khôi phục lại lễ hội truyền thống Kỳ Phúc. Nghiên cứu cho thấy một điều đáng quan tâm là khi những cơ sở đình, chùa được sửa chữa khôi phục thì các sinh hoạt mang tính văn hóa cộng đồng cũng được tái hồi sinh tạo làm cho sự kết dính trong cộng đồng phát triển trở lại.

Mối liên kết cộng đồng trong sự kiện lễ hội làng Việt

Nhìn chung, kết quả khảo sát thực địa tại hai làng cho thấy tâm trạng người dân rất ủng hộ việc trùng tu di tích và khôi phục lễ hội truyền thống của làng. Mỗi dịp làng tổ chức các sự kiện liên quan đến các hoạt động này thì người dân rất quan tâm. Chẳng hạn, tổ chức lễ hội, người dân đã tham gia vào tất cả các hình thức tham gia như: đóng góp tiền, cung tiến hiện vật, đóng góp công sức lao động, tham gia tổ chức rước lễ, v.v… Khi xử lý số liệu khảo sát cho thấy người dân tại hai làng cho biết đều tham gia vào tất cả các hoạt động của lễ hội, trong đó nhiều người tham gia vào nhiều hoạt động của lễ hội. Hoạt động tham gia đóng góp tiền chiếm tỷ lệ cao nhất 78%, tham gia rước lễ 27%, tham gia đóng góp công sức 12,3%, ý kiến, cung tiến hiện vật 8,4% (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013). Như vậy, kết quả cho thấy người dân ở hai làng đều tham gia vào hoạt động của lễ hội. Tuy nhiên, lựa chọn tham gia vào các hoạt động trong lễ hội là khác nhau. Sự tham gia này của cá nhân bị quy định bởi những điều kiện, hoàn cảnh cũng như sở thích cá nhân. Điều quan trọng là những con số về sự tham gia lễ hội của người dân ở hai làng phần nào cho chúng ta thấy lễ hội vẫn là sự kiện gắn kết các cá nhân trong làng.

Kết quả khảo sát cũng cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa người dân hai làng trong việc tham gia vào các hoạt động lễ hội. Chẳng hạn, hình thức tham gia đóng góp tiền khi làng tổ chức lễ hội, trong khi có đến 95,4% người trong mẫu khảo sát ở Liên Đàm cho biết có đóng góp tiền khi làng tổ chức lễ hội, thì tỷ lệ này ở Quỳnh Đôi là 4,6%. Tương tự ở hình thức cung tiến hiện vật và đóng góp công sức khi làng tổ chức lễ hội, Liên Đàm đều có số lượng người tham gia đông hơn (Cung tiến hiện vật, có đến 90,5% người trong mẫu ở Liên Đàm tham gia cung tiến hiện vật, trong khi tỷ lệ này ở Quỳnh Đôi là 9,5%. Về hoạt động đóng góp công sức, trong khi có đến 66,3% người ở Liên Đàm cho biết đã tham gia đóng góp công sức khi làng tổ chức lễ hội, thì tỷ lệ này ở Quỳnh đôi là 33,7%). Tuy nhiên, ở hình thức chỉ tham gia rước lễ và hình thức chỉ đi dự lễ hội thì Quỳnh Đôi lại có tỷ lệ cao hơn. Chẳng hạn, ở hình thức chỉ tham gia rước lễ, trong khi có đến 72,8% những người trong mẫu khảo sát ở Quỳnh Đôi cho biết chỉ tham gia rước lễ khi làng tổ chức lễ hội, thì tỷ lệ này ở Liên Đàm là 27,2% (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013). Các số liệu vừa phân tích cho thấy cách ứng xử của người dân hai làng là rất khác nhau. Người dân ở Liên Đàm có xu hướng đóng góp những giá trị vật chất, kinh tế mỗi khi làng mở hội, trong khi người dân Quỳnh Đôi lại hướng đến lễ hội với việc đóng góp những giá trị công sức.

Khảo sát cũng cho thấy một biểu hiện mới trong lễ hội hiện nay là dấu hiệu của tính thương mại hóa trong lễ hội, người dân phải tham gia đóng góp về tài chính, kinh tế cho tổ chức lễ hội, điều này được thể hiện khá rõ trong việc tổ chức lễ hội hàng năm ở Liên Đàm. Kết quả phỏng vấn sâu hồi cố cho thấy, xưa kia, việc tham gia lễ hội của làng là một sự kiện quan trọng hàng năm của mỗi người. Vào những ngày lễ hội, không chỉ những người có chức trách đứng ra tổ chức mà tất cả các thành viên của làng không phân biệt già, trẻ, gái trai, giàu nghèo, không chỉ những người đang sống trong làng mà cả những người đi làm ăn xa - tất cả đều mong muốn được tham dự. Tuy nhiên, hiện nay, bên cạnh sự náo nức muốn tham dự lễ hội làng, thì ở nhiều nơi, người ta nâng khoản đóng góp cho lễ hội làng khá nặng, làm cho không ít người phải lo ngại. Để hiểu được tình cảm thực sự của người dân trong tham gia lễ hội làng ở Liên Đàm và Quỳnh Đôi, chúng tôi đã phỏng vấn sâu ý kiến người dân: "Hiện nay, nếu tổ chức lễ hội phải có tiền, mỗi khi địa phương tổ chức lễ hội phải huy động nhân dân tham gia đóng góp. Năm ngoái ở làng này tổ chức lễ hội mỗi khẩu phải đóng 100.000đ, gia đình tôi có 4 người phải đóng 400.000đ, cộng với ủng hộ 100.000đ, tổng cộng gia đình đã đóng cho địa phương 500.000đ. Mức đóng góp này cũng có gia đình sẵn sàng tham gia đóng góp cho tổ chức lễ hội, cũng có gia đình nghèo thì việc đóng góp này rất khó khăn và họ không muốn tổ chức lễ hội. Nhưng không có tiền thì không làm được lễ hội vì muốn chương trình văn nghệ hay phải thuê đoàn văn công về biểu diễn, các trò chơi của lễ hội như bóng chuyền, cầu lông, chọi gà, thả chim cũng phải có kinh phí mời người ta ở các nơi về thi đấu mới hay"  (Nam, 37 tuổi, mức sống trung bình, Liên Đàm, Yên Thường, Gia Lâm, Hà Nội).

"Năm ngoái địa phương có làm lễ hội, cũng mời đoàn múa rối nước Trung ương về biểu diễn, chương trình ca nhạc và nhiều trò chơi khác, nhưng gia đình tôi không phải tham gia đóng góp chỉ đi xem, địa phương có nhà tài trợ" (Nữ, 41 tuổi, mức sống trung bình, Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An).  

Để khai thác sâu hơn hành vi của người dân ở hai làng khi tham gia lễ hội truyền thống của làng hàng năm, chúng tôi đã tìm hiểu đánh giá của người dân về hội làng có ý nghĩa nào đối với mỗi người dân?  Kết quả cho thấy phần lớn (73,2%) người trong mẫu phỏng vấn cho rằng lễ hội làng là dịp người dân bày tỏ lòng biết ơn, 69,7% ý kiến cho rằng dịp khẳng định danh tiếng của làng, 64,5% ý kiến cho rằng dịp vui chơi giải trí, 8,4% ý kiến cho rằng dịp cầu tài, cầu lộc (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013).

Kết quả khảo sát cũng cho thấy có khác biệt giữa hai làng ở tất cả các hình thức trả lời. Chẳng hạn, ở phương án trả lời "lễ hội có ý nghĩa để thành viên trong làng gắn bó nhau", có đến hơn một nửa (58,3%) những người trong mẫu phỏng vấn ở Quỳnh Đôi trả lời có ý nghĩa thành viên trong làng gắn bó nhau, trong khi tỷ lệ này ở Liên Đàm chưa được một nửa (41,7%). Tương tự, ở phương án "lễ hội là dịp khẳng định danh tiếng và truyền thống của làng", có đến hai phần ba (70,2%) những người trong mẫu phỏng vấn ở Quỳnh Đôi cho rằng lễ hội là dịp khẳng định danh tiếng và truyền thống của làng, trong khi tỷ lệ này ở Liên Đàm là 29,8% (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013).

 Thay lời kết

Công cuộc Đổi mới ở nước ta, các phong tục cổ truyền, trong đó có  hình thức sinh hoạt lễ hội thể hiện giá trị cốt lõi của văn hóa cộng đồng nơi làng xã đang có sự phục hưng rất mạnh mẽ. Nếu như ở thời bao cấp (từ năm 1986 trở về trước) hình thức sinh hoạt văn hóa lễ hội cổ truyền phần nào đã bị chìm lấp đi đằng sau các hoạt động của hợp tác xã và các đoàn thể xã hội như hội phụ nữ, đoàn thanh niên, thì ngày nay, cùng với việc khôi phục lại chức trưởng thôn cũng như xác nhận quyền tự chủ trong sản xuất và kinh doanh của các hộ gia đình nông dân, hình thức sinh hoạt văn hóa lễ hội trong cộng đồng làng xã cũng được trả lại theo dòng chảy tự nhiên và bình thường của chúng.

Nhưng vấn đề đặt ra không chỉ là sự cởi mở trong chính sách Đổi mới của nhà nước, sự phục hưng mạnh mẽ của hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng ở làng Việt hiện nay, theo chúng tôi, cũng còn có cơ sở khách quan của nó là nền kinh tế tiểu nông. Phải nói rằng từ khi hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo kiểu cũ bị giải thể, ruộng đất được giao khoán lâu dài cho các hộ gia đình nông dân, thì về thực chất, ở nông thôn Việt Nam, trong đó có hai làng Liên Đàm và Quỳnh Đôi, đã tái lập trở lại nền kinh tế tiểu nông tư hữu. Mà kinh tế tiểu nông tư hữu, như đã nói, chính là một trong những cơ sở/nguồn gốc hình thành nên tính cộng đồng làng xã.

Tuy nhiên, trong bối cảnh của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay, sinh hoạt văn hóa lễ hội cộng đồng ở làng Việt thuộc Bắc bộ và Bắc Trung bộ cũng có những đổi thay nhất định. Điều này được thể hiện ở một số điểm như sau:

Sinh hoạt văn hóa cộng đồng qua lễ hội hiện nay đều được thực hiện rất ngắn gọn (chỉ diễn ra trong một ngày), sau đó mọi công việc sản xuất và sinh hoạt lại được tiếp tục bình thường, không vì các lễ thức này mà làm đình đốn các công việc khác.

Sự biến đổi của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, như đã nêu, đã diễn ra theo hai xu hướng: một mặt không ngại tiếp thu các yếu tố mới mà toàn cầu hóa mang lại (như trang phục, đồ ăn thức uống, cách thức và các phương tiện giao tiếp…), song cũng sẵn sàng tước bỏ đi những nghi tiết rườm rà, rối rắm.

Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, trong việc phục hưng hình thức sinh hoạt văn hóa cổ truyền cũng đang làm nảy sinh một số hủ tục mới, mà nổi bật hơn cả là xu hướng thương mại hóa. Trong các lễ hội làng thì ngoài việc đóng góp không nhỏ của cư dân, cũng có hiện tượng thu tiền quá mức đối với khách thập phương từ xa tới khi họ muốn thăm viếng danh lam hoặc tham gia vào một thứ trò chơi nào đó. Tất cả những điều đó làm cho không ít người có cảm giác dường như việc sinh hoạt văn hóa cộng đồng mất dần đi các sắc thái khởi nguyên vốn có của nó.

Đến đây, vấn đề được đặt ra từ đầu vẫn rất cần được nhắc lại: đó là cần đánh giá như thế nào về sự phục hưng và biến đổi của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng trong bối cảnh của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay ở nước ta? Chúng tôi cho rằng, các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng chính là một sản phẩm thuộc thượng tầng kiến trúc của đời sống kinh tế - xã hội nơi làng Việt, vì vậy khi hạ tầng cơ sở của nó đã thay đổi (ở đây là tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế thị trường) thì tất yếu các hình thức sinh hoạt văn hóa cổ truyền này cũng phải biến đổi theo. Trong quá trình biến đổi đó, việc tiếp thu thêm các yếu tố và giá trị mới, đồng thời gạt bỏ đi những gì đã lạc hậu, lỗi thời cũng là lẽ đương nhiên. Còn những hiện tượng mới nảy sinh như xu hướng thương mại hóa trong lễ hội, thì theo thiển nghĩ của chúng tôi, đó chỉ là những hiện tượng không tránh khỏi của một xã hội đang chuyển đổi.

Và, sau cùng, sự biến đổi của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng có ảnh hưởng ra sao đến bản sắc làng Việt? Chức năng quan trọng của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng chính là nhằm củng cố, thắt chặt và tái chuẩn nhận tính cộng đồng nơi làng xã. Thế mà, trong bối cảnh của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay, hoạt động lễ hội ở nông thôn đã cho thấy: các quan hệ cộng đồng không những không mất đi, mà còn được mở rộng từ gia đình, họ hàng đến làng xã và thậm chí cả ở bên ngoài làng xã nữa. Như vậy, rõ ràng là bản sắc làng Việt không mất đi, nó chỉ đang vận động, biến đổi cho phù hợp với bối cảnh chung của đời sống kinh tế - xã hội cũng đang chuyển đổi sang một giai đoạn mới.

 

Tài liệu trích dẫn

1. Đào Duy Anh (1938), Việt Nam văn hóa sử cương, Quan hải tùng thư xuất bản, Huế.

2. Toan Ánh (2005), Nếp cũ con người Việt Nam, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.

3. Nguyễn Thị Phương Châm (2010), Khi làng vươn ra phố: những xu hướng biến đổi văn hóa. Trong sách Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: những cách tiếp cận nhân học, Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.

4. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hóa học, Viện Văn hóa và Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

5. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb. Văn hóa - Thông tin và Tạp chí Văn hóa - Nghệ thuật, Hà Nội.

6. Lương Văn Hy (1994), Cải cách kinh tế và tăng cường lễ nghi tại hai làng miền Bắc Việt Nam. Trong sách Những thách thức trên con đường cải cách ở Đông Dương, do Borje Ljunggren chủ biên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

7. Nguyễn Văn Huyên (2005), Văn minh Việt Nam, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

8. Phạm Côn Sơn (1999), Gia lễ xưa và nay, Nxb Thanh niên, Hà Nội.

9. Lê Trung Vũ và cộng sự (2007), Nghi lễ vòng đời người, Nxb Hà Nội, Hà Nội.

10. Trần Quốc Vượng (2000), Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn hóa dân tộc và Tạp chí Văn hóa - nghệ thuật, Hà Nội.

11. Mai Văn Hai, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Đức Chiện, 2013,  Bản sắc làng Việt trong tiến trình toàn cầu hóa, Nxb Khoa học Xã hội

12. Trần Nhật Hoàng (Nguyễn Đức Chiện giáo viên hướng dẫn). 2017, Sự tham gia của các tổ chức xã hội trong hoạt động tổ chức lễ hội ở làng xã hiện nay, Luận văn ngành Xã hội học, Khoa Lý luận Chính trị, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

 

Minh Tuệ

Đọc nhiều nghiên cứu về làng xã và thỉnh thoảng hay bị ám ảnh bởi cấu trúc cảnh quan cây đa - bến nước - mái đình cũng như những yếu tố được các nhà nghiên cứu đề cập đến đàng sau những cấu trúc đó. Nó làm cho người ta cứ hay nhìn xung quanh mình để tìm về những yếu tố cảnh quan đã được định hình trong nhận thức khi tìm về một làng xã truyền thống nào đó. Bản thân từ "truyền thống", vốn cũng mù mờ và vô cùng trừu tượng, chẳng có gì rõ ràng cả. Nhất là khi đặt "truyền thống" trong một diễn tiến thời gian thì thật khó để thấy cái gì là truyền thống, bởi cuộc sống luôn luôn thay đổi, con người luôn thích ứng không chỉ để sinh sống mà còn để phát triển, để sống tốt hơn. Ấy vậy mà đến nay, truyền thống vẫn như một con "ngáo ộp" (theo cách nói của TS Nguyễn Công Thảo) ám ảnh đến nhiều người. Thật lạ hơn là có những người dù không thấy, không hiểu vẫn cố gắng đi tìm những cấu trúc truyền thống của một làng quê nào đó để chứng minh làng đó là "truyền thống". Nhắc đến làng, không có cây đa, bến nước, mái đình, hoặc chỉ có một vài yếu tố thì có làm cho cái làng đó mất đi "truyền thống" không? Và xét cho cùng, "truyền thống" là cho tất cả mọi người hay cho một số người, một cộng đồng trong một giai đoạn nhất định? Nghe vậy nhưng không dễ để trả lời cho những câu hỏi này. Bởi cảnh quan của làng xã luôn gắn với tính cụ thể và cả tính vùng miền nữa. Làng xã Việt Nam đa dạng vô cùng và cấu trúc làng xã truyền thống được nói nhiều kia là đề cập đến làng xã ở vùng đồng bằng Bắc bộ trước đây. Nếu cứ mang cấu trúc đó xem xét ra các vùng miền khác, có thể sẽ đưa nhà nghiên cứu đi theo hướng khác. Vậy nên, khi nói đến làng thì cần xem xét cụ thể và trong bối cảnh, đối tượng của thể. Để thảo luận thêm về vấn đề này, bài viết này đề cập đến cảnh quan của một làng cụ thể ở Nghệ An và sự thay đổi cảnh quan đó qua tâm thức của những người già, vốn là chủ thể của làng đó trong hơn một nửa thế kỷ qua.

Làng tôi hiện tại

Làng ở Nghệ An khá đa dạng. Theo điều kiện tự nhiên thì có làng vùng ven biển, làng vùng đồng bằng, làng vùng trung du và làng ở miền núi. Theo nghề nghiệp cũng có làng nghề thủ công là chính, làng nghề nông nghiệp là chính, làng nghề thương nghiệp là chính. Sự phân chia như vậy đương nhiên là tương đối, vì xét cho cùng thì không có một làng nào chỉ sinh sống bằng một nghề, mà chủ yếu là làng hỗn hợp với nhiều nghề khác nhau, trong đó có những nghề quan trọng. Mỗi vùng miền như vậy lại có những mô hình làng xóm khác nhau. Vậy nên, nói để tìm kiếm một làng tiêu biểu, điển hình cho truyền thống xứ Nghệ làm đối tượng nghiên cứu là rất khó, nếu không muốn nói là không thể. Với lại, làng nào cũng có truyền thống, chỉ là cách hiểu truyền thống như thế nào mà thôi. Trong bối cảnh đa dạng về mô hình, cơ cấu làng thì khó để lựa chọn cái gọi là điển hình. Vậy nên, để tìm hiểu về biến đổi cảnh quan làng trong mấy thập kỷ qua, chúng tôi lựa chọn một làng quê ngẫu nhiên ở nông thôn làm đối tượng khảo sát. Dù có thể hơi chủ quan, nhưng lựa chọn vùng quê mình sinh ra để tiến hành khảo sát vẫn được nhiều nhà nghiên cứu từng tiếp cận. Bởi ở đó có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc khảo cứu. Bên cạnh có được quá trình trải nghiệm, hiểu biết trong một thời gian nhất định khi sinh sống ở quê nhà thì còn nhiều mối quan hệ và mạng lưới xã hội sẵn có để giúp cho nhà nghiên cứu có điều kiện tiếp cận dễ dàng hơn. Vì nếu đến một địa bàn mới, người ta phải bắt đầu xây dựng mạng lưới xã hội và tìm hiểu tổng quan từ đầu trước khi đi sâu vào vấn đề chính mà mình quan tâm.

Quê tôi ở một xã thuộc vùng trung du của huyện Thanh Chương, thuộc khu vực phía Đông, gần giáp giới với huyện Nam Đàn. Nếu khu vực thượng lưu và phía Tây, Tây Nam huyện Thanh Chương là vùng núi thì vùng quê tôi lại tương đối bằng phẳng hơn. Phía Nam vùng này là dòng sông Lam, mà người quê tôi hay gọi là "rào Cấy" hay sông Cả, nghĩa là con sông lớn. Phía Bắc có một con sông nhỏ, là một nhánh của sông Lam, được gọi là Rào Gang. Một số tên gọi như Cầu Gang (hay Cầu Rào Gang), gạch ngói Rào Gang,… là vì nó gắn với con sông nhỏ này. Trong xã có một số ngọn núi nhỏ mà người địa phương gọi là rú. Lớn nhất là rú Ó, rồi rú Đờng, rú Giếng…. Đây là những ngọn núi trọc, gần như không có cây xanh. Bao quanh xã là hệ thống đất ruộng và đất bãi, đất đồng để người dân canh tác nông nghiệp. Đất bãi trồng hoa màu chủ yếu như lạc, ngô, đậu ở khu vực ngoài đê, dọc sông Lam. Một phần đất trong đê gọi là đất đồng trồng hoa màu nhưng diện tích ít hơn so với đất bãi. Tuy nhiên, đất đồng trồng trọt ổn định hơn do ít bị ảnh hưởng của mưa lũ từ nước sông dâng lên vì được hệ thống đê bảo vệ. Xóm nào cũng có cả ba loại đất này để chia cho người dân canh tác. Trước 1945, vùng này thuộc tổng Xuân Lâm. Về cơ bản, toàn bộ xã hiện nay thuộc vào hai làng khác nhau là làng Xuân Bảng và làng Phúc Yên. Sau này được chia tách ra thành xã với 10 xóm, gần đây lại tiếp tục sáp nhập các xóm và có thể sắp tới lại nhập xã. Nhưng sự thay đổi của các đơn vị hành chính hiện nay không làm ảnh hưởng quá nhiều đến cảnh quan của làng xóm. Nhưng trước đây thì đó lại là nhân tố tác động mạnh. Các sinh hoạt văn hoá cộng đồng trong xã hiện nay chủ yếu tổ chức ở sân vận động và hội trường ủy ban xã. Về văn hoá tâm linh thì hiện nay trong xã có đền Hữu là di tích lịch sử cấp quốc gia, được cộng đồng dân cư ở đây xây dựng, tu bổ và hương khói từ hàng thế kỷ nay. Không chỉ trong xã mà người dân ở các xã lân cận hàng tháng cũng đến thắp hương dâng lễ tại đền. Lễ hội của xã hiện nay cũng gắn với việc rước kiệu từ đền và tổ chức các sinh hoạt khác tại trung tâm xã. Các dòng họ trong xã đều có nhà thờ tổ tiên và hầu hết các lễ lớn liên quan đến dòng họ đều được tổ chức tại đây. Trong xã còn có một xóm có nhiều đồng bào Công giáo sinh sống và có một nhà thờ Đức Chúa đồ sộ được người dân xây dựng để thực hành đời sống tôn giáo.

Làng tôi hiện tại, nói đúng hơn là xóm tôi, cũng như nhiều xóm khác, được bao quanh bởi các con đường bê tông sạch sẽ chạy xuyên vào các ngõ ngách trong làng. Có một con đường nhựa lớn, là đường liên huyện, bắt nguồn từ đường quốc lộ chạy xuyên từ đầu đến cuối làng rồi ra đến uỷ ban và nối với các đường khác để đi qua các xã khác. Là một làng xóm thuộc khu vực trung du nên cũng có nhiều nét riêng biệt. Quanh làng có một số ngọn núi nhỏ, là khu vực đất mộ táng, nơi tập trung hầu hết nghĩa địa của các dòng họ trong cả xã. Dọc các đường lớn có nhiều ki ốt hàng quán bán tạp hoá và các loại hàng hoá thiết yếu cho đời sống người dân trong vùng. Các con đường ra giữa các cánh đồng, các thửa ruộng cũng được mở rộng và chắc chắn hơn. Hiện tại xóm nào cũng đã có nhà văn hoá và sân bóng chuyền bóng đá, là kết quả của quá trình xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hoá mới. Nhưng nhà văn hoá thỉnh thoảng mới mở cửa khi có công việc họp hành của xóm, bình thường thì ít khi có người lui tới. Còn sân bóng nhưng chủ yếu là dành cho lớp trẻ chơi thể thao như bóng chuyền, bóng đá, cầu lông. Gần đây, có khá nhiều người phụ nữ, cả trẻ lẫn luống tuổi có tham gia chơi bóng chuyền hơi ở sân nhà văn hoá và sân bóng. Hầu hết trong làng xã không còn nhà tranh vách đất nữa, chủ yếu là nhà xây kiên cố, số lượng nhà tầng ngày càng tăng lên. Hầu hết các hộ gia đình hiện nay đều xây tường bê tông bao quanh nhà mình và dựng cửa cổng kiên cố. Nhà nào cũng lắp mái tôn để chống nắng ở sân nhà. Cổng vào và phần lớn diện tích trong khuôn viên nhà cửa đều lát gạch hoặc đổ bê tông. Đường lớn rải nhựa, đường làng, ngõ xóm đổ bê tông, sân nhà thì dựng mái tôn để che trong khi cây cối từ ngoài đường đến trong vườn đều ít dần. Nếu có thể nhìn từ trên cao xuống thì các làng xóm giờ nhìn như một lò giữ nhiệt khổng lồ vậy.

Nhìn chung, cảnh quan làng xã tôi hiện nay, cũng không khác gì các làng xã xung quanh thuộc khu vực trung du tỉnh Nghệ An này, đều có dáng dấp của làng xóm hiện đại với điện, đường, trường, trạm kiên cố. Đường lớn rải nhựa, đường bé đổ bê tông. Các sinh hoạt văn hoá tập thể tuỳ theo cấp độ xóm xã mà tổ chức ở nhà văn hoá, sân bóng của xóm, xã. Không chỉ cảnh quan làng xóm mà điều kiện vật chất, tinh thần của người dân cũng hiện đại hơn nhiều. Trong làng ngày càng nhiều người có xe ô tô. Nhà nào cũng có một hai, thậm chí là ba bốn chiếc xe máy từ loại ít tiền đến loại cả trăm triệu đồng. Rồi điều hoà, máy giặt, tivi, tủ lạnh,… hàng loạt các trang thiết bị sinh hoạt hiện đại ngày càng phổ biến. Hầu hết người dân đều sử dụng điện thoại di động với nhiều thể loại khác nhau. Có lẽ, trong quá trình xây dựng nông thôn mới, đây như là một mô hình phổ biến với các thiết chế văn hoá, từ cơ sở vật chất đến sinh hoạt tinh thần đều được đồng nhất, quy định theo các tiêu chí do nhà nước ban hành. Nó khiến cho các làng xóm, nhìn na ná giống nhau nhưng lại không giống nhau bởi trong đó là những con người khác nhau.

Còn làng tôi ngày trước ra sao?

Để hiểu thêm về việc biến đổi cảnh quan làng thì không có cách nào khác ngoài việc chúng ta phải tiếp cận theo chiều lịch sử. Bởi biến đổi là một quá trình trải qua các thời đoạn khác nhau. Một làng quê cũng vậy, trải qua những giai đoạn khác nhau thì cảnh quan, con người và văn hóa cũng có những thay đổi khác nhau. Vậy nên câu hỏi chính được đặt ra để xem xét là làng tôi ngày trước như thế nào?

Khi tiến hành tìm hiểu về vấn đề này, chúng tôi chia thành các câu hỏi khác nhau để tiếp cận theo các giai đoạn: Làng tôi trước Cách mạng tháng Tám 1945 như thế nào? Làng trong thời bao cấp ra làm sao? Và làng tôi từ đổi mới 1986 đến nay như thế nào? Đối tượng chúng tôi tiếp cận chủ yếu là những người lớn tuổi, những người già đang sinh sống trong làng hiện nay. Kết hợp với những gì chúng tôi quan sát, trải nghiệm trong những năm qua và so sánh với những mô tả, những ký ức của những người già kể lại để thấy được sự biến đổi cảnh quan làng như thế nào? Câu chuyện không phải chỉ tập trung vào biến đổi cảnh quan, mà muốn đi sâu vào phân tích các chiều tâm tư, suy nghĩ của những người lớn tuổi về quá trình biến đổi đó. Do tiếp cận nhân học, chủ yếu qua phỏng vấn những người lớn tuổi chứ không phải dựa vào phân tích tư liệu thành văn nên những thông tin về lịch sử làng chủ yếu được tái hiện qua ký ức, nghĩa là khó đạt được độ chính xác cao. Nhưng ngược lại, cái nhìn từ tâm lý, nhận thức của người dân về chính vùng đất nơi mình sinh sống lại cho người đọc những cảm nhận mới mẻ hơn.

Trong một điều kiện có nhiều hạn chế về các nguồn lực để thực hiện khảo sát nên chúng tôi chỉ tiến hành phỏng vấn một số lượng những người già vừa phải và một vài cuộc thảo luận nhóm. Có 21 người già tham gia chia sẻ thông tin về làng. Trong đó, người lớn tuổi nhất sinh năm 1928 và người trẻ nhất sinh năm 1950. Có hai cuộc thảo luận nhóm, cuộc đầu tiên có 6 người tham gia và cuộc thứ hai có 5 người. Qua những thông tin thu thập được từ quá trình nghiên cứu định tính này, chúng tôi phần nào hiểu được một chút sự biến đổi về cảnh quan làng xã qua tâm thức người cao tuổi

Cảnh quan làng trước 1945

Có 8 người sinh ra trong giai đoạn những năm 1920 và 1930 chia sẻ thông tin về làng mình trước cách mạng. Nhưng như họ nói, lúc đó còn nhỏ nên có nhiều cái không nhớ rõ. Mặt khác, họ cũng cho rằng làng quê mình trước cách mạng và sau cách mạng có biến đổi nhưng không nhiều. Phải đến những năm 1960 mới bắt đầu thay đổi nhanh chóng và càng ngày sự thay đổi đó càng lớn hơn.

"Trước Cách mạng tháng Tám (1945), khu vực làng hiện nay dân cư còn thưa thớt, đường sá đi lại khó khăn. Dân chủ yếu tập trung phía gần Bàu Ó và một phần phía dưới giờ là trung tâm xã Thanh Khai. Ngoài đền Hữu có từ lâu đời thì còn có đình Phúc Yên và đình Xuân Bảng, là nơi tập trung các sinh hoạt lớn của cả làng. Đình Xuân Bảng gồm đình thượng và đình hạ. Cột đình to một người ôm không xuể, có kiến trúc chạm trổ độc đáo. Đình làng Phúc Yên cũng tương tự, nhưng bé hơn. Nếu đình thượng quanh năm đóng cửa chỉ mở vào dịp lễ cúng Thành hoàng thì đình hạ lại mở cửa thường xuyên để bàn việc làng. Sân đình cũng là nơi người dân tập trung vui chơi, thực hành các sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Xung quanh làng ngày trước là các hồ nước, vùng nước sâu, khó san lấp để cấy lúa được. Người dân cứ lấn dần để cấy lúa. Hệ thống mương máng chưa đầy đủ nên diện tích ruộng rất ít, chủ yếu là đất trồng ngô, trồng khoai thôi. Đê điều còn nhỏ, kém nên năm nào cũng bị lũ lụt. Quanh xã còn có nhiều bãi cây, lùm cây um tùm. Nhiều vùng hiện nay tập trung đông dân cư nhưng là sau này mới được thành lập, còn trước đó thì chỉ là vùng ven núi hoặc đất bỏ hoang, hoặc canh tác một vụ hoặc có khi hai ba năm mới làm được do thiếu nước. Khi có việc lớn thì thường tập trung đến đình làng để xử lý. Trong làng có một số giếng làng, là nơi lấy nước chung của cả làng, được đào lớn và lát đá đẹp, bảo vệ sạch sẽ. Xung quanh Bàu Ó có một số bến do người dân làm nên để giặt giũ. Đền Hữu được quản lý nghiêm ngặt, chỉ những người có chức trách mới được ra vào trong chính điện, còn người dân chủ yếu đến dâng hương. Thường chỉ đàn ông mới được vào đền, phụ nữ không được phép vào trong. Khi có việc đến tìm chồng hay tìm người thì cũng chỉ được đứng ngoài nhờ người vào báo".

Đây là một đoạn ký ức của một người đàn ông năm nay đã ngoài 90 tuổi, và đã được nhiều người khác thảo luận thêm khi nói về vấn đề này. Qua những thông tin này cũng cho chúng ta thấy được cảnh quan làng trước Cách mạng tháng Tám 1945 một cách tổng quan. Đó là cảnh quan làng khá cổ điển, có đền thờ Đức Thánh, có đình thờ Thành Hoàng làng, sân đình là nơi người dân tập trung sinh hoạt cộng đồng cũng như bàn việc làng xã. Cảnh quan xung quanh làng còn hoang sơ, đường sá đi lại còn chật hẹp và khó khăn. Dân cư thưa thớt hơn, tập trung chủ yếu quanh khu vực trung tâm làng. Diện tích ruộng sản xuất hẹp nhưng mặt nước lại lớn do có nhiều ao hồ, vùng nước sâu. Có những giếng làng và các bến nước quanh bàu để sinh hoạt.

Cảnh quan làng thời bao cấp

Sau khi Cách mạng thành công, tổng Xuân Lâm bắt đầu chia thành các xã. Một phần làng Xuân Bảng và một phần làng Phúc Yên được nhập lại thành xã. Qua nhiều lần thay đổi, tách rồi nhập và đến hiện nay là xã Thanh Yên. Tính ra, từ sau 1945 cho đến khi Đổi mới 1986, cảnh quan làng có nhiều biến đổi. Sau 1954, miền Bắc bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, các hợp tác xã cũng bắt đầu được hình thành, đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân bắt đầu thay đổi. Sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh. Khai khẩn các vùng đất quanh xã để sản xuất được quan tâm. Hệ thống thủy lợi cũng được xây dựng và cải tạo. Đê điều được tu bổ hàng năm. Do vậy, diện tích sản xuất được mở rộng hơn. Nhưng khi vào cải cách văn hóa, chính quyền bắt đầu dỡ bỏ các thiết chế cũ. Đình làng một phần bị hư hại do chiến tranh, sau này lại bị hạ xuống để lấy gỗ làm các công trình khác. Đình dần biến mất khi không còn là nơi tập trung sinh hoạt văn hóa của người dân cũng như bàn việc tập thể. Đền Hữu dù không được quan tâm nhiều nhưng vẫn được giữ lại để làm nơi sinh hoạt tâm linh. Phần đất quanh đền được đưa vào để canh tác hoa màu. Các giếng nước của làng và các bến nước quanh Bàu Ó vẫn được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày. Bên cạnh đó, nhiều cảnh quan mới được xây dựng. Khi đó cả xã chia thành nhiều đội. Hai đến ba đội thì xây dựng một nhà kho. Ngoài việc chứa lương thực thì sân kho cũng là một nơi để sinh hoạt cộng đồng như chiếu bóng, tổ chức biểu diễn văn nghệ quần chúng, chia lương thực sau khi thu hoạch…. Cửa hàng mậu dịch với việc xếp hàng dài chờ mua lương thực phẩm. Sân vận động để diễn tập, thao tập các lực lượng dân quân, tự vệ còn là nơi tổ chức thể thao, chiếu phim, biểu diễn văn công và nhiều sinh hoạt khác. Các ao hồ xung quanh cũng được san lấp dần làm ruộng nước hoặc ao thả cá. Việc sản xuất lương thực không có năng suất cao do đất đai không được tốt. Nhưng bù lại do có nhiều ao hồ, đầm vũng nên có nhiều thủy sản. Người dân vùng này nổi tiếng về nghề đan lưới và đánh cá. Bắt cua bắt ốc, đánh cá trở thành một phần quan trọng trong sinh kế người dân khi mà sản xuất hợp tác xã và chăn nuôi còn hạn chế.

Sau này, khi nhìn nhận lại nhiều vấn đề của thời kỳ bao cấp khiến cho nhiều người nghĩ rằng nó lạc hậu, kém phát triển. Nhưng trong ký ức của nhiều người lớn tuổi đã kinh qua các giai đoạn từ làm cách mạng, tham gia kháng chiến, sống qua thời bao cấp cho đến nay thì họ vẫn có nhiều điều rất tự hào. Lối làm ăn tập thể, sản xuất theo hợp tác xã có thể sau này có vô vàn hạn chế, nhưng trong thời đoạn chiến tranh, nó đã tập trung được hầu hết nguồn lực của nông dân vào kháng chiến, kiến quốc. Vậy nên, với nhiều người, nhiều không gian văn hóa thời đó có nhiều giá trị không thể chối bỏ được.

"Có nhiều đêm, chúng tôi đốt đèn ra sân nhà kho để tổ chức biểu diễn văn nghệ. Mọi thứ đều thô sơ, từ trang bị cho đến con người. Ấy vậy mà ai cũng hăm hở tham gia. Sân kho lúc đó gắn với hầu hết mọi hoạt động. Có nhiều đám cưới được tổ chức ngay tại sân nhà kho. Rồi khi lễ tết, có con lợn để làm thịt cũng mang ra nhà kho. Lúc đó, con người ta đối xử với nhau tình cảm lắm. Đời sống vật chất khó khăn nhưng tinh thần thì không thiếu. Sẵn sàng chia nhau những thứ mình có. Có thể nói cả một thời trai trẻ chúng tôi gắn với sân kho" (Đàn ông, 81 tuổi).

"Trong cái đói nghèo chung, chúng tôi vẫn xếp hàng ở cửa hàng mậu dịch quốc doanh để chờ mua thực phẩm. Từ sáng sớm đã ra xếp hàng, có lúc quá trưa còn chưa đến lượt. Ấy vậy nhưng người ta không tranh cướp, ít khi có xô xát hay tranh chấp lẫn nhau vì mọi người đều chờ nhau xếp hàng và theo lượt chứ không có phân biệt. Sau này thì thấy khổ quá. Nhưng khi đó con người ta chấp nhận. Và giờ thấy cũng thú vị. Nó là một phần trong cuộc đời chúng tôi" (Phụ nữ, 78 tuổi).

Chúng ta sau này vẫn phê phán nhiều về hệ quả của công cuộc cải cách văn hóa, trong đó có việc phá bỏ đi nhiều di sản văn hóa, nhất là với các đình, chùa, đền, miếu,…. Nhưng với nhiều người thì việc làm đó cũng có giá trị riêng. Việc phá bỏ đình lấy gỗ xây dựng trường học, hợp tác xã để sản xuất lúc đó lại được nhiều người ủng hộ.

"Các đình làng lần lượt bị mất đi là một điều đáng tiếc. Không phải bây giờ chúng tôi mới thấy tiếc mà lúc đó đã buồn rồi. Nhưng trước đó, chiến tranh rồi lũ lụt đã hủy hoại đi nhiều. Trong bối cảnh còn nghèo đói, lại đang chiến tranh nên không có điều kiện để tu bổ. Khi có chính sách dỡ bỏ thì người ta làm thôi. Dù thấy tiếc nhưng vì điều kiện lúc đó cần gấp nên phải chấp nhận. Nó đổi lại có nhiều con em có trường để học, có trạm xá để chữa bệnh" (Đàn ông, 84 tuổi).

Như vậy, cảnh quan làng trong thời bao cấp đã có những biến đổi cả về tự nhiên lẫn xã hội và văn hóa. Đình làng hư hại và bị dỡ bỏ. Đền Hữu cũng hoang sơ hơn, hư hại đi nhiều và không được tu bổ thêm nhưng cũng may mắn không bị phá hủy. Một số cảnh quan giếng làng, bến nước vẫn còn. Bên cạnh đó, một số không gian, cảnh quan mới được xây dựng như nhà kho, sân vận động, hợp tác xã, cửa hàng mậu dịch,… Một điều đáng chú ý khác là lúc đó, để có diện tích đất sản xuất chính quyền có chính sách yêu cầu người dân di dời toàn bộ mộ táng từ dưới đồng ruộng lên trên rú. Và từ đó về sau không còn chôn cất ở dưới đồng nữa, tập trung lên các rú trong làng.

Cảnh quan làng sau Đổi mới

Từ sau khi thực hiện đường lối Đổi mới đất nước, bộ mặt của hầu hết các làng xã ở Việt Nam đều có những thay đổi mạnh mẽ. Làng tôi cũng không ngoại lệ. Nếu những năm 1990 là giai đoạn chuyển đổi, các cảnh quan cũ vẫn còn ít nhiều. Thì từ đầu thế kỷ XXI đến nay là cả một công cuộc thay đổi nhanh chóng đến mức khó nhận ra. Kết quả của quá trình thay đổi đó là cái làng tôi hiện tại đã được trình bày ở phía trên. Nếu nhìn vào cái làng trong ký ức của người già đã trình bày qua hai giai đoạn trên với cái làng hiện tại thì có một quá trình biến đổi mạnh mẽ: Những cảnh quan thời bao cấp gần như không còn dấu vết. Hệ thống nhà kho, cửa hàng mậu dịch bị biến mất. Sân vận động thì được hiện đại hóa và tách ra chủ yếu dành cho các hoạt động lớn. Những sinh hoạt như biểu diễn văn công, xem văn nghệ quần chúng cũng theo đó mà lụi tàn. Đình không còn dấu vết nhưng đền lại được tu bổ to đẹp hơn và hoạt động náo nhiệt hơn. Tuy nhiên, cảnh quan đền cũng có những thay đổi. Cả một dãy mấy chục cây cổ thụ đã bị chặt hết. Một phần đất trong đền cũng được đem bán hoặc cho người khác thuê. Toàn bộ hệ thống ao, hồ, đầm, vũng xung quanh đã được đắp lại thành ruộng nước hoặc thành đất thổ cư. Hầu hết các giếng làng bị mất dần, hiện nay chỉ còn một hai cái nhưng người dân ít sử dụng. Bàu Ó bị ô nhiễm nặng nên người dân không còn tắm giặt ở đó nữa, làm cho các bến nước cũng mất theo. Nhìn chung, làng hiện nay là kết quả của quá trình hiện đại hóa nông thôn. Và nó làm cho con người, đặc biệt những người trẻ tuổi không hình dung ra được kết cấu làng trước đó. Nên có thể gọi đây là "làng hiện đại" với kết cấu theo đơn vị xóm, có đường lớn, đường nhỏ, nhà văn hóa, sân bóng đá….

Người già với "làng truyền thống" và "làng hiện đại"

Qua những phân tích phía trên chúng ta thấy cũng một cái làng nhưng có nhiều sự thay đổi qua các giai đoạn khác nhau. Làng hiện nay không còn mái đình, không còn bến nước, không còn giếng làng, nhưng liệu có phải nó không có truyền thống? Nếu nhận định vậy thì hơi khắt khe với làng hiện nay bởi dù sao nó vẫn mang trên mình truyền thống của thời đại nó. Chỉ khác nhau là sự thay đổi trong tâm thức con người. Lấy người già như là một đối tượng để phân tích chúng ta sẽ thấy sự biến đổi của làng luôn gắn theo với tâm thức của những thế hệ khác nhau sinh sống trong làng đó.

Những thông tin từ cuộc khảo sát về làng đã cho thấy, với người già, họ nhìn về cái làng bằng hoài niệm, bằng ký ức hơn là sự khách quan. Trong thâm tâm những người chúng tôi phỏng vấn, họ vẫn nhớ về cái đình làng, về các giếng làng, các bến nước, cái sân kho hay thậm chí cái cửa hàng mậu dịch. Họ nhớ về những ao hồ, đầm vũng vốn từng cung cấp cua cá cho họ. Họ nhớ về những đêm diễn văn nghệ quần chúng hay xem văn công, xem phim màn ảnh rộng. Và họ vẫn nhớ về những ngôi nhà đi vắng cả ngày nhưng không đóng cửa. Có thể cha ông họ trước đây, tức là những người là chủ nhân của làng này từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cũng nghĩ về cái làng của họ với nhiều điều khác. Rồi đến thế hệ họ là chủ nhân làng nửa sau thế kỷ XX nhận thức về cái làng như vậy. Đó là làng của thời cách mạng, của thời bao cấp trong không khí làm ăn tập thể, sản xuất hợp tác xã và phục vụ kháng chiến. Và trong làng bây giờ, họ là người già, là những người được cho là thuộc về xã hội cũ, đang chứng kiến công cuộc hiện đại hóa của làng mà chủ nhân là con, cháu họ. Với họ, cái làng truyền thống chỉ còn trong ký ức, còn cái làng hiện tại lại không có bóng hình của mình.

"Bây giờ, không còn làng nữa. Làng bọn tôi sống ngày trước khác nhiều lắm. Các sinh hoạt văn hóa xã tổ chức theo phong trào vậy thôi. Các không gian mới như nhà văn hóa, sân bóng cũng vậy, chỉ dành cho bọn trẻ vui chơi nhảy múa thôi. Giờ nhà nào cũng kín cổng cao tường cả, có mấy khi quan tâm đến nhau như trước nữa đâu. Trừ khi có việc gì thì mới qua lại thăm hỏi nhau. Chẳng bù cho bọn tôi ngày trước, ngày nào cũng tập trung nhau lại để uống nác chè xanh và trò chuyện. Có việc gì cũng cùng nhau tập trung lại làm giúp nhau cho nhanh xong. Bọn trẻ bây giờ không quan tâm gì việc làng xóm. Chúng chỉ biết sống cho mình thôi. Mà có mấy đứa ở lại làng xóm đâu. Đi ra ngoài hết. Tết nhất về thì tụ tập ăn nhậu, bài bạc rồi quậy phá" (Ý kiến thảo luận nhóm).

Điệp ngữ "bọn tôi ngày trước" hay "làng tôi trước đây" được nhiều người nhắc đi nhắc lại nhiều lần như để ám chỉ về sự phân biệt thế hệ. Thực tế, nhiều người lớn tuổi đối diện với quá trình hiện đại hóa đang cảm thấy hoang mang. Nhiều giá trị mới khiến họ khó có thể tiếp nhận được. Trong bối cảnh đó, họ quay lại nhớ về những giá trị của thế hệ mình, nhớ về làng cũ, bạn cũ. Cái "làng hiện đại" trong mắt họ không phải là làng. Vì cái làng của họ có kết cấu mở với cảnh quan sinh thái hoang sơ hơn. Còn cái làng hiện nay có kết cấu đóng, nhà nào cũng kín kẽ cả về cảnh quan lẫn cuộc sống. Nhưng không phải ai cũng bài trừ những giá trị của cái làng hiện nay, bởi họ hiểu cuộc sống thay đổi thì làng cũng thay đổi. Như một người già kết luận: "Làng thời cha ông mình nó khác. Làng thời anh em mình cũng khác với trước đó. Và giờ làng của con cháu mình cũng vậy thôi. Dù sao thì vẫn là cái làng mình sinh ra và xây dựng, giờ là con cháu mình tiếp nối đấy thôi. Nó không làm được khác đi thì hóa ra con cháu lại kém hơn cha ông".

Liệu có nên đi tìm làng truyền thống?

Để kết thúc bài viết này, thay cho lời kết  chúng tôi xin đưa ra một sự gợi mở về mặt phương pháp luận trong tiếp cận vấn đề làng xã. Trước nay, nhiều nhà nghiên cứu vẫn quen với con đường đi tìm các làng xã truyền thống để phân tích nhằm chứng minh cho một cấu trúc (cả về nhận thức lẫn thực tiễn) làng mà họ coi là "truyền thống". Nhưng cái gọi là "làng truyền thống" chỉ mang tính tương đối mà thôi. Ngoài việc phân tích các cấu trúc về cảnh quan, kinh tế, xã hội và văn hóa làng thì còn có vấn đề đối tượng chủ thể của làng. Những phân tích về cảnh quan một làng vốn không có gì nổi bật như đã làm ở trên qua tâm thức của một nhóm người đã gợi mở cho chúng ta rằng không có cái nào gọi là làng truyền thống hay nói cách khác thì làng nào cũng có truyền thống riêng của mình và truyền thống đó luôn biến đổi nên không thể "tĩnh hóa" các cấu trúc để mà xem xét. Làng là một kết cấu xã hội đã tồn tại lâu dài trong lịch sử dân tộc. Nó biến đổi qua các giai đoạn khác nhau, và làng trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa lại càng thay đổi mạnh mẽ và nhanh chóng. Những kết cấu cũ sẽ dần thay đổi và thích ứng, cùng với đó là những kết cấu mới xuất hiện và dần có vai trò. Quan trọng hơn nữa, những chủ nhân làng cũng thay đổi qua các thế hệ khác nhau. Và đã là con người cùng sinh sống trong một môi trường nhất định, họ sẽ không ngừng tái tạo, sáng tạo ra các truyền thống của riêng họ. Vậy nên, xét cho cùng, bất cứ làng nào cũng có truyền thống và truyền thống đó luôn biến đổi. Thay vì đi tìm làng truyền thống để nghiên cứu thì hãy nghiên cứu làng dưới những góc độ khác nhau, những cách tiếp cận khác nhau để tìm và hiểu về truyền thống của làng. Điều đó cần thiết hơn.            

Hồ Xuân Hùng

Một câu hỏi lớn mà ngay từ khi tôi đang công tác ở tỉnh là: Liệu Nghệ An có thoát nghèo và trở thành giàu có được không? Và bằng con đường nào? Nên tập trung phát triển ngành kinh tế nào (sau này gọi là ngành kinh tế mũi nhọn)? Sản phẩm nào là chính (nay gọi là sản phẩm chủ lực)? Trong nhiều câu hỏi ấy, tôi muốn được đóng góp phần nhỏ vào định hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực ở Nghệ An trong thời gian tới 2020 - 2030. Không phải đến nay mới bàn, mà từ nhiều năm nay, nhất là từ những năm đầu thập niên thứ 2 của thế kỷ XXI đã bàn, chỉ khác nhau tên gọi mà thôi. Có lẽ khi Việt Nam tham gia sâu vào hội nhập kinh tế thế giới - kinh tế thị trường, chúng ta mới thức tỉnh điều đó. Sau khi nghiên cứu kỹ những chính sách, quyết định, nghị định, thông tư từ Trung ương đến tỉnh tôi xin được nêu một số ý kiến sau:

I. Một số kết quả đạt được trong tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Nghệ An những năm gần đây

Trong quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp những năm gần đây, Nghệ An đã đạt được nhiều thành tựu vượt trội đáng mừng.

1. Từ khi Chính phủ phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên phạm vi cả nước, Nghệ An đã nhanh chóng rà soát lại quy hoạch, chính sách nhằm thúc đẩy tạo ra những đột phá cho nông nghiệp. Đặc biệt chú trọng khai thác lợi thế so sánh vốn có của tỉnh so với cả nước, tạo ra đột phá trên cơ sở vừa có kế thừa, vừa phát triển ứng dụng mới. Nhất là khẳng định khai thác lợi thế từng vùng sinh thái huyện và truyền thống địa phương. Đây là cơ sở lợi thế cho lựa chọn xác định và phát triển cây, con chủ lực của tỉnh nhà.

Ví dụ: Vùng chăn nuôi bò sữa tập trung: Nghĩa Đàn, Thái Hòa; Vùng mía nguyên liệu 6 huyện: Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Con Cuông, Thái Hòa; Vùng chè chất lượng cao tại 4 huyện: Anh Sơn, Thanh Chương, Con Cuông, Kỳ Sơn…

2. Quá trình thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, tỉnh đã mạnh dạn ứng dụng công nghệ cao từ khâu giống, công nghệ sản xuất, đến quản lý. Nhờ ứng dụng công nghệ mới mà tốc độ tăng trưởng bình quân toàn ngành 5 năm qua đạt 4,8% trong khi cả nước khoảng 3,5% và đã nâng thu nhập bình quân trên toàn tỉnh xấp xỉ 90 triệu đồng/ha (so với 2008 chỉ 37 triệu VNĐ). Có nhiều điểm đã đạt 200 - 400 triệu tấn/ha kể cả cây công nghiệp và rau quả.

3. Nghệ An đã xác định được nhân tố động lực tạo ra đột phá trong tái cơ cấu nông nghiệp là doanh nghiệp, vì vậy đã có chính sách phù hợp thu hút được một số doanh nghiệp lớn đầu tư vào tỉnh nhà như: Tập đoàn TH, Vinamilk, FLC, Vingruop, Mường Thanh, Masan,… Và chính nhờ họ đã tạo ra chuỗi sản xuất phát triển ổn định, gắn kết được với các HTX, hộ nông dân. Đây cũng là những hạt nhân để xác định và phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh nhà trong thời gian sắp tới.

4. Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia và quyết định phê duyệt danh mục sản phẩm quốc gia, UBND tỉnh đã có quyết định phê duyệt: Đề án phát triển cây, con chủ yếu, gắn với cơ chế quản lý đất đai, tạo vùng nguyên liệu phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đến năm 2020 (QĐ: 3079/QĐUB ngày 3/7/2014). Đây là những cơ sở pháp lý và quá trình thực hiện trong những năm qua là cơ sở thực tiễn để chúng ta thảo luận những định hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực ở Nghệ An tính đến 2030, nhằm tạo bước đột phá bền vững cho giai đoạn mới.

II. Nghệ An cần thống nhất một số khái niệm và tiêu chí trước khi quyết định lựa chọn, công bố và có chính sách phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh

Ngày 13/12/2018, Thủ tướng Chính phủ mới có Quyết định số 50/2018/QĐ-TTg quy định đối tượng thủy sản nuôi chủ lực là: tôm sú, tôm thẻ chân trắng và cá tra; ngay sau đó ngày 25/12/2018 Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã có Thông tư số 37/2018/TT-BNN ban hành danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia gồm 13 sản phẩm (đã có cá tra và tôm).

Hiện nay hầu hết các tỉnh đang triển khai, nhưng chưa có quy định chung nào về tiêu chí và sự thống nhất khái niệm mỗi địa phương tùy theo thực tế của tỉnh mình có quy định riêng. Vì vậy, Nghệ An cũng cần có sự thống nhất về khái niệm và tiêu chí về sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh nhà để thuận lợi cho khi triển khai thực hiện và xây dựng chính sách. Trên cơ sở đó đưa ra danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực cho giai đoạn 2020 - 2030 (không đặt vấn đề đến 2025 với tầm nhìn 2030) thực ra chỉ là 2 kế hoạch 5 năm. Đương nhiên khi xây dựng chính sách và kế hoạch cụ thể thì phải phân kỳ cho phù hợp 2020 - 2025 và tính đến 2030.

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đưa ra những khái niệm và cách xác định tiêu chí sản phẩm nông nghiệp chủ lực của Nghệ An; Song theo tôi cần bổ sung và làm rõ thêm một số nội dung sau:

1. Về khái niệm

Cần nêu luôn khái niệm về sản phẩm nông nghiệp chủ lực, không cần cụ thể là cây, con chủ lực nội dung cơ bản không khác gì, cụ thể là: Sản phẩm nông nghiệp chủ lực là sản phẩm mang tính cạnh tranh, đặc thù cao, tạo ra sản phẩm hàng hóa lớn, chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Có khả năng lan tỏa, thu hút các ngành nghề khác phát triển.

2. Về quan điểm xác định các tiêu chí và tiêu chí lựa chọn để đề xuất lựa chọn sản phẩm nông nghiệp chủ lực.

Trong báo cáo đang nặng về nhóm tiêu chí kinh tế và nhóm tiêu chí về sản phẩm cần ưu tiên phát triển; thiếu hẳn nhóm tiêu chí xã hội và môi trường, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập hiện nay.

Ví dụ:

- Về tiêu chí xã hội phải bao hàm chỉ tiêu sản phẩm chủ lực, phải thu hút số đông lao động? Đảm bảo thu nhập ổn định cho người lao động và có mức thu nhập trung bình ra sao? Cũng cần phải tính thêm tỉ lệ hộ dân tham gia vào sản xuất sản phẩm chủ lực ấy?

Tiêu chí môi trường: Sản phẩm chủ lực ấy phải thân thiện với môi trường và có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu?...

3. Cần làm rõ thêm mối quan hệ giữa sản phẩm chủ lực với sản phẩm chủ yếu, sản phẩm đặc trưng, sản phẩm đặc sản của tỉnh, sản phẩm nào trùng lặp, sản phẩm nào riêng biệt để có chính sách phù hợp, tránh trùng lặp, bỏ sót cả trong chỉ đạo thực hiện và cơ chế hỗ trợ, khuyến khích…

Ví dụ: Cam Vinh vừa trong danh mục cây trồng chính, vừa là đặc sản và nhất định cũng trong nhóm cây chủ lực… những sản phẩm loại này cần có chính sách thúc đẩy phát triển nhanh không? Loại trừ trùng lặp chỗ nào?...

4. Cần có tiêu chí rõ sản phẩm có tính truyền thống, đặc trưng đang phù hợp với nhu cầu ngày một tăng của thị trường; sản phẩm mới được xác lập trên địa bàn và dự kiến sản phẩm chủ lực tương lai nhằm tạo cơ hội cho nhà đầu tư hoặc là đầu tư nâng cao mở rộng, hoặc là mạnh dạn đầu tư mới phù hợp với chiến lược phát triển của tỉnh.

Ví dụ: Mía đường vừa là sản phẩm truyền thống nhưng thực sự trở thành sản phẩm chủ lực từ những năm cuối của thập kỷ cuối cùng thế kỷ XX (1998).

Ngược lại bò sữa là sản phẩm chủ lực mới được xác lập từ những năm cuối của thập kỷ thứ II thế kỷ XXI.

Thử dự báo: sản phẩm quả bơ (Diện tích kế hoạch 2020 là 60 ha) nhưng trong vòng sau 10 năm nữa có thể trở thành sản phẩm chủ lực được không?

Hay quả chanh chua (chanh có múi) hiện tại còn chưa có thống kê trong danh sách sản phẩm nông nghiệp tỉnh nhà, nhưng thực sự nó đã nổi tiếng trong tiêu dùng (trên thị trường ở miền Bắc nước ta) do đang trồng phân tán, tận dụng trồng trong dân, nếu có sự đột phá trong giống để thành chanh không hạt và trồng tập trung ở diện tích lớn đất vườn, đồi thì sẽ ra sao, nhất là khi nhu cầu đang tăng?... Nghệ An có thể trồng chanh không hạt được ở các huyện Tây Nghi Lộc, Nam Đàn, Hưng Nguyên và một số huyện vùng bán sơn địa, núi thấp…

Tôi xin cung cấp vài thông tin về cây chanh có múi: Hiện nay thế giới tiêu thụ khoảng hơn 10 triệu tấn chanh tươi/năm. Thị trường lớn mà Việt Nam đang xuất khẩu chính là: Trung Đông, châu Âu, Úc, các nước Đông Nam Á. Thị trường Mỹ rất lớn nhưng Việt Nam chưa cạnh tranh nổi với Brazin,         Mexico… Việt Nam đến 2019 có 15.000 ha chanh không hạt được trồng tập trung (loại có hạt, trồng phân tán chưa tính đến). Riêng Long An: 7.000 ha, Hậu Giang hơn 2.000 ha.

- Giống chanh không hạt trồng 16 - 20 tháng cho thu hoạch, năm thứ nhất cho năng suất bình quân 10 - 15 tấn/ha, từ năm thứ 2 trở đi 20 - 25 tấn/ha (Năng suất điển hình đã có 30 - 40 tấn).

- Giá bán tại vườn bình quân 12.000 đồng/kg từ (12 triệu/tấn).

- Giá xuất FOB cảng HCM: 1.500 USD/tấn.

- Thời gian bảo quản tươi lâu: 45 - 60 ngày nếu áp dụng công nghệ hơn 6 tháng, vì vậy không bị áp lực về mùa vụ và thời gian xuất.

- Hiện nay tổng sản lượng ở Việt Nam xuất tươi khoảng 70% tổng sản lượng, ép chế biến 10%, bán chợ 20%.

- Chanh dễ trồng, ít sâu bệnh.

Nhiều chuyên gia kinh tế và doanh nghiệp con em Nghệ An đề xuất: Nghệ An có vùng trồng chanh truyền thống (chỉ khác đang là chanh hạt) như Hưng Nguyên, Nam Đàn; và có nhiều huyện khác có thể trồng chanh được. Chỉ phải chọn giống không hạt và quy hoạch khoảng 2.000 - 3.000 ha là có khả năng thực thi.

III. Một số ý kiến về đề xuất danh mục cây con chủ lực

Về cơ bản nhất trí với đề xuất của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, song có một vài đề nghị bổ sung, sửa đổi sau đây:

1. Đối với cây trồng

1.1. Không nên đưa cây sắn nguyên liệu vào nhóm cây chủ lực không phải vì chỉ đóng góp khoảng 0,7% vào giá trị sản xuất của ngành, phương án của Sở cũng chỉ tìm giải pháp hỗ trợ để đảm bảo đủ nguyên liệu cho 3 nhà máy hiện có; mặt khác đây là loại cây trồng "phá đất" và thực sự không thu hút nhiều lao động. Cả về tiêu chí xã hội, kinh tế, môi trường và hướng phát triển ưu tiêu (quy hoạch và danh mục chung cả nước) đều không lợi thế.

1.2. Cân nhắc đánh giá lại cây lạc. Hiện nay Việt Nam đang đứng thứ 5 về sản xuất lạc ở châu Á. Tuy diện tích (S) nhiều năm nay không tăng nhưng tương đối ổn định, xấp xỉ 150.000 ha, năng suất bình quân 2,4 tấn/ha. Nghệ An có S ≈ 15.000 ha (10% cả nước). Riêng năm 2014 có S: 17.950 ha, sản lượng đã đạt 35.000 - 40.000 tấn. Đây là vùng lạc truyền thống, tuy đóng góp chỉ 1,53 % giá trị của ngành, nhưng lại thu hút lao động cao, nhất là hộ dân vùng đất cát pha và thời vụ ngắn, thân thiện môi trường, cải tạo đất và còn có tác dụng trồng xen vụ, rải vụ. Nếu đầu tư thêm để có giống năng suất cao ở mức khả thi 4 - 5 tấn/ha gắn với công nghiệp chế biến chắc sẽ khác? Hiện nay bình quân năng suất ở Nghệ An mới đạt 2,6 tấn/ha.

1.3. Tách hẳn cây bơ thuộc loại cây chủ lực trong tương lai gần, từ đó để có chính sách khuyến khích và thu hút đầu tư mở rộng, nhất là để tái cơ cấu kinh tế cho miền Tây Nghệ An.

1.4. Đưa cây chanh không hạt (có múi) vào cây chủ lực trong kế hoạch phát triển từ nay đến 2030. Trên cơ sở đánh giá lại vùng chanh đang rất nhiều hạt hiện nay và quy hoạch hướng phát triển mới để kêu gọi thu hút đầu tư gắn với cải tạo vườn chanh hiện có ở các huyện truyền thống của tỉnh nhà.

1.5. Cây lấy gỗ, dược liệu thống nhất như dự thảo của Sở Nông nghiệp.

2. Đối với chăn nuôi

2.1. Đàn trâu cả nước đang có xu hướng giảm, nguyên nhân do hiệu quả kinh tế không cao, diện tích chăn thả giảm, dùng làm sức kéo gần như không. Tuy vậy hiện tại vẫn là nguồn thu nhập và giải quyết việc làm khá lớn của hộ dân vùng nông thôn, và vẫn là nguồn thực phẩm quan trọng của họ trong vòng 10 - 15 năm nữa; hơn nữa đàn trâu Nghệ An đang chiếm ≈ 12% tổng đàn cả nước (280.000/2.350.000 con). Vì vậy cùng với đàn bò nhất định trong thời gian tới vẫn phải được quan tâm phát triển.

2.2. Đàn bò thịt của tỉnh đã chiếm 7,2% tổng đàn cả nước (425.000/5.940.000 con) nhu cầu đang tăng đều đến hàng năm, có nhiều tỉnh đang xây dựng kế hoạch tăng nhanh đàn đến 2025. Như Thái Bình đang đặt kế hoạch đến 2025 tăng trưởng đến gấp 3 lần so với 2019 (Tuy nhiên tổng đàn hiện nay chỉ có 55.000 con)…

Nghệ An vừa có truyền thống, vừa có tiềm năng để tăng nhanh đàn cả hình thức hộ gia đình, trang trại, doanh nghiệp.

2.3. Đàn bò sữa cả nước đang tăng rất nhanh, năm 2018 tổng đàn là: 250.000 con, thì 2019 là: 322.000 con. Nghệ An đã có 2 doanh nghiệp có thương hiệu không chỉ ở trong nước mà đã có tên tuổi ở nhiều nước trên thế giới, sản phẩm sữa của T.H và Vinamilk đang có giá trên thị trường. Tổng đàn ở Nghệ An chỉ chiếm 1,9% cả nước (60.000/322.000 con), nhưng đang tạo ra những đột phá trong chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh nhà cả về sản phẩm, công nghệ, chuỗi sản xuất được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ghi nhận. Nghệ An đủ điều kiện để tăng nhanh đàn bò sữa, để tăng nhanh sản phẩm sữa.

2.4. Lợn và gia cầm (gà vịt) vừa là sản phẩm đạt tiêu chí kinh tế, xã hội (việc làm) và cũng là sản phẩm truyền thống của địa phương, phù hợp với yêu cầu ngày càng phát triển của thị trường và cũng nằm trong danh mục sản phẩm chủ lực của ngành nông nghiệp Việt Nam.

3. Thủy sản

Dự kiến cuối 2020 giá trị sản lượng thủy sản chỉ chiếm 16,14% tổng giá trị của ngành (so với tỷ trọng thủy sản trong nông nghiệp toàn quốc thì Nghệ An ở mức thấp. Cả nước thủy sản 23,7% GDP nông nghiệp). Nhưng khả năng để phát triển ngành thủy sản ở Nghệ An là rất lớn kể cả nước mặn, lợ và nước ngọt.

Muốn phát triển bền vững ngành này nhất định tỉnh ta phải tập trung vào nuôi trồng là chính. Đây là dư địa rất lớn ở Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đưa cá nước ngọt và tôm vào danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực vừa phù hợp với nhu cầu ngày một tăng của thị trường trong nước (trong tỉnh) và quốc tế; Vừa phù hợp với thực tế của tỉnh nhà và định hướng phát triển của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Thực tế hiện nay Nghệ An đã có nhiều mô hình nuôi tốt như ở Diễn Trung - Diễn Châu, ở Quỳnh Phương - Quỳnh Lưu... Riêng sản lượng thủy sản Quỳnh Lưu năm 2018 đã đạt 74.000 tấn là rất đáng khuyến khích phát triển.

IV. Về mục tiêu và giải pháp

Từ thực tiễn đó, cần tập trung làm rõ một số giải pháp sau:

1. Cần chuyển hẳn tư duy phát triển một nền nông nghiệp toàn diện sang tư duy phát triển nông nghiệp sạch, ứng dụng công nghệ cao trên nền tảng hiệu quả kinh tế theo tín hiệu thị trường.

Đây không phải là vấn đề mới nhưng không dễ gì áp dụng. Một thực trạng là cả hệ thống nông nghiệp Việt Nam chưa thoát khỏi tư duy "phát triển một nền nông nghiệp toàn diện…"? Nghệ An có quyết tâm để thoát khỏi vòng này không?

Trên cơ sở tư duy đó mới có thể tập trung đầu tư khai thác lợi thế vùng sinh thái và phát triển nông sản chủ lực hiệu quả được. Nguồn lực đầu tư, nhất là khâu chủ trương mới có thể tập trung mở rộng.

2. Đầu tư cho khâu giống (cả cây và con) là khâu quyết định. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, khoa học sinh học thế giới, loài người đã tạo được bước đột phá lớn trong cây trồng vật nuôi, vừa nâng cao được giá trị sản lượng, vừa chất lượng đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người trong kinh tế hội nhập toàn cầu.

Tư duy nông nghiệp ngày nay không thể: "Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống" được nữa. Mà nhất định phải là "nhất giống". Giống thế nào thì yêu cầu phân bón, nước và công chăm bón thế đó!

Ví dụ: Những năm gần đây huyện Ứng Hòa, Hà Nội đã nhận chuyển giao giống bò: BBB (gọi là 3B) do Trung tâm giống vật nuôi của Học viện Nông nghiệp Việt Nam nhập từ Bỉ, nuôi tại Ứng Hòa 15 - 18 tháng xuất chuồng. Trọng lượng xuất chuồng bình quân 500 - 600 kg/con. Bò đực đã đạt cao 900 - 1.200 kg/con, bò cái 600 - 800 kg/con, thành thịt xẻ hơn 52% (bò thường chỉ 35 - 42%). Giá bán hiện nay tại Hà Nội hơi 90.000 đồng/kg, thịt 240.000 - 250.000 đồng/kg. Chỉ cần lấy tinh Bò 3B phối với Bò lai là được. Nghệ An đã phối để có bò 3B này chưa? Nếu như trước đây chúng ta đã thành công trong Sin hóa đàn bò thay đàn bò "nhọn 2 đầu" thì nay nên tính giống mới.

Ví dụ 2: Ai nghĩ Nghĩa Đàn đã thành công quả bơ Mỹ? Sự thực nó sẽ trở thành một trong những trái cây chủ lực ở Nghệ An trong tương lai gần. Nếu chúng ta tiếp tục tạo môi trường phát triển.

3. Kiên trì chính sách thúc đẩy sản xuất theo chuỗi giá trị dưới sự dẫn dắt của doanh nghiệp đầu đàn có ứng dụng công nghệ cao.

4. Soát lại chính sách tổ chức tiêu thụ cho sản phẩm nông nghiệp chủ lực không chỉ ở khâu chế biến, bảo quản mà ngay cả khâu xây dựng thương hiệu, xúc tiến, quảng bá sản phẩm và kết nối mạng thị trường trên phạm vi toàn tỉnh, vùng và quốc gia. Nghệ An hoàn toàn đủ điều kiện để phát triển hệ thống tiêu thụ: từ chợ truyền thống, đến chợ đầu mối, siêu thị và thị trường điện tử mạng. Vấn đề quan trọng là lựa chọn xác định đúng địa điểm, bố trí đúng chủ đầu tư? (Chúng ta cũng đã có bài học thất bại về vấn đề này).

5. Đơn giản, sát thực và hiệu quả hóa chính sách hỗ trợ cho dân và doanh nghiệp (đối tượng) tham gia vào sản xuất sản phẩm nông sản chủ lực theo hướng hỗ trợ trực tiếp vào những nội dung, chương trình phục vụ cộng đồng, khu vực liên quan sản xuất và dịch vụ sản xuất; hỗ trợ, thưởng cái họ làm ra sát thực cho quá trình đầu tư, phát triển bền vững.

Ví dụ: Ở Nghệ An khi tiến hành đàm phán và xây dựng nhà máy đường NAT&L, phía đối tác đề nghị tỉnh nâng cấp đường quốc lộ từ Quốc lộ 1A lên Quỳ Hợp (khi chưa có cầu qua sông Hiếu như bây giờ) làm hệ thống đường giao thông vận chuyển mía nội đồng (nhà máy mua mía của dân) gắn với quy hoạch phát triển vùng mía, chiều dài 80 km và hỗ trợ dân trồng mía. Tỉnh đã báo cáo Chính phủ và chúng ta đã làm được điều đó. Trong mọi giai đoạn thăng trầm của các nhà máy đường trong cả nước thì NAT&L vẫn hiệu quả nhất.

Tình hình hiện nay ở nước ta và tỉnh Nghệ An đề nghị: Ngoài việc hỗ trợ và phát triển hạ tầng (nếu chưa có) thì nên áp dụng 2 hình thức sau đây vừa dễ quản lý vừa khuyến khích doanh nghiệp tích cực phát triển sản xuất:

a) Hỗ trợ lãi suất tiền vay cho quá trình đầu tư mới khi có áp dụng giống và công nghệ mới, tỷ lệ % do điều kiện thực tiễn mà công bố.

b) Thưởng % phần vượt thuế cho đối tượng nộp thuế, nhưng yêu cầu tiền thưởng ấy tiếp tục đầu tư vào tài sản cố định hoặc lưu động; không đưa vào lãi để chia nhau.

Đây cũng là kinh nghiệm của Nghệ An nhiều năm qua và nhiều tỉnh hiện nay đang làm. Nhất là phần hỗ trợ lãi suất tiền vay.

c) Hỗ trợ xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu.

Cách hỗ trợ này hiệu quả, đỡ phiền hà và dễ giám sát quá trình thực hiện.

V. Lời kết

Cho đến kết thúc năm 2019 (cuối thập niên thứ 2 của thế kỷ XXI) cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Nghệ An vẫn chiếm 19 - 20% tỷ trọng GDP tỉnh nhà. Tuy là không lớn, nhưng trên bình diện chung Nghệ An vẫn là tỉnh nông nghiệp, vẫn còn tới 42% lao động nông nghiệp và hơn 85% cư dân sống ở nông thôn; và thực tế trong vòng vài chục năm nữa (theo tôi) lợi thế so sánh của Nghệ An so với cả nước vẫn là nông nghiệp (nông - lâm - ngư). Vì vậy Nghệ An cần tranh thủ cơ hội, nhất là sau khi đã xác lập được những sản phẩm nông nghiệp chủ lực, cùng với những sản phẩm đặc sản, đặc trưng của tỉnh có chính sách phù hợp thúc đẩy phát triển nhanh tạo đột phá ngay trong 5 - 10 năm đầu này nhằm thực hiện mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư Bác gửi BCH Đảng bộ tỉnh ngày 21/7/1969: "… Rất mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc".

 

Nguyễn Quốc Hồng

Tháng 1 năm 1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (khóa II) mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, xác định "Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam, phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đánh đổ quyền thống trị của đế quốc, phong kiến, trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm - tay sai của đế quốc Mỹ, thiết lập chính quyền cách mạng"(1).

Thực hiện nghị quyết của Trung ương Đảng và nghị quyết của Tổng quân ủy Trung ương, Bác Hồ và Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định mở tuyến đường chiến lược vận tải quân sự từ miền Bắc xuyên qua dãy Trường Sơn trùng điệp để chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam. 

Ngày 5 tháng 5 năm 1959, Bộ Quốc phòng tổ chức "Đoàn công tác quân sự đặc biệt" làm nhiệm vụ mở đường, vận chuyển hàng quân sự vào chiến trường, tổ chức đưa, đón cán bộ, chuyển công văn, tài liệu từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc. 

Ngày 19 tháng 05 năm 1959, "Đoàn công tác đặc biệt" đã tiến hành mở đường chiến lược Hồ Chí Minh, điểm xuất phát tại thị trấn Lạt, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, điểm cuối cùng Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Từ khi mở đường đến cuộc tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đường Hồ Chí Minh không ngừng được mở rộng, kéo dài, vươn tới các chiến trường với chiều dài 17.000 km đường cho xe cơ giới hoạt động. Riêng phía Đông Trường Sơn 1.920 km với 5 hệ thống đường dọc và 21 trục ngang nối với các chiến trường. Đường giao liên dài 3.000 km, đường ống dẫn dầu gần 1.400 km.

Từ ngày mở đường đến kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng, trên con đường Hồ Chí Minh huyền thoại, bộ đội Trường Sơn đã vận chuyển 455 triệu tấn vũ khí, lương thực, đạn dược và gần 58 triệu tấn xăng dầu chi viện cho chiến trường miền Nam.

Sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử, ngày 27 tháng 4 năm 1990 cột mốc km số 0 thị trấn Lạt, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Đến ngày 09 tháng 12 năm 2013, khu di tích Km0 được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định số 2383/QĐ -TTG nâng cấp thành Di tích quốc gia đặc biệt. Ngày 9 tháng 5 năm 2019, nhân kỷ niệm 60 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh - ngày truyền thống bộ đội Trường Sơn (19/5/1959 - 19/5/2019), UBND tỉnh Nghệ An ban hành Quyết định số 1489/QĐ - UBND ngày 6 tháng 5 năm 2019 công nhận điểm du lịch "Di tích quốc gia đặc biệt Km0 - Đường Hồ Chí Minh". Sau khi được công nhận Khu Di tích Km 0 - đường Hồ Chí Minh là di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, khu di tích được đầu tư xây dựng các hạng mục như: nhà trưng bày hình ảnh, tài liệu, hiện vật đường Trường Sơn - Hồ Chí Minh - Tân Kỳ - Lộc Ninh. Công trình khởi công xây dựng ngày 15 tháng 7 năm 2004, hoàn thành ngày 19 tháng 05 năm 2006 và được bàn giao đưa vào sử dụng.

Công trình bao gồm các hạng mục: Nhà trưng bày 650m2; Diện tích ngoài trời 10.113m2, hồ điều hòa và hệ thống tường rào. Sau khi đưa vào sử dụng, khu di tích đã trở thành điểm đến của khách tham quan và địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cho học sinh, sinh viên, thế hệ trẻ trên địa bàn tỉnh và cả nước. 

Theo báo cáo khoa học của Đề tài "Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể trên địa bàn miền Tây Nghệ An" hàng năm tại khu di tích đón từ 14 đến 16 ngàn khách thăm quan, trong đó có khoảng 1.500 khách nước ngoài và nhiều học sinh, sinh viên trong huyện, tỉnh đến thăm quan. 

Tuy nhiên, từ khi bàn giao đưa vào sử dụng (năm 2006) đến nay, khu di tích chỉ mới một lần chỉnh sửa các nội dung trưng bày vào năm 2009. Do vậy, hệ thống cơ sở đã xuống cấp, nhất là nhà trưng bày xuống cấp nghiêm trọng. Hệ thống hồ điều hòa, tường rào hầu như không còn tác dụng. Về trưng bày ngoài trời, mặc dầu có diện tích, không gian trưng bày nhưng đến nay hầu như chưa có hiện vật nào trưng bày. Các hiện vật trong nhà trưng bày đã lâu không được bổ sung thêm những tư liệu, hiện vật mới tạo nên sự nhàm chán cho du khách. 

Để tiếp tục phát huy Khu Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Km0 - đường Hồ Chí Minh là điểm đến cho du khách và địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống các thế hệ thanh thiếu niên, nhất là để thực sự trở thành điểm du lịch theo quyết định của UBND tỉnh. Từ đó kết nối thành tour du lịch với các di tích lịch sử văn hóa: cột mốc Km 0 - đường Hồ Chí Minh - dốc Truông Bồn với huyền thoại các nữ thanh niên xung phong - phà Nam Đàn - Ngã Ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh). Đồng thời Di tích Quốc gia đặc biệt Km 0 - đường Hồ Chí Minh trở thành trung tâm kết nối với các di tích danh thắng khác trên địa bàn, hình thành kinh tế di sản của huyện Tân Kỳ trong thời gian tới. Để đạt được mục tiêu trên, các cơ quan có trách nhiệm trên địa bàn xây dựng đề án huy động nguồn vốn từ địa phương, tỉnh, Bộ Quốc phòng và từ nguồn xã hội hóa để tôn tạo; nâng cấp nhà trưng bày gồm: phòng trung tâm, không gian trưng bày các hiện vật, hình ảnh. Bổ sung thêm các tư liệu, hình ảnh, hiện vật mới của Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và tư liệu hình ảnh, hiện vật của nhân dân Tân Kỳ qua các thời kỳ lịch sử. Cải tạo, nâng cấp hệ thống tường rào, hồ điều hòa đảm bảo kỹ thuật, mỹ thuật.

Huy động một số hiện vật trưng bày tại không gian ngoài trời để làm phong phú thêm khu di tích như: xe vận tải zin 157; xe vận tải gaz 66; pháo cao xạ 37, 57; súng 12,7mm và một số súng bộ binh cá nhân, quân tư trang, các loại dụng cụ và xe thô sơ dùng trong mở đường.v.v.. Việc đầu tư tôn tạo, nâng cấp, bổ sung các tư liệu, hiện vật và một số hạng mục tại Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Km 0 - đường Hồ Chí Minh là việc làm rất cần thiết và ý nghĩa. Sau khi tôn tạo, nâng cấp, thông qua việc trưng bày hệ thống hiện vật sẽ giới thiệu cho du khách trong và ngoài nước về trang sử vẻ vang của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tạo điểm du lịch hấp dẫn để quảng bá với du khách về hình ảnh đất nước, con người Nghệ An nói chung và huyện Tân Kỳ, các huyện miền Tây Nghệ An. Đồng thời để tri ân và tôn vinh những công lao to lớn đối với các anh hùng, liệt sĩ, các thương binh, bệnh binh, các cựu chiến binh, thành niên xung phong đã từng chiến đấu, phục vụ trên tuyến đường Trường Sơn năm xưa. Là nghĩa cử đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ trên quê hương Xô viết anh hùng.

 

Tài liệu tham khảo 

1. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành trung ương Đảng lần thứ 15 (khóa II) mở rộng. 

2. Bộ Quốc phòng - Bộ Tư lệnh binh đoàn 12: Lịch sử đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh - tập I (1959 - 1975) - NXB Quân đội nhân dân. 

3. Ban Tuyên giáo trung ương: Đề cương tuyên truyền 60 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh - ngày truyền thống mở đường Trường Sơn. 

4. Thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh: Những cột mốc vinh quang đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn và đường Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

5. Tài liệu khảo sát thực tế của tác giả. 

PGS.TS Lý Việt Quang

Đồng chí Nguyễn Duy Trinh với 75 năm tuổi đời, 55 năm tuổi Đảng, gần 60 năm hoạt động cách mạng liên tục ở cả ba miền Trung, Nam, Bắc, đã được Đảng và nhân dân tin cậy giao phó nhiều trọng trách. Đồng chí đã đem hết tâm lực và trí tuệ của mình hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Gắn bó với những trang sử hào hùng của dân tộc, cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Nguyễn Duy Trinh là tấm gương sáng của một người cộng sản kiên trung, suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Từ người thanh niên yêu nước trở thành chiến sĩ cộng sản

Đồng chí Nguyễn Duy Trinh sinh ngày 15/7/1910 trong một gia đình nông dân ở xã Nghi Thọ (nay là xã Phúc Thọ), huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An - một vùng đất địa linh nhân kiệt, giàu truyền thống yêu nước, cách mạng. Được nuôi dưỡng bởi truyền thống yêu nước của gia đình, quê hương và dân tộc, chứng kiến nỗi đau của người dân mất nước, ở Nguyễn Duy Trinh đã sớm hình thành tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc, lòng căm thù giặc và ý chí quyết tâm cứu nước, cứu dân. Điều đó đã thôi thúc Nguyễn Duy Trinh tích cực tham gia hoạt động yêu nước khi mới 17 tuổi.

Năm 1927, Nguyễn Duy Trinh tham gia các phong trào học sinh chống áp bức của đế quốc và phong kiến tay sai, đòi tự do hoạt động chính trị ở thành phố Vinh. Năm 1928, người thanh niên yêu nước Nguyễn Duy Trinh tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng - một trong những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo sự phân công của tổ chức, đồng chí vào hoạt động ở Sài Gòn, tích cực gây dựng cơ sở và tuyên truyền cách mạng. Bị thực dân Pháp bắt tại một cơ sở của Tân Việt và giam tại Khảm Lớn Sài Gòn, bị kẻ địch tra tấn dã man, nhưng dù còn trẻ tuổi, đồng chí Nguyễn Duy Trinh vẫn giữ vững khí tiết bất khuất trước kẻ thù. Không khai thác được thông tin gì, tháng 7/1930, thực dân Pháp đưa đồng chí ra tòa và kết án 18 tháng tù, sau đó trục xuất về Trung bộ.

Mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đồng chí Nguyễn Duy Trinh trở thành đảng viên lớp đầu tiên của Đảng. Trở về quê hương khi phong trào cách mạng Nghệ Tĩnh dưới sự lãnh đạo của Đảng đang lên cao quyết liệt, đồng chí đã bí mật liên lạc với chi bộ Đảng ở địa phương và tiếp tục hoạt động, được cử làm bí thư chi bộ. Năm 1931, đồng chí được cử làm Bí thư huyện ủy Nghi Lộc. Đồng chí đã cùng huyện ủy lãnh đạo phong trào cách mạng 1930-1931 ở Nghi Lộc phát triển sôi nổi, góp phần vào cao trào cách mạng sục sôi ở Nghệ - Tĩnh.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, thực dân Pháp và phong kiến tay sai thẳng tay khủng bố, đàn áp với những cuộc vây bắt, truy lùng cán bộ, triệt phá làng mạc và những vụ thảm sát đẫm máu. Hàng trăm cán bộ, quần chúng cách mạng bị bắt bớ, tù đày và giết hại, nhiều làng mạc bị đốt phá gây tổn thất nặng nề. Trong muôn vàn khó khăn, đồng chí Nguyễn Duy Trinh vẫn giữ vững tinh thần cách mạng, tích cực giữ mối liên lạc giữa huyện ủy và cơ sở cách mạng, giữ gìn cơ sở, tổ chức huấn luyện ngắn ngày cho đảng viên và quần chúng trung kiên; tiếp tục bắt mối liên lạc với những đồng chí đảng viên chưa sa vào lưới giặc, kiên trì khắc phục khó khăn, duy trì phong trào ở địa phương, đưa cách mạng rút dần vào hoạt động bí mật.

Từ một thanh niên yêu nước, qua đấu tranh và rèn luyện trong phong trào cách mạng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh trở thành một chiến sĩ cộng sản kiên trung, thuộc lớp đảng viên đầu tiên của Đảng và hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Đấu tranh trong nhà tù đế quốc, thể hiện bản lĩnh của người cộng sản kiên trung

Cuối năm 1931, đồng chí Nguyễn Duy Trinh bị thực dân Pháp bắt. Chúng dùng mọi thủ đoạn từ tra tấn dã man đến dụ dỗ hòng khuất phục đồng chí khai báo về tổ chức nhưng đều lần lượt bị thất bại. Đầu năm 1932, đồng chí bị chúng kết án 13 năm khổ sai, đày đi Buôn Ma Thuột. Vì những hoạt động cách mạng tích cực trong nhà đày Buôn Ma Thuột, năm 1935, đồng chí bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo, nơi được mệnh danh là "địa ngục trần gian". Qua đấu tranh rèn luyện trong tù, đồng chí được cử làm bí thư chi bộ, lãnh đạo cuộc đấu tranh. Năm 1941, đến thời gian đồng chí Nguyễn Duy Trinh mãn hạn tù, nhưng chính quyền thực dân, phong kiến coi đồng chí là một phần tử nguy hiểm nên đã tiếp tục đưa đi đày ở Kon Tum đến tháng 5/1945.

Trong thời gian 15 năm bị bắt, bị giam cầm ở những nhà tù khét tiếng tàn bạo của thực dân Pháp, đồng chí Nguyễn Duy Trinh luôn lạc quan, tin tưởng vào con đường cách mạng đã lựa chọn và tương lai tất thắng của sự nghiệp cách mạng. Trước những thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc, tra tấn dã man của kẻ thù, đồng chí vẫn giữ trọn khí tiết của người cộng sản bất khuất, kiên trung. Trong những lúc nguy nan nhất, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã đem tất cả tâm sức của mình, cùng với nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng như: Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Văn Lương… biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng, coi đó là trận tuyến đấu tranh mới của người cách mạng bằng cách tích cực tuyên truyền, vận động cách mạng; tổ chức đoàn kết bạn tù đấu tranh buộc kẻ thù phải giảm bớt chế độ lao tù khắc nghiệt, giành lấy sự sống để trở về với Đảng với phong trào cách mạng của nhân dân.

Sau khi ra tù, Nguyễn Duy Trinh tích cực tham gia phong trào Việt Minh. Đồng chí trở thành hạt nhân quan trọng trong việc tập hợp lực lượng, đoàn kết các tầng lớp nhân dân chuẩn bị lực lượng sẵn sàng đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ tới.

Khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, là Thường vụ xứ ủy Trung bộ, đồng chí đã lăn lộn trong phong trào kháng chiến ở Liên khu V, xây dựng căn cứ địa, vùng tự do cách mạng ở Nam Trung bộ. Sự năng động trong thực tiễn đầy gian khổ mà đồng chí Nguyễn Duy Trinh trải qua đã góp phần hình thành quan điểm, đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng.

Trở thành nhà lãnh đạo có uy tín lớn

Từ năm 1951 đến đầu năm 1965, đồng chí Nguyễn Duy Trinh được giao nhiều trọng trách lãnh đạo quan trọng các cơ quan của Đảng và nhà nước, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Thủ tướng kiêm chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Ý thức được trách nhiệm trước công việc được Đảng và Nhà nước và nhân dân giao phó, bằng phẩm chất và tài năng, đồng chí đã có những đóng góp quan trọng vào thực hiện chiến lược cách mạng của Đảng. Trên cương vị Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, với tư duy lý luận và sự am hiểu sâu sắc thực tiễn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về các mối quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế quốc dân, về các nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, về phát triển kinh tế và cải tạo xã hội, phát triển văn hóa… đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã chỉ đạo một cách toàn diện và sâu sát công cuộc đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Từ năm 1965, trước yêu cầu mới của cách mạng, Phó Thủ tướng Nguyễn Duy Trinh được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị yêu cầu thôi kiêm chức Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước để kiêm chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Đây là thời kỳ có nhiều khó khăn, thử thách khi đế quốc Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam và mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, là giai đoạn cuộc đấu tranh của chúng ta diễn ra trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao. Thời kỳ này cũng diễn ra sự bất đồng, sự phân liệt sâu sắc trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa.

Quán triệt sâu sắc tư tưởng đối ngoại độc lập, tự chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và phụ trách công tác ngoại giao của Đảng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đóng góp tích cực vào việc hoạch định và thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế. Dưới sự chỉ đạo sát sao của Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh, ngoại giao đã trở thành một mặt trận quan trọng, cùng với mặt trận chính trị và quân sự. Những đường lối ngoại giao ghi lại dấu ấn Nguyễn Duy Trinh như: nghệ thuật vừa đánh vừa đàm; phối hợp đấu tranh ngoại giao của hai miền Nam - Bắc và nghệ thuật đàm phán của ngoại giao Việt Nam mà đỉnh cao là việc ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973… đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã lãnh đạo ngành ngoại giao hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ chính trị vô cùng quan trọng: đó là tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của bạn bè, cộng đồng quốc tế cho sự nghiệp cách mạng của Việt Nam, hình thành một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam và phản đối chiến tranh xâm lược phi nghĩa.

Tiếp tục cống hiến vì sự nghiệp xây dựng đất nước và công cuộc đổi mới

Sau hai cuộc kháng chiến trường kỳ, đến năm 1975 khi đất nước thống nhất và tiến hành công cuộc tái thiết sau nhiều năm bị chiến tranh tàn phá; trong bối cảnh khó khăn, vừa phải tranh thủ sự hỗ trợ của thế giới và cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa, vừa đấu tranh chống bao vây cấm vận, trên cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng chí Nguyễn Duy Trinh tiếp tục có những đóng góp lớn trong việc thúc đẩy mở rộng quan hệ ngoại giao của Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Ngày 21/9/1977, đồng chí Nguyễn Duy Trinh thay mặt Đảng và Nhà nước Việt Nam tham dự Lễ thượng cờ Việt Nam được tổ chức tại trụ sở Liên Hợp Quốc, đánh dấu việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của một tổ chức có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới. Đồng chí cũng đề xuất với Bộ Chính trị chủ trương sớm thiết lập và tăng cường quan hệ với các nước láng giềng ở khu vực với chính sách bốn điểm nổi tiếng(1). Trên cơ sở chính sách 4 điểm, đồng chí đã góp phần thúc đẩy quá trình thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước Đông Nam Á còn lại là Thái Lan và Philippin, đồng thời có rất nhiều hoạt động nhằm xây dựng và củng cố mối quan hệ chặt chẽ giữa Việt Nam với nhiều nước khác trong khu vực.

Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng chí Nguyễn Duy Trinh còn có những đóng góp rất quan trọng trong việc xây dựng ngành ngoại giao của Việt Nam. Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn mới của cách mạng, đồng chí đã vạch ra phương hướng để xây dựng ngành ngoại giao, đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ của ngành về cả phẩm chất và năng lực, trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch cán bộ dài hạn và tiêu chuẩn hóa cán bộ…

Năm 1982, tại Đại hội lần thứ V của Đảng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh được phân công là Thường trực Ban Nghiên cứu chiến lược kinh tế - xã hội của Trung ương Đảng và Chính phủ. Trước những bất cập trong cơ chế quản lý kinh tế của đất nước khi chúng ta duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế hành chính quan liêu bao cấp gây nên tình trạng trì trệ của nền kinh tế, không kích thích được phát triển sản xuất, ảnh hưởng tiêu cực về tâm lý xã hội, đồng thời ảnh hưởng lớn đến các mặt của đời sống, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã có những ý kiến phát biểu sâu sắc về việc sửa đổi cơ chế quản lý kinh tế, về chính sách phân phối, lưu thông về phân cấp công tác quản lý kinh tế. Dành nhiều tâm huyết nghiên cứu các vấn đề kinh tế, chuẩn bị nội dung các hội nghị bàn về kinh tế của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, đồng chí đã kiến nghị về những biện pháp để tháo gỡ khó khăn của nền kinh tế và xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp. Những ý kiến tâm huyết của đồng chí đã đóng góp quan trọng vào những kết luận của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, trở thành tiền đề quan trọng cho những chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng.

Trong lúc Đảng và đất nước đang rất cần những nhà lãnh đạo có nhiều kinh nghiệm với tinh thần đổi mới và sáng tạo, ngày 20/4/1985, do tuổi cao, bệnh nặng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã từ trần tại bệnh viện Quân y Hà Nội, hưởng thọ 75 tuổi.

Tấm gương đạo đức sáng ngời 

Có thể nói, trong những năm tháng kháng chiến, thời kỳ hoạt động vô cùng gian khó, thiếu thốn, đồng chí Nguyễn Duy Trinh là một nhà hoạt động cách mạng kiên trung, một lòng tận tụy, tận trung với nước, tận hiếu với dân, sẵn sàng hi sinh bản thân vì nền độc lập của dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân, gần dân, gắn bó mật thiết với nhân dân.

Khi cách mạng thành công, Đảng trở thành đảng cầm quyền, trở thành một lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, đồng chí Nguyễn Duy Trinh lại càng tỏa sáng những phẩm chất đạo đức cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy, trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, yêu thương con người, tinh thần quốc tế trong sáng. Dù ở chức vụ cao, đồng chí luôn có lối sống giản dị, thanh bạch, chan hòa, tấm lòng rộng mở, chân tình, thương yêu cán bộ, quý trọng bạn bè, gần gũi nhân dân. Trong công việc, đồng chí không lấy quyền uy áp đặt quan điểm của mình đối với cấp dưới mà thường ôn tồn thuyết phục, luôn phát huy dân chủ, quý trọng mọi tài năng, dùng người đúng việc, không có thành kiến thiên lệch, sẵn sàng giúp đỡ mọi người…

Những công lao to lớn của đồng chí Nguyễn Duy Trinh được Đảng, Nhà nước, nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận. Đồng chí vinh dự được tặng thưởng Huân chương Sao vàng; Huân chương kháng chiến hạng Nhất; Huân chương kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất và nhiều huân chương, huy chương cao quý khác.

Viết về đồng chí Nguyễn Duy Trinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người đồng chí người bạn thân thiết đã cùng nhau làm việc trong một thời gian dài trong cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, khẳng định: "Tấm gương chiến đấu và phẩm chất cách mạng, đức tính khiêm tốn và tình thương yêu chân thành đối với đồng chí, đồng bào của anh đã để lại cho chúng ta nhiều tình cảm tốt đẹp và sâu sắc"(2).

Chú thích

1. Chính sách bốn điểm bao gồm: Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lược nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không để lãnh thổ của mình cho bất cứ nước nào dùng làm căn cứ xâm lược nước khác trong khu vực, thiết lập quan hệ hữu nghị, láng giềng tốt; phát triển hợp tác vì sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, vì độc lập dân tộc, hòa bình, trung lập ở Đông Nam Á.

2. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Nhớ anh Nguyễn Duy Trinh" in trong Nguyễn Duy Trinh - Hồi ký và tác phẩm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.107.

 

 

Đoàn Mạnh Tiến

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù bận trăm công nghìn việc vẫn dành sự quan tâm đặc biệt đối với thương binh liệt sĩ và gia đình liệt sĩ. Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về thương binh liệt sĩ, gia đình liệt sĩ toát lên những nét nhân văn cao đẹp. Tư tưởng ấy bao gồm những nội dung cụ thể sau đây:

Trước hết, Người luôn luôn có ý thức tôn vinh và khẳng định một cách hùng hồn đức hi sinh cao cả, anh dũng của những người liệt sĩ thương binh. Trong nhiều bài viết, bài nói, trong những bức thư gửi quần chúng nhân dân, đầu tiên bao giờ Người cũng khẳng định và nhấn mạnh rằng sở dĩ ngày nay toàn dân tộc được sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc là nhờ có sự hi sinh không tiếc máu xương của biết bao thế hệ liệt sĩ, thương binh: "Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt qua tất cả mọi khó khăn gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã truyền lại cho chúng ta" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 12 - trang 401). Rất nhiều lần Người đã ca ngợi, tôn vinh, trân trọng đức hi sinh, sự xả thân của các thương binh, liệt sĩ với những lời lẽ rất cảm động: "Khi giặc ngoại xâm ào ạt đến, nó như một trận lụt to. Nó sẽ đe dọa tràn ngập cả non sông, Tổ quốc. Nó đe dọa cuốn trôi cả tính mệnh, tài sản… của dân ta. Trước cơn nguy biến ấy, các thanh niên yêu quý của nước ta đã dũng cảm xông ra trước mặt trận. Họ quyết đem xương máu của họ đắp thành một bức thành đồng, một con đê vững để ngăn cản nạn ngoại xâm tràn ngập Tổ quốc, làm hại đồng bào" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 10 - trang 203). Như vậy, Hồ Chí Minh đã đánh giá cao ý nghĩa và giá trị của sự hi sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, của các liệt sĩ, thương binh. Ta thấy rõ Hồ Chí Minh là tấm gương sáng trong việc thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ người trồng cây" của dân tộc Việt Nam.

Thứ hai, Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định tính tất yếu phải làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ, tính tất yếu của việc phải thể hiện tốt đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc.

Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định rõ ràng: "Công tác thương binh, liệt sĩ là một trong những hình thức xây dựng trong lòng nhân dân "những tượng đài tưởng niệm" công ơn và sự hi sinh to lớn, cao cả của những người con ưu tú đã không tiếc máu xương xả thân cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân, để từ đó, các thế hệ kế tiếp mãi mãi ghi nhớ" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 5 - trang 79). Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh vì sao phải làm như vậy: "Bởi vì thương binh, liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, nhân dân. Họ đã quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Vì vậy bổn phận của chúng ta là phải biết ơn các thương binh, liệt sĩ. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, toàn Đảng, toàn dân cũng phải luôn ghi nhớ công ơn của các thương binh, liệt sĩ, những người đã hi sinh tính mệnh của mình hoặc bỏ lại một phần xương máu của mình trên chiến trường để cho đất nước được tự do, độc lập" (Thư gửi đồng bào cả nước nhân ngày thương binh liệt sĩ đầu tiên 27/7/1947).

Đó là tư tưởng nhất quán thể hiện rõ trong các bức thư, các bài viết của Người: "Liệt sĩ là người đã quyết hi sinh tính mệnh của mình để giữ gìn tính mệnh cho nhân dân. Thương binh là những người đã hi sinh một phần cơ thể của mình để bảo vệ non sông. Vì thế mà họ phải chịu què quặt, ốm yếu. Đồng bào chúng ta phải có nghĩa vụ, trách nhiệm đền đáp lại sự hi sinh đó. Bởi vậy, "đền ơn đáp nghĩa là việc tất yếu chúng ta phải làm" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 7 - trang 213). Qua đó ta thấy nét nhân văn trong tư tưởng của Hồ Chí Minh không chỉ là sự tiếc thương mà còn là sự tự hào về tinh thần anh dũng, bất khuất của các thương binh, liệt sĩ. Sự hi sinh của họ đã làm hồi sinh sức sống của cả dân tộc. Chính Hồ Chí Minh đã khẳng định sự hi sinh đó càng thêm cao đẹp bằng cách gắn sự hi sinh đó vào ý thức của những người còn sống về nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đối với những người đã hi sinh cho Tổ quốc, trên cơ sở đó, những người còn sống thấy rõ sự tất yếu, sự đương nhiên của việc phải đền ơn đáp nghĩa.

Thứ ba, với lòng trân trọng và lòng tiếc thương vô hạn, Hồ Chí Minh luôn luôn coi thương binh, liệt sĩ như con cháu ruột thịt của mình, coi nỗi đau, nỗi mất mát khi người liệt sĩ hi sinh là nỗi mất mát của chính bản thân mình.

Cứ mỗi lần nghe tin thanh niên hi sinh trên chiến trường là người cảm thấy như chính bản thân mình mất đi một phần cơ thể. Như khi nghe tin anh Vũ Văn Thành, con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng (Giám đốc Sở Y tế Bắc bộ) hi sinh (1947), mặc dù đang rất bận công việc lãnh đạo, kháng chiến, Người vẫn tranh thủ gửi thư thăm hỏi với những lời rất cảm động: "Tôi không có gia đình, tôi không có con cái. Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi, thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất đi một thanh niên, thêm một liệt sĩ là tôi coi như mình mất đi một đoạn ruột" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 7 - trang 112). Sau này ông Vũ Đình Tụng có kể lại rằng: "Đọc xong thư của Bác, tự nhiên tôi thấy nỗi đau thương và sự mất mát của gia đình tôi trở thành nhỏ bé trong tình thương mênh mông của Bác. Tôi biết mình sẽ phải làm gì để xứng đáng với sự hi sinh của con tôi và để khỏi phụ tấm lòng của Bác".

Không những thế, nhiều lần Người đã nói những lời lẽ đầy cảm động và thông cảm, chia sẻ: "Những ngày họ chưa hi sinh, con của họ còn là con thơ, vợ của họ còn là vợ dại, nhưng khi họ trở thành liệt sĩ thì con thơ trở thành con côi, vợ dại trở thành vợ góa, và trên bàn thờ của gia đình từ đây thêm một tấm hình liệt sĩ. Thưa toàn thể đồng bào! Của cải mất đi còn có thể lấy lại được nhưng chân tay mất đi không thể mọc lại được và những liệt sĩ không thể nào sống lại. Vì vậy, tôi mong đồng bào hãy thương lấy các thương binh và các gia đình liệt sĩ" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 8 - trang 119).

Điều đặc biệt cảm động là ngày 7/11/1946, Bác đã ra "Thông báo về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi của mình". Và tiếp đó nhất trí chọn ngày 27/7 hàng năm làm "ngày thương binh, liệt sĩ" (bắt đầu từ 27/7/1947).

Thứ tư, Hồ Chí Minh đã chỉ ra cách làm, phương pháp tiến hành, phương thức tiến hành thực hiện công tác thương binh, liệt sĩ.

Hồ Chí Minh đã vạch rõ rằng: "Công tác thương binh, liệt sĩ không giống như những công tác bình thường mà một loại công tác xã hội đặc biệt. Chính sách đối với thương binh, liệt sĩ là một loại chính sách xã hội đặc biệt, đó không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ mà còn là vấn đề lương tri, tình cảm, đó là một nét nhân văn trong đạo lý sống, trong văn hóa ứng xử, trong đạo lý sống của con người Việt Nam, công tác này phải thu hút được sự tham gia của mọi ngành, mọi giới, mọi lứa tuổi trong xã hội" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 5 - trang 216). Người khẳng định rằng Đảng Cộng sản Việt Nam phải là người khởi xướng tổ chức, lãnh đạo công tác này thông qua hệ thống các chủ trương, đường lối, chính sách, công tác này không được dừng lại ở những hô hào, kêu gọi chung chung mà phải được thể chế hóa thành luật, thành văn bản dưới luật và phải thể hiện bằng những việc làm cụ thể. Bản thân Người chỉ trong vòng 8 tháng (từ tháng 2/1947 đến tháng 10/1947) đã ký liên tiếp 3 sắc lệnh về công tác thương binh, liệt sĩ: Sắc lệnh số 20 (16/2/1947) quy định tiền hưu, thương tật, tiền tuất cho thân nhân liệt sĩ; Số 58 (6/6/1947) thưởng Huân chương cho các tập thể, cá nhân có công với nước; Số 11 (3/10/1947) thành lập các Sở Thương binh trong cả nước.

Trên đây, chúng tôi đã trình bày những vấn đề chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thương binh, liệt sĩ. Có thể nói, trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn luôn dành những tình cảm đặc biệt đối với thương binh, liệt sĩ, gia đình liệt sĩ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thương binh, liệt sĩ vẫn mãi mãi là bài học quý giá đối với tất cả chúng ta.

 

PGS.TS Đào Khang

Tóm tắt

"Lệ làng" bao gồm phong tục, tục lệ, tập quán,… được thể hiện trong hương ước của làng, có mối quan hệ mật thiết với công cuộc xây dựng nông thôn mới (NTM). Thế nhưng 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và 8 giải pháp Hướng dẫn tiếp tục thực hiện cuộc vận động lại không có tiêu chí nào liên quan trực tiếp đến "lệ làng"; và ở Nghệ An, rất ít làng còn giữ được hương ước.

Việc điều chỉnh bộ tiêu chí là rất khó khăn, phức tạp. Tuy nhiên, nếu có hương ước, trong đó có lồng ghép các tiêu chí xây dựng NTM thì việc thực hiện (của người dân trong làng xã) sẽ thuận lợi và công tác đánh giá kết quả xây dựng NTM (của chính quyền) sẽ nhanh chóng và chính xác hơn.

Bài viết trình bày khái quát vai trò của phong tục, tục lệ của làng trong bảo vệ bản sắc văn hóa Việt, trong quản lý tổ chức lãnh thổ nông thôn và đề xuất xây dựng hương ước có lồng tiêu chí xây dựng NTM nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng NTM ở Nghệ An.

1. Đặt vấn đề

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên những thành tựu đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất nước để phát triển một nền kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại.

Từ thực tế đó, Chính phủ Việt Nam đã có cuộc vận động xây dựng nông thôn mới (NTM) với mục tiêu "kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao".

Cuộc vận động được toàn bộ hệ thống chính trị - xã hội từ Trung ương đến địa phương, nhiều bộ, ban ngành trong cả nước triển khai thực hiện quyết liệt:

Ngày 5/8/2008 Chính phủ Việt Nam xây dựng "Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới"(1).

Ngày 4/6/2010, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020"(2).

Ngày 16/8/2016, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020"(3).

Ngày 27-29/5/2020 Hội nghị toàn quốc hệ thống Văn phòng Điều phối nông thôn mới năm 2020 được tổ chức tại tỉnh Quảng Trị(4) và tại nhiều địa phương khác, thời điểm khác.

Sau 10 năm triển khai, công cuộc xây dựng NTM đã "đạt và vượt các mục tiêu đề ra trước gần 2 năm, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước"(5)(Quang Huy, 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020: kết quả và bài học kinh nghiệm (Báo Dân vận, thứ ba, 12/5/2020 8:57'(GMT+7).

Ở Nghệ An, công tác xây dựng NTM thực sự trở thành sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân; được cả hệ thống chính trị đồng lòng, chung sức thực hiện. Kết quả 10 năm xây dựng NTM, Nghệ An đã tạo ra một diện mạo nông thôn mới, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Với những bước tiến vượt bậc, Nghệ An vươn lên đứng thứ 5 trong cả nước về xây dựng NTM(6).

Một đặc điểm của bộ tiêu chí quy định đạt chuẩn NTM là chú trọng nhiều đến giá trị vật thể của kiến trúc làng - nông thôn. Còn giá trị phi vật thể, trong đó có phong tục, tục lệ,… chỉ được lồng ghép trong các tiêu chí văn hóa, giáo dục, hệ thống tổ chức chính trị và tiếp cận pháp luật,… mà không có tiêu chí riêng.

Đặc điểm đó của bộ tiêu chí dẫn đến sự hạn chế đóng góp của phong tục, tục lệ của làng vào xây dựng NTM và xây dựng NTM có thể ảnh hưởng đến phong tục, tục lệ của làng ở Việt Nam nói chung, ở Nghệ An nói riêng.

Nên chăng, trong tiến trình xây dựng NTM, cần quan tâm đến tiêu chí phi vật thể như phong tục, tục lệ của làng - xã, đồng thời có biện pháp bảo tồn và phát huy vai trò của phong tục, tục lệ của làng vào xây dựng NTM. Một trong những biện pháp đó là thôn bản làng xã cần có hương ước và người dân thực hiện nghiêm hương ước như ông cha ta đã từng làm.

2. Vai trò của phong tục, tục lệ của làng

Phong tục là những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày.

Tục lệ là những quy định có từ lâu đời, đã trở thành thói quen trong đời sống xã hội.

Phong tục, tục lệ có thể phổ biến ở cấp quốc gia hay địa phương. Có phong tục, tục lệ có ý nghĩa tích cực cần gìn giữ (mỹ tục), có phong tục, tục lệ mang tính tiêu cực cần thay đổi, xóa bỏ (hủ tục).

Có ý kiến cho rằng ngày trước, cơ chế làng xã bền chặt với các phong tục, tục lệ của làng được thực hiện nghiêm đã góp phần quan trọng chống lại chính sách đồng hóa của ngoại bang, bảo vệ bản sắc văn hóa Việt và quản lý tổ chức lãnh thổ nông thôn Việt Nam phát triển bền vững.

Ngày nay, trong tiến trình xây dựng NTM, phong tục, tục lệ của làng vẫn có những đóng góp nhất định. Xây dựng NTM cũng có nhiệm vụ bảo tồn, sửa đổi phong tục, tục lệ của làng cho phù hợp với pháp luật của Nhà nước, phương hướng, nhiệm vụ của cuộc vận động, đặc điểm của địa phương. Các nội dung này cần đưa vào hương ước thôn bản làng xã.

2.1. Phong tục, tục lệ của làng góp phần chống lại chính sách đồng hóa của ngoại bang

Thời cổ, nền văn hóa Hán ngữ của Trung Quốc từng có sức đồng hóa rất mạnh. Dân tộc Hồi ngày xưa dùng chữ A Rập, sau khi giao lưu với người Hán đã dùng chữ Hán và nói tiếng Hán. Dân tộc Mãn sau khi chiếm Trung Quốc, lập ra nhà Thanh đã kiên quyết đồng hóa dân tộc Hán, trong đó có việc bắt bỏ chữ Hán, chỉ dùng chữ Mãn,… Tuy nhiên, chưa đến giữa đời Thanh thì tiếng Mãn, chữ Mãn đều biến mất. Người Mãn chỉ dùng tiếng Hán và chữ Hán. Họ bị đồng hóa ngược bởi chính nền văn hóa Hán.

Thế nhưng sau hơn ngàn năm bị bọn phong kiến người Hán thống trị và cưỡng bức đồng hóa, dân tộc Việt Nam vẫn không bị Hán hóa.

Nhiều quốc gia trên thế giới, sau khi bị các đế quốc châu Âu chiếm làm thuộc địa, đã bị đồng hóa ngôn ngữ. Thường thì sau 5 - 6 thế hệ (mỗi thế hệ khoảng 25 năm), ngôn ngữ của người bản xứ bị thay bằng ngôn ngữ của nước cai trị. Các nước châu Mỹ La tinh nói tiếng Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Nhiều quốc gia châu Phi (Benin, Togo, Senegan…) nói tiếng Pháp. Hoa Kỳ, New Zeeland, Australia,… dùng tiếng Anh.

Ở Việt Nam, từ năm 1918, bắt đầu dạy tiếng Pháp ở lớp cuối Tiểu học. Sau đó học sinh Trung học cơ sở trở lên đến trường chỉ nói tiếng Pháp, giáo viên chỉ dạy bằng tiếng Pháp… Vậy nhưng, Việt Nam chỉ nằm trong Cộng đồng Pháp ngữ mà không lấy tiếng Pháp làm quốc ngữ. Không nhiều dân tộc trên thế giới làm được điều này.

Để có được kỳ tích đó, ngoài yếu tố nhân dân ta giàu lòng yêu nước, tính tự lực tự cường và tinh thần dân tộc cao,… thì một nguyên nhân rất quan trọng là: xã hội Việt Nam từ xưa đã có cơ chế làng xã bền chặt, được quản lý không chỉ "phép vua" mà còn có cả "lệ làng" bao gồm cả phong tục, tục lệ,… của làng được ghi rõ trong hương ước.

2.2. Vai trò của phong tục, tục lệ của làng trong việc quản lý tổ chức lãnh thổ nông thôn

Nông thôn là vùng lãnh thổ (thôn/làng) của cộng đồng dân cư sinh sống chủ yếu bằng một nghề (nông). Nông thôn là địa bàn phát triển sản xuất của ngành nông nghiệp, là môi trường sống của người nông dân trong các làng.

Làng ở Việt Nam được hình thành rất sớm, từ khi mới lập nhà nước Âu Lạc, suốt thời đại Hùng Vương, các triều đại phong kiến, chế độ thực dân… cho đến tận ngày nay.

Ở nông thôn Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng, người trong làng có mối quan hệ với nhau về tình là dựa theo huyết thống (một giọt máu đào hơn ao nước lã) và láng giềng (bán anh em xa mua láng giềng gần); về lý là dựa vào phong tục, tục lệ - hương ước hay lưu chiếu văn (lệ làng được ghi bằng văn bản) và luật tục (lệ làng được quy định bằng lời nói) quy định cách ứng xử của các thành viên trong làng.

Quá trình hình thành và phát triển của văn hoá pháp lý Việt Nam, "phép vua/luật nước và lệ làng/hương ước luôn là hành trang pháp lý song hành trong mọi thăng trầm của đất nước. Các vương triều Việt Nam đã xây dựng và thực thi nhiều bộ luật lớn (Hình thư triều Lý, Hình thư triều Trần, Quốc triều Hình luật triều Lê, Hoàng triều luật lệ triều Nguyễn) vẫn duy trì, tôn trọng lệ làng, coi đó là công cụ điều chỉnh - duy trì quan hệ giữa quốc gia và cộng đồng làng xã.

2.3. Phong tục, tục lệ của làng trong xây dựng nông thôn mới

2.3.1. Phong tục, tục lệ của làng chưa được thể hiện đầy đủ trong bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

Làng ở nông thôn Việt Nam từng được coi như một quốc gia thu nhỏ với một "luật pháp riêng". Mỗi làng như là một "triều đình riêng" với hội đồng kỳ mục là cơ quan lập pháp, lý dịch là cơ quan hành pháp,... Sự can thiệp của nhà nước phong kiến, và sau này của chế độ thực dân không làm ảnh hưởng nhiều đến tổ chức làng xã, thậm chí có khi "phép vua thua lệ làng".

Trong cuộc vận động xây dựng NTM, phép vua chính là chủ trương/bộ tiêu chí xây dựng NTM, lệ làng bao gồm phong tục, tục lệ, tập quán,… của làng, có mối quan hệ mật thiết với công cuộc xây dựng NTM.

Tuy nhiên, "phép vua" với 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới(7) (mỗi tiêu chí lại được các địa phương cụ thể hóa thành nhiều tiêu chí nhỏ hơn: Quảng Bình: 39; Bến Tre 49; Miền núi Nghệ An 15 tiêu chí lớn, 39 tiêu chí cụ thể(8)) và 8 giải pháp Hướng dẫn tiếp tục thực hiện cuộc vận động(9), thì không có tiêu chí nào liên quan trực tiếp đến "lệ làng". Vì vậy, các báo cáo kết quả thực hiện xây dựng NTM của các địa phương không thể hiện rõ vai trò/đóng góp của "lệ làng".

Việc bổ sung, điều chỉnh bộ tiêu chí xây dựng NTM là rất khó khăn, phức tạp. Tuy nhiên, có thể bổ sung một số biện pháp liên quan đến "lệ làng" nhằm thực hiện hiệu quả hơn công cuộc xây dựng NTM.

2.3.2. Biện pháp nâng cao hiệu quả xây dựng NTM liên quan đến phong tục, tục lệ của làng ở Nghệ An

Đối với một nước nông nghiệp, làng là gốc của đất nước. Hoạt động xây dựng NTM với bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban hành chủ yếu là cho các làng và thực hiện ở các làng.

Ở Nghệ An, làng ở đồng bằng, bản ở miền núi là môi trường văn hoá pháp lý để phát huy hiệu lực của bộ tiêu chí về NTM trong mối quan hệ bảo lưu các nét đặc trưng lối sống cộng đồng dân cư nông thôn của một tỉnh có nền kinh tế thiên về nông nghiệp. Phong tục, tục lệ của làng bản cần được vận dụng như là phương tiện hỗ trợ chuyển tải các tiêu chí xây dựng NTM vào cụ thể từng thôn bản làng xã. Nói cách khác, để cuộc vận động xây dựng NTM đi vào thực tiễn, các tiêu chí phải tìm cách hoá thân vào các quy định của lệ làng/hương ước, thông qua phong tục, tục lệ,… của làng bản.

Theo cố PGS Ninh Viết Giao, các hương ước ở Nghệ An (còn giữ lại được) về cơ bản đều thể hiện ý thức hệ Nho giáo. Đó là các quy định về "tam cương, ngũ thường", về "tôn ti trật tự" trong các quan hệ có tính thứ bậc trong làng xã.

"Thứ bậc" trong hương ước mới, về cơ cấu có thể vận dụng thành các tổ chức đoàn thể Đảng, Đoàn, kể cả Phụ lão, Thiếu niên, Nhi đồng, Nhi ấu; các hội Phụ nữ, Cựu chiến binh, Khuyến học, Hội đồng gia tộc trong các họ, Trưởng thôn ở khu vực đồng bằng; Già làng, Trưởng bản ở khu vực miền núi.

Một trong những biện pháp có thể bổ cứu, cụ thể hóa tiêu chí xây dựng NTM chung cho các địa bàn ở Nghệ An (ven biển, đồng bằng, miền núi) là hoàn thiện bộ hương ước (đối với những nơi còn giữ được hương ước của tổ tiên) hoặc xây dựng hương ước mới (đối với những nơi bị mất hương ước).

Hương ước là một phần lệ làng được văn bản hóa, phản ánh trung thực, cụ thể và sinh động những quy định mang nét đặc trưng của làng. Sự phát triển ổn định hàng ngàn năm nay của nông thôn Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng không thể tách rời vai trò của hương ước và sự thực thi hương ước nghiêm minh của người xưa. Nếu xây dựng NTM có yếu tố hương ước thì hiệu quả sẽ rất cao. Ví dụ:

Trong bộ tiêu chí NTM, tiêu chí 17. Môi trường, có 2 mục nhỏ luôn có trong hương ước làng xã trước đây:

- Mục 17.3. Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường... Trong các hương ước luôn có khoản "không ai được vi phạm cây cối của làng". Thực tế là ngày xưa không ai dám động đến cây đa hay bất cứ cái cây nào của làng (Ngày nay cây "quốc cấm" như cây sưa ngay giữa thủ đô Hà Nội cũng bị chặt). Nếu có hương ước, trong đó có điều khoản "cấm vi phạm cây xanh của làng" thì tất cả các làng đều nghiễm nhiên đạt tiêu chí này.

- Mục 17.5. Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định. Tiêu chí này hiện nay rất khó thực hiện ở phạm vi làng xã. Ngày trước trong hương ước có điều khoản "cấm vi phạm nguồn nước" được dân làng bản thực hiện rất nghiêm. Thậm chí phụ nữ ngày kinh nguyệt cũng tự biết mà không đến nơi có nguồn nước của làng bản (Ngày nay người dân sẵn sàng vứt cả gia súc, gia cầm chết vì dịch bệnh ra mương máng, ao hồ trong làng). Nếu có hương ước, trong đó có điều khoản "cấm xả các loại chất thải chưa được xử lý theo tiêu chuẩn ra môi trường" thì tất cả các làng đều nghiễm nhiên đạt tiêu chí này.

Người dân nông thôn Nghệ An trước đây ít được học hành so với ngày nay nhưng thực hiện "luật nước" nghiêm hơn ngày nay vì họ đã quen với việc chấp hành các điều khoản trong hương ước. Khi người dân chưa kịp quen với "luật nước" thì trước hết nên để họ thực thi hương ước (Chưa kể nhiều bộ luật của Việt Nam còn chưa thật hoàn thiện. Từ nhiều năm nay, mỗi năm Quốc hội họp 2 kỳ, mỗi kỳ họp trên dưới 1 tháng, kỳ nào cũng có nội dung bổ sung, sửa đổi luật).

Ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, rất nhiều làng còn giữ được đầy đủ hương ước của tổ tiên (như hương ước làng Thổ Khối, tổng Cự Linh, huyện Gia Lâm, Hà Nội; hương ước làng Phú Cốc (Hà Tây cũ) còn có cả bản gốc(10). Trong tác phẩm "Hương ước trong làng xã đồng bằng Bắc bộ nửa đầu thế kỷ XX" của Vũ Duy Mền và Trịnh Thị Hà, có tham khảo hương ước của 25 làng(11).

Ở Nghệ An hiếm làng còn giữ được hương ước xưa của tổ tiên. 

Xây dựng và/hoặc hoàn thiện hương ước là rất cần thiết. Các chi tiết trong hương ước sẽ khác xưa nhưng điều khoản thi hành thì phải nghiêm như ngày xưa. Nội dung hương ước nằm trong khuôn khổ pháp luật và mang đặc điểm riêng của mỗi bản làng.

Nếu hương ước có lồng tiêu chí xây dựng NTM thì hiệu quả thực hiện của làng xã sẽ cao và công tác theo dõi, đánh giá, nghiệm thu của chính quyền sẽ nhanh chóng, chính xác hơn. Nhưng quan trọng hơn cả là hạn chế được các hiện tượng, hành vi sai trái của người dân.

Cần lưu ý là: để hương ước được thực thi hiệu quả, cần tăng thêm trách nhiệm, quyền hạn và quyền lợi cho trưởng thôn.

Thời phong kiến, lý trưởng (tương đương trưởng thôn ngày nay) có quyền cấp đất (ngang quyền hạn của chủ tịch huyện ngày nay), có quyền ra lệnh trói, đánh, làm nhục người có tội (bất cứ chức vụ gì hiện nay cũng không được làm). Quyền của trưởng thôn và ban cán sự thôn ngày nay không thể như quyền của lý trưởng và hội đồng kỳ mục thời phong kiến. Nhưng nếu trưởng thôn ngày nay gần như không có quyền hạn gì thì hương ước của làng sẽ giảm hiệu lực; tác dụng của hương ước sẽ không cao.

3. Kết luận

Ngày trước, cơ chế làng xã bền chặt và toàn dân thực hiện nghiêm hương ước đã góp phần tạo nên thành tựu vĩ đại rất đáng tự hào của dân tộc ta là không bị ngoại bang đồng hóa mà hoàn cảnh nào cũng giữ được bản sắc văn hóa Việt.

Sự phát triển bền vững hàng ngàn năm qua của dân tộc Việt Nam, một phần cũng nhờ vào sự quản lý lãnh thổ nông thôn bằng hương ước, phong tục, tục lệ.

Để công cuộc xây dựng NTM được thực thi thuận lợi (phía nông dân) và việc giám sát, đánh giá được nhanh chóng, chính xác (phía cơ quan quản lý), các làng bản ở Nghệ An, còn giữ được hay đã mất hương ước, cần xây dựng, hoàn thiện hương ước, công cụ hữu ích cho nhiều mục đích, trong đó có công cuộc xây dựng NTM.

 

Chú thích

1. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.

2. Cổng thông tin điện tử nước CHXHCNVN ngày 4/6/2010. Quyết định số 800/QĐ-TTg.

3. Thư viện pháp luật 10/11/2017. Quyết định số 1760/QĐ-TTg.

4. Cổng thông tin điện tử Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới. 30/5/2020).

5. Quang Huy, 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020: kết quả và bài học kinh nghiệm (Báo Dân vận. Thứ Ba, 12/5/2020 8:57'(GMT+7).

6. Đ.A. Một số kết quả nổi bật sau 10 năm xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An. nghean.dcs.vn. 22/10/2019.

7. 19 tiêu chí: 1. Quy hoạch và thực hiện quy hoạch; 2. Giao thông; 3. Thủy lợi; 4. Điện; 5. Trường học; 6. Cơ sở vật chất văn hóa; 7. Chợ nông thôn; 8. Bưu điện; 9. Nhà ở dân cư; 10. Thu nhập; 11. Hộ nghèo; 12. Cơ cấu lao động; 13. Hình thức tổ chức sản xuất; 14. Giáo dục; 15. Y tế; 16. Văn hóa; 17. Môi trường; 18. Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh; 19. An ninh, trật tự xã hội.

8. UBND tỉnh Nghệ An, Bộ tiêu chí thôn, bản miền núi đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2017 - 2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số: 2337/QĐ-UBND ngày 01/6/2017).

9. 8 giải pháp là: 1. Tiếp tục thực hiện cuộc vận động xã hội sâu rộng về xây dựng nông thôn mới; 2. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách; 3. Đa dạng hóa các nguồn vốn huy động để thực hiện Chương trình; 4. Cơ chế phân bổ, giám sát và theo dõi các nguồn vốn thực hiện Chương trình; 5. Cơ chế hỗ trợ; 6. Cơ chế đầu tư; 7. Hợp tác quốc tế trong xây dựng nông thôn mới; 8. Điều hành, quản lý Chương trình.

10. Bùi Xuân Đính, Hương ước về quản lý làng xã, NXB Khoa học Xã hội, H. 1998 (Dẫn theo Lê Minh Thông. Luật nước và hương ước lệ làng trong đời sống pháp lý của các cộng đồng làng xã Việt Nam. VNH3.TB7.851).

11. Vietnam Citation Gateway (V-CitationGate). Truy cập tháng 6/2020.

 

Tài liệu tham khảo

1. Bùi Xuân Đính, Hương ước về quản lý làng xã, NXB Khoa học Xã hội, H. 1998,

2. Đ.A, Một số kết quả nổi bật sau 10 năm xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An. nghean.dcs.vn. 22/10/2019.

3. Cao Xuân Huy: Tư tưởng phương Đông - Gợi những tầm nhìn tham chiếu, Nxb Văn học, Hà Nội 1995.

4. Quang Huy, 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020: kết quả và bài học kinh nghiệm (Báo Dân vận. Thứ Ba, 12/5/2020).

5. Lê Minh Thông, Luật nước và hương ước lệ làng trong đời sống pháp lý của các cộng đồng làng xã Việt Nam. VNH3.TB7.851. UBND tỉnh Nghệ An. Bộ tiêu chí thôn, bản miền núi đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2017 - 2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số: 2337/QĐ-UBND ngày 01/6/2017).

Nguyễn Hồ Lâm

Cùng với sự phát triển chung của làng nghề cả nước, các làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An cũng đang có sự chuyển mình mạnh mẽ, phù hợp xu thế hội nhập kinh tế, tạo động lực mới phát triển kinh tế nông thôn, góp phần quan trọng nâng cao thu nhập cho người dân, đẩy mạnh hiệu quả phong trào xây dựng nông thôn mới trên toàn tỉnh.

Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sự tồn tại và phát triển của các làng nghề, làng nghề truyền thống là tất yếu khách quan, xuất phát từ nhu cầu, đòi hỏi của đời sống và sản xuất. Thực tế phát triển các làng nghề ngày càng cho thấy những lợi thế, tiềm năng, vai trò và ý nghĩa tích cực của nó, bởi lẽ các làng nghề là nơi lưu trữ và thể hiện những nét riêng biệt của một nền văn hoá, giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc; góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, tăng thu nhập, giảm bớt tình trạng nghèo đói cho người dân địa phương; tạo ra sự phát triển hài hòa giữa sản xuất và bảo vệ môi trường; là một trong những yếu tố quan trọng thu hút sự tìm hiểu và khám phá của du khách trong và ngoài nước; ở mức độ rộng hơn, góp phần khẳng định vị thế của một quốc gia trong xu thế hội nhập toàn cầu, mà không mất đi bản sắc văn hóa của dân tộc.  

Sự tồn tại và phát triển của các làng nghề đã khẳng định vị thế và vai trò của nó trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội tại địa phương, là một trong những mục tiêu quan trọng để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, góp phần phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, đời sống của nhân dân và thực hiện hiệu quả nhóm tiêu chí "Kinh tế và tổ chức sản xuất" trong xây dựng nông thôn mới.

Sau 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, cũng như các chủ trương, chính sách về phát triển ngành nghề nông thôn, hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa,… và hơn 01 năm thực hiện chương trình OCOP "Mỗi xã một sản phẩm". Nhờ sự vào cuộc quyết liệt của toàn hệ thống chính trị, sự nỗ lực của các sở, ngành, địa phương, đặc biệt là sự đồng thuận hưởng ứng của nhân dân trong toàn tỉnh, ngành nghề nông thôn, HTX, doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh đã có bước phát triển đáng kể cả về quy mô và giá trị sản xuất. Đến nay, toàn tỉnh có 33.271 cơ sở ngành nghề nông thôn và 562 HTX nông nghiệp, thu hút 662.250 lao động tham gia, có 164 làng nghề  được công nhận giải quyết việc làm cho gần 25.000 lao động, thu nhập bình quân 4 - 4,5 triệu đồng/lao động/tháng; hiện có 182 sản phẩm của 156 tổ chức, cá nhân có thế mạnh để phát triển thành các sản phẩm OCOP; Giá trị sản xuất hàng năm mang lại khoảng 2.430 tỷ đồng. Năm 2019 qua đánh giá phân hạng sản phẩm OCOP toàn tỉnh có 48 sản phẩm đạt 3 sao trở lên, trong đó có 15 sản phẩm đạt 4 sao, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 45.000 lao động, với mức thu nhập bình quân 4,5-5 triệu đồng/tháng nhiều làng nghề chiếm 30% - 40% tỷ trọng giá trị sản xuất của thôn (bản), tiêu biểu như: Làng nghề Nước mắm hạ thổ Vạn phần, Hương trầm Liên Đức; Dệt thổ cẩm Châu Tiến, Làng nghề sản xuất Muối Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Thuận, An Hòa; Làng nghề chế biến hải sản Ngọc Văn... Đời sống của người dân làng nghề đã được nâng lên. Qua đó, đã góp phần quan trọng vào kết quả xây dựng nông thôn mới ở các địa phương, đến nay toàn tỉnh đã có 4 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn Nông thôn mới (Thái Hòa, Thành phố Vinh, Nam Đàn, Yên Thành), có 332/431 xã đạt tiêu chí số 10 về thu nhập, chiếm 77%; 356/431 xã đạt tiêu chí về tổ chức sản xuất chiếm 82,9%; có 318/431 xã đạt tiêu chí về hộ nghèo (chiếm 73,7%); có 395/431 xã đạt tiêu chí về lao động có việc làm (tiêu chí 12, chiếm 91,65%) góp phần từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần tích cực vào mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, đến nay toàn tỉnh có 265/431 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 61,5%.

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách tổng thể cho thấy thời gian qua sự phát triển các làng nghề nói chung làng nghề truyền thống nói riêng của tỉnh Nghệ An vẫn chưa phát huy được tiềm năng và lợi thế của nó, thể hiện rõ nhất là sự mai một và thậm chí biến mất của một số ngành nghề đã được cha ông gìn giữ từ hàng nghìn đời nay. Song song với đó là tình trạng manh mún, nhỏ lẻ, tự phát và lạc hậu trong hoạt động sản xuất; hậu quả là chất lượng của sản phẩm truyền thống chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, chưa hấp dẫn khách du lịch, khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường kém, tính ổn định của sản phẩm chưa cao và đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường của các làng nghề do một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất: Nhận thức của một số bộ phận cán bộ và nhân dân về phát triển ngành nghề nông thôn chưa toàn diện, mới thuần túy về phát triển kinh tế còn vai trò vị trí của làng nghề, làng nghề truyền thống trong việc bảo tồn và phát triển các làng nghề nhằm giữ gìn các giá trị văn hoá, khẳng định vị thế của địa phương, tạo việc làm, nâng cao mức sống, cải thiện môi trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhưng chưa được quan tâm đúng mức, nên thiếu tính đồng bộ trong quá trình thực hiện.

Thứ hai: Hiện nay chưa có các chính sách đủ mạnh để giữ gìn và phát triển các làng nghề nhất là chính sách cho đầu tư phát triển, chính sách đãi ngộ cho các nghệ nhân, lao động có tay nghề cao trong các làng nghề bởi: Nghệ nhân và lao động có tay nghề cao là tài sản quý của từng địa phương và của cả tỉnh mà ông cha để lại như: Tương Nam Đàn; Nhút Thanh chương; Dệt thổ cẩm; Nghề đan lát của người Khơ mú, Nghề chế biến dầu lạc Hưng Nguyên, Nghề chế biến bánh đa Đô Lương, Nghề chế biến nước mắm Quỳnh Dị…

Thứ ba: Việc đào tạo lao động có tay nghề cao, bảo vệ môi trường, ổn định đầu ra là ba vấn đề cốt lõi và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của từng cơ sở và người dân làng nghề để duy trì, phát triển bền vững làng nghề ở tỉnh ta, tạo ra bộ mặt đô thị hóa mới cho nông thôn, để nông dân "ly nông nhưng không ly hương" và làm giàu trên quê hương mình, cả trong hiện tại, cũng như trong tương lai. Tuy nhiên hiện nay chưa được quan tâm đúng mức nhất là đào tạo lao động có tay nghề cao, bảo vệ môi trường, ổn định đầu ra cho sản phẩm do vậy có sự mai một và thậm chí biến mất của một số ngành nghề truyền thống đã được cha ông gìn giữ từ hàng nghìn đời nay như: Nghề chạm khắc; Nghề trồng cói; Trồng dâu nuôi tằm; Trồng đay; Nghề đúc đồng; Nghề chế biến bánh đúc; Nghề nấu cao cỏ đị; Nghề sản xuất thuốc lào ….

Thứ tư: Thiếu sự liên kết chuỗi giá trị trong sản xuất để mở cửa và phát triển thị trường phù hợp, chưa chuyển từ sản xuất cho mình thành sản xuất hàng hóa bán cho thị trường, từ tự cung tự cấp sang sản xuất để bán. Bởi hiện nay hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu là hộ gia đình mang tính tự phát, thiếu quy hoạch, thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa người sản xuất với các nhà khoa học, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp và thị trường; chưa nắm bắt kịp nhu cầu thị trường; thị hiếu người tiêu dùng trong và ngoài nước, công tác xây dựng thương hiệu sản phẩm chưa được chú trọng...; hệ thống thông tin, quảng bá sản phẩm chưa đáp ứng nhu cầu phát triển nên xảy ra tình trạng manh mún, nhỏ lẻ, tự phát và lạc hậu trong hoạt động sản xuất. Hậu quả là chất lượng của sản phẩm truyền thống chưa đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng, chưa hấp dẫn khách du lịch, khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường kém.

Thứ năm: Sản phẩm làng nghề chưa chú trọng về chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng, và các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng sản phẩm, còn nặng về sản xuất theo số lượng chưa quan tâm đến chất lượng sản phẩm; Các sản phẩm ngành nghề nông thôn chưa gắn kết với du lịch và dịch vụ. Tính ổn định của sản phẩm chưa cao.

Thứ sáu: Thiếu mặt bằng để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường của các làng nghề, trong quy hoạch xây dựng nông thôn mới một số địa phương chưa dành quỹ đất để di dời một số làng nghề gây ô nhiễm ra khỏi khu vực dân cư. Bên cạnh đó nếu có mặt bằng thì vấn đề thủ tục hành chính và nguồn lực để di dời là một nội dung cần quan tâm.

Thứ bảy: Việc áp dụng và đổi mới công nghệ tại các cơ sở sản xuất còn chậm, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và giá thành, cũng như tính cạnh tranh của sản phẩm. Mối liên kết giữa các cơ sở sản xuất ngành nghề nông thôn với các nhà khoa học, nhà đầu tư và thị trường còn lỏng lẻo, chưa gắn bó chặt chẽ. Bên cạnh đó một số nguồn nguyên liệu đang dần cạn kiệt như (mây, nứa, lùng, gỗ...) nên sản phẩm của làng nghề truyền thống thường có giá thành cao.

Thứ tám: Việc huy động vốn để sản xuất chủ yếu là vốn tự có của các hộ làm nghề là chủ yếu, vốn vay tín dụng từ các ngân hàng thương mại hoặc hỗ trợ từ nhà nước còn hạn chế. Các hộ gia đình, HTX và doanh nghiệp về ngành nghề nông thôn vẫn còn gặp nhiều trở ngại trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng, chủ yếu cơ chế tín dụng và thủ tục vay.

Thứ chín: Thị trường tiêu thụ sản phẩm còn quá nhỏ hẹp, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc và quảng bá sản phẩm, hệ thống các ngành sản xuất hỗ trợ, nhất là trong các khâu sản xuất, khai thác và xử lý nguyên vật liệu phục vụ cho các loại ngành nghề dù đã được tăng cường vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển.

Thứ mười: Nguồn vốn đầu tư để mở rộng sản xuất kinh doanh còn hạn chế. Khả năng huy động vốn từ các tổ chức tín dụng để phát triển làng nghề còn thấp. Cơ chế quản lý và hoạt động sản xuất cũng theo kiểu tự phát nên các hộ làm nghề trong làng nghề chưa có sự gắn kết, dẫn đến kết quả sản xuất kinh doanh hiệu quả chưa cao.

Để làng nghề "cất cánh" cũng như đạt được các mục tiêu của chương trình xây dựng nông thôn mới, thì việc phát triển, nhân rộng các làng nghề, ngành nghề nông thôn hiện nay cần sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị, theo tôi các địa phương cần làm tốt một số nội dung sau đây:

- Chúng ta phải thống nhất nhận thức rằng việc phát triển làng nghề là chiến lược mang tính lâu dài nên không cần phải thúc ép thực hiện vấn đề, quan trọng hơn hết phải đặt ra lúc này là làm gì để phát triển các làng nghề truyền thống đúng hướng, thực chất và đảm bảo chất lượng, tránh tình trạng vàng thau lẫn lộn, hay cách làm hình thức.

- Các địa phương cần lựa chọn, xác định được ngành nghề có tiềm năng lợi thế để tập trung phát triển. Chú trọng công tác đào tạo, truyền nghề cho người lao động. Đặc biệt, cần khuyến khích thành lập các doanh nghiệp đầu mối, đảm nhận khâu tiêu thụ sản phẩm cho các hộ sản xuất.

- Tập trung giải quyết các vướng mắc khó khăn của các làng nghề hiện nay chính là mặt bằng sản xuất, đất chật người đông, làng nghề và các hộ làm nghề hầu hết là nằm đan xen trong khu dân cư nên mặt bằng sản xuất chật hẹp, không có điểm tập kết nguyên vật liệu phục vụ sản xuất. Chính khó khăn này đã khiến cho vấn đề môi trường của làng nghề khó được cải thiện làm ảnh hưởng đến thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới. Vì vậy cần được quy hoạch và xây dựng riêng một khu hoặc cụm tiểu thủ công nghiệp dành riêng cho các hộ làm nghề sản xuất hàng hóa, tạo thuận lợi cho công tác quản lý, xử lý ô nhiễm môi trường cũng như giao dịch thương mại sản phẩm hàng hóa.

- Quan tâm thị trường tiêu thụ sản phẩm, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc và quảng bá sản phẩm, hệ thống các ngành sản xuất hỗ trợ, nhất là trong các khâu sản xuất, khai thác và xử lý nguyên vật liệu phục vụ cho các loại ngành nghề dù đã được tăng cường vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển.

- Nguồn vốn đầu tư để mở rộng sản xuất kinh doanh cho các chủ thể. Khả năng huy động vốn từ các tổ chức tín dụng để phát triển làng nghề.

- Tăng cường hỗ trợ các làng nghề hoạt động sản xuất kinh doanh nhất là liên kết chuỗi giá trị để kết quả sản xuất kinh doanh hiệu quả cao.

Hy vọng rằng, với tiềm năng thế mạnh sẵn có của các làng nghề cùng sự đầu tư đúng hướng, những chính sách phù hợp sát thực tiễn, các làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An sẽ vượt qua được khó khăn thách thức hiện nay góp phần đưa Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới về đích theo đúng kế hoạch đề ra.

Trần Quốc Thành

Phát triển nông nghiệp là một định hướng lớn của Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng nhằm phát huy lợi thế của đất nước có truyền thống nông nghiệp và đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, đa dạng sinh học.

Trong những năm qua, Việt Nam cũng như Nghệ An đã xác định cây con chủ lực trên địa bàn để có chính sách khuyến khích phát triển và đã có những bước phát triển đáng kể góp phần vào tăng trưởng kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Nhất là góp phần tái cơ cấu nội ngành nông nghiệp nhằm nâng cao giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích đất. Một số sản phẩm đã có bước phát triển nhanh, có thương hiệu như bò sữa, cam…

Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn lại, chúng ta thấy việc phát triển sản phẩm chủ lực của Nghệ An trong lĩnh vực nông nghiệp kết quả còn  hạn chế. Sự đóng góp của các sản phẩm chủ lực được xác định chưa thực sự bứt phá, chưa góp phần xây dựng thương hiệu Nghệ An, thị trường còn hạn chế, nhiều sản phẩm khó đạt mục tiêu, chưa thúc đẩy mạnh mẽ tái cơ cấu ngành nông nghiệp; sản phẩm có giá trị gia tăng ít.

Vậy nguyên nhân từ đâu?

Trước hết, việc xác định cây chủ lực để khuyến khích, hỗ trợ đầu tư phát triển còn quá nhiều đối tượng. Nghệ An năm 2014 xác định 12 cây, 8 con với 21 chỉ tiêu là quá rộng. Trong khi đó Lâm Đồng xác định 4 đối tượng chủ lực (rau hoa, cà phê, chè và bò sữa); Quảng Trị xác định 8 đối tượng; Bắc Giang chọn 8 sản phẩm,… Vì xác định nhiều, trong khi nguồn lực yếu cho nên đầu tư và hỗ trợ đầu tư dàn trải, thiếu tập trung, thiếu kết nối giữa các nguồn lực (trong đó có nguồn lực khoa học), khó thu hút doanh nghiệp. Cũng vì khó thu hút doanh nghiệp nên khó kết nối chuỗi, chưa có nhiều sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm đầu ra giá thấp, bấp bênh, chất lượng không đồng đều, khó kiểm soát, năng lực cạnh tranh thấp.

Đất đai phần lớn do nông dân được cấp quyền sử dụng, diện tích nhỏ lẻ, khó đầu tư cơ giới, khó áp dụng kỹ thuật công nghệ mới, khó kết nối với doanh nghiệp. Nông lâm trường thì chưa phát huy được hiệu quả so với tiềm năng, lợi thế. Doanh nghiệp tiếp cận đất đai khó khăn.

Thị trường bị cạnh tranh không chỉ thế giới mà ngay cả trong nước, thông tin thị trường người dân chưa được tiếp cận thường xuyên. Hợp tác giữa doanh nghiệp và nông dân lỏng lẻo, thiếu tin cậy.

Cơ sở hạ tầng còn chưa đồng bộ, nhất là điện, logistic trong nông nghiệp. Tài chính trong nông nghiệp cũng gặp khó khăn, trong khi chính sách hỗ trợ phát triển còn nặng hỗ trợ đầu vào, ít hỗ trợ đầu ra (áp dụng tiêu chuẩn, hỗ trợ doanh nghiệp, xúc tiến thương mại...), thậm chí có chính sách nhưng thiếu nguồn lực thực hiện. hoặc quy trình thủ tục phức tạp không hấp dẫn doanh nghiệp tham gia.

Quản lý nhà nước về phân bón, giống, chất lượng,... còn hạn chế.

Chất lượng lao động trong ngành nông nghiệp chất lượng thấp. Thiếu nguồn nhân lực trẻ ở nông thôn. Trong khi hệ thống đào tạo chủ yếu là Đại học Vinh, còn hệ thống cao đẳng trung cấp cũng có đào tạo nhưng ít và nặng lý thuyết không hề có thực hành mà đào tạo nông nghiệp rất cần thực hành trên thực địa.

Từ những vấn đề trên chúng tôi xin đưa ra một số đề xuất như sau:

Thứ nhất: Trước hết cần rà soát lại danh mục các đối tượng sản phẩm chủ lực. Tiêu chí lựa chọn tập trung ưu tiên hai vấn đề chính là: Lợi thế so sánh và Cơ hội thị trường.

Cần thống nhất tiêu chí cơ bản để chọn:

+ Điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp để phát triển tốt, năng suất chất lượng cao (nếu có khác biệt càng tốt, thậm chí chỉ có thể sản xuất ở Nghệ An hoặc ít tỉnh).

+ Thuận lợi để phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển.

+ Có diện tích có thể mở rộng và sản lượng chiếm tỷ lệ đáng kể trong toàn quốc.

+ Có thể sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng.

+ Có cơ hội cao thâm nhập thị trường rộng cả trong và ngoài nước. Thậm chí có thể xác định được thị trường chủ đạo.

+ Có lợi thế cạnh tranh với các tỉnh bạn và các nước cùng sản xuất sản phẩm.

 Hiện nay trên cơ sở lợi thế so sánh và cơ hội thị trường, Bộ NN&PTNT xác định 13 đối tượng chủ lực quốc gia. Vậy trước hết, Nghệ An trên cơ sở xem xét thực tế về lợi thế của mình để tham gia vào chuỗi sản phẩm chủ lực quốc gia.

Do vậy, theo chúng tôi, hãy chọn các sản phẩm Nghệ An có ưu thế và có thể tham gia 6 đối tượng, đó là: cây ăn quả (gồm cây có múi, bơ); Cây chè các loại (bao gồm cả chè Shan, Olong và chè Hoa vàng); Thịt và trứng gia cầm (tập trung con gà); Tôm các loại; Thịt lợn; Gỗ và sản phẩm từ gỗ (bao gồm cả tre).

 Đồng thời cần xác định một số đối tượng là chủ lực của tỉnh mà chưa phải là sản phẩm chủ lực quốc gia gồm 3 đối tượng: Bò sữa và bò thịt; Mía và sản phẩm từ mía; Cây dược liệu và sản phẩm dược.

Bên cạnh đó, các huyện thành thị, trên cở sở sản phẩm chủ lực của tỉnh để chọn sản phẩm tham gia chuỗi, đồng thời cần xác định cây con đặc sản đặc trưng của mình để tham gia chương trình OCOP.

Từ đề xuất lựa chọn trên, cần có chiến lược so sánh lợi thế và cơ hội thị trường trên cơ sở dự báo để xác định thứ tự ưu tiên đối tượng hỗ trợ phát triển trước sau cho từng giai đoạn ngắn.

Thứ hai: Trên cơ sở đối tượng đã chọn, định hình vùng sản xuất tập trung cho từng đối tượng, quy định diện tích tối thiểu tham gia chuỗi để thuận lợi áp dụng khoa học kỹ thuật và chuyên môn hóa, cơ giới hóa. Ví dụ: bò sữa tập trung ở vùng Tây Bắc, bò thịt ở vùng Tây Nam; Cây ăn quả tập trung vùng trung du; dược liệu tập trung vùng núi thấp, núi cao, vv. Mỗi vùng, mỗi đối tượng cần có chủ trương chuyên môn hóa các khâu: giống, phân, canh tác, thu hoạch và chế biến sau thu hoạch, dịch vụ v..v. Hỗ trợ phát triển hạ tầng kỹ thuật, nhất là điện, giao thông và sơ chế, bảo quản... Và đặc biệt cần có doanh nghiệp chủ lực nhằm dẫn dắt cả vùng cho từng sản phẩm.

Thứ ba: Rà soát lại quỹ đất từng vùng đã xác định đối tượng để xây dựng vùng tập trung, tiến hành chuyển đổi đất khi có người dân trong vùng không có nhu cầu canh tác đối tượng chọn. Hỗ trợ mô hình hợp tác giữa doanh nghiệp với nông dân thông qua hợp tác xã chuyên ngành với sự phân công trách nhiệm và phân chia lợi ích hợp lý. Ưu tiên một phần diện tích quy hoạch của vùng cho doanh nghiệp chủ lực thông qua tích tụ đất. Cần kiến nghị Chính phủ thực hiện thuế đất nông nghiệp nhằm hỗ trợ tích tụ ruộng đất tránh lãng phí nguồn lực.

Thứ tư: Mỗi sản phẩm cần xác định rõ thị trường chiến lược dù đó là thị trường trong hay ngoài nước để có giải pháp xúc tiến thương mại, chiến lược sản phẩm phù hợp.

Thứ năm: Ngành NN&PTNT cần phân tích chuỗi giá trị từng đối tượng sản phẩm để từ đó tham mưu xây dựng chiến lược tác động khoa học kỹ thuật hay chính sách hỗ trợ, tham mưu điều phối các nguồn lực từ chính sách, kinh phí sự nghiệp khoa học, khuyến nông, thương mại và kinh phí sự nghiệp của các chương trình mục tiêu, đầu tư công… nhằm tập trung ưu tiên cho các sản phẩm chủ lực và hỗ trợ các doanh nghiệp nòng cốt đầu tư vào một số khâu của sản xuất sản phẩm chủ lực. Ưu tiên các giải pháp kỹ thuật tiên tiến và phù hợp để đổi mới công nghệ và sản xuất sản phẩm sáng tạo. Hình thành một số trung tâm R&D ở các doanh nghiệp chủ lực.

Thứ sáu: Đào tạo nhằm nâng cao chất lượng, kỹ năng, hiểu biết của nông dân và công nhân nông nghiệp và cán bộ nông nghiệp cơ sở. Cần có cơ chế đặt hàng đào tạo tập huấn theo chuyên đề và ưu tiên đào tạo thực hành. Tăng cường kết nối để đào tạo nhân lực nòng cốt thông qua gửi thực tập sinh sang Nhật trong chương trình hợp tác với JICA, cũng như một số nước có kỹ thuật cao mà tỉnh hợp tác. Thường xuyên cập nhật quy trình kỹ thuật, công nghệ, thị trường nông sản cho nông dân trên hệ thống truyền thông đại chúng, trên      internet, mạng xã hội… Khuyến khích hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực nông nghiệp, du lịch sinh thái...

Thứ bảy: Nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong vai trò khởi động, dẫn dắt, hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân tiếp nhận và triển khai đường hướng đề ra của chính quyền. Thực hiện quản lý nhà nước đồng bộ cả ba khâu: Đầu vào, sản xuất và đầu ra sản phẩm nhằm giúp cam kết chất lượng sản phẩm và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

 

Định Thị Hải Đường

Cương Quốc công Nguyễn Xí, một người con ưu tú, tài giỏi của quê hương Cửa Lò, đã được vinh danh trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XV với những công lao trong sự nghiệp cứu nước đầu thế kỷ và trong sự nghiệp dựng nước thời Lê sơ. Đối với người dân Cửa Lò, công lao to lớn của ông còn gắn liền với công cuộc khai phá, mở mang vùng đất quê hương. Cho đến ngày nay, công ơn khẩn hoang, lập làng của ông và các con cháu vẫn được khắc sâu trong đời sống văn hóa - tín ngưỡng của nhân dân Cửa Lò cũng như trong những dấu tích vật chất còn lưu giữ trên đôi bờ sông Xá và vùng quanh Thượng Xá xưa.

1. Vùng đất Cửa Lò trước thế kỷ XV

Vùng Cửa Lò trên đất Nghệ An là khu vực miền duyên hải trải dài từ cửa sông Cấm (Cửa Lò) đến cửa sông Lam (Cửa Hội). Cho đến đầu thế kỷ XV, vùng đất Cửa Lò ngày nay, biển còn ăn sâu vào đất liền với nhiều đầm phá ven biển, dân cư thưa thớt, đất đai còn hoang vắng, chưa được khai khẩn nhiều(1). Theo Nghệ An ký, Cửa Lò ngày trước có tên là Cửa Xá. Sông Cấm đổ ra biển ở địa phận xã Thượng Xá (thuộc huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang, quận Hoan Châu thời Lê sơ; ngày nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) nên cửa biển nơi đây được gọi là Cửa Xá hay Tấn Xá. Biển lùi, cùng với thời gian, dòng sông Cấm chảy xuống tận dãy núi Lò (tên chữ là Lô Sơn; bên kia xã Vạn Lộc ngày nay), cửa sông Cấm khi đó mới gọi là Cửa Lò. Cửa Hội là cửa của dòng sông Lam đổ ra biển ở địa phận xã Hội Thống cũ (ngày nay là xã Xuân Hội, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh), nên gọi là Cửa Hội(2).

Tại vùng Cửa Lò, Nguyễn Hợp (ông nội của Cương Quốc công Nguyễn Xí) vốn quê ở làng Cương Giản (nay là xã Xuân Song, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) đã dời nhà ra ở Thượng Xá, vừa khai hoang cày ruộng, vừa làm nghề muối, trở thành ông tổ thứ nhất của dòng họ Nguyễn ở Thượng Xá. Nguyễn Hợp cùng với xóm làng khẩn hoang hai bên bờ sông Xá, lập ra làng Trung (đình làng Trung ngày nay là sân kho đội I hợp tác xã Nghi Hợp) và phát triển nghề làm muối. Tiếp nối Nguyễn Hợp, con trai ông là Nguyễn Hội tiếp tục nghề làm muối và công cuộc khẩn hoang vùng Cửa Lò, mở mang xóm làng, nhất là khai phá các đầm phá ven biển. Nguyễn Hội đã có công trong khai khẩn vùng đồng Hang, đồng Đìa, Cồn Thông và mở rộng vùng Nại Muối. Nhờ đó, ở Thượng Xá, từ làng Trung dần dần phát triển thêm làng Thượng(3).

Nguyễn Xí (1379 - 1465) thuộc đời thứ 3 của dòng họ Nguyễn trên đất Thượng Xá. Ông là con của Nguyễn Hội và bà Vũ Thị Hạch, được sinh ra tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc (thuộc xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An ngày nay). Nguyễn Xí cùng các con cháu tiếp tục công cuộc khẩn hoang, lập làng của ông cha, mở mang, phát triển quê hương Thượng Xá cũng như vùng đất Cửa Lò.

2. Chính sách "lộc điền" và khẩn hoang thời Lê sơ (1428 - 1527)

Sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, vương triều Lê được thành lập. Trước yêu cầu của việc khôi phục nền kinh tế sau một thời gian dài chiến tranh, nhà Lê đã nhanh chóng thực hiện chính sách khuyến khích nhân dân khẩn hoang, lập làng và cho các công thần khai quốc được khai khẩn đất hoang. Cùng với đó, nhà Lê cũng đưa nhiều tù binh người Minh, người Chăm đi khai phá các nơi, lập xóm làng. Nhiều công thần được cấp tù binh để khai khẩn các vùng đất hoang.

Đối với các công thần, cùng với việc định công phong tước, ngay từ triều vua Lê Thái Tổ, nhà vua đã ban thưởng ruộng đất (lộc điền), nhưng chưa thành chế độ với qui định rõ ràng. Cho đến năm 1477, vua Lê Thánh Tông ban hành thành chế độ lộc điền. Chế độ lộc điền chỉ dành riêng cho tầng lớp quý tộc và quan lại cao cấp từ Tòng Tứ phẩm trở lên. Lộc điền gồm ruộng đất thế nghiệp (đời đời hưởng lộc và truyền lại cho con cháu); tứ điền (ruộng ân tứ), ao đầm, bãi dâu (chỉ cho hưởng dụng suốt đời, sau khi chết ba năm phải trả lại cho Nhà nước), tự điền (ruộng tế; truyền lại con cháu lo việc thờ cúng).

Là một trong những công thần đứng đầu của triều Lê, Nguyễn Xí cũng được vua Lê ban cấp nhiều lộc điền. Thực hiện chính sách mở mang kinh tế, phục hưng đất nước của nhà Lê sơ, trên cơ sở lộc điền được ban cấp và ruộng đất, đất hoang, đầm phá mua thêm, Nguyễn Xí và các con cháu của ông đã tích cực chiêu dân khai phá đất hoang, lập thành xóm làng, phát triển kinh tế. Quê hương Cửa Lò cũng được mở mang, khai phá rộng lớn thêm vào thế kỷ XV gắn liền với công lao to lớn của Nguyễn Xí và các con cháu.

3. Nguyễn Xí với công cuộc khẩn hoang, lập làng và khai thác biển vùng Cửa Lò

Nguyễn Xí (1396 - 1465) sinh ra tại quê hương Thượng Xá, trong một gia đình "mấy đời sống ở vùng biển với nghề nấu muối". Từ nhỏ, ông đã cùng với anh cả là Nguyễn Biện theo cha đem muối ra vùng thượng du Thanh Hóa bán. Sau đó, ông ra Lam Sơn làm gia thần cho Lê Lợi và tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với nhiều công lao, đóng góp to lớn cho thắng lợi của cuộc khởi nghĩa. Khi nhà Lê được thành lập, Nguyễn Xí được phong quan tước, bổng lộc và được ban quốc tính là Lê Xí. Ông cũng là người đóng góp công lao hàng đầu trong việc đưa Lê Tư Thành lên ngôi vua, lập nên triều vua Lê Thánh Tông. Do đó, ông không chỉ được vua Lê Thánh Tông đặc phong quan tước đứng đầu hàng văn võ đại thần mà còn được ban cấp 350 mẫu ruộng thế nghiệp vào năm Canh Thìn (1460). Khi qua đời, ông được vua Lê Thánh Tông cho quan quân đưa linh cữu về an táng tại quê hương Thượng Xá, truy tặng tước Thái sư Cương Quốc công và cho xây dựng "Cương Quốc Công từ" ở Thượng Xá vào năm Đinh Hợi (1467)(4).

Theo tài liệu của một văn bia tại Nghệ An, các khu ruộng của Nguyễn Xí trải trên địa phận 93 xã thuộc 25 huyện với tổng diện tích 5.135 mẫu(5). Tại Nghệ An, số lộc điền và ruộng đất ao đầm Nguyễn Xí mua thêm là hơn 1.377 mẫu, trải trên địa bàn của các phủ Diễn Châu, Anh Đô, Đức Quang và các huyện Chân Lộc, Yên Thành, Nam Đường, Thanh Chương. Trong số đó, ngoài 618 mẫu tại các nơi ở huyện Đông Thành, huyện Nam Đàn, huyện Thanh Chương thì có đến hơn 759 mẫu chủ yếu tập trung ở vùng Cửa Lò.

Nguyễn Xí đã mua 300 mẫu ruộng ở Đồng Sô (tức làng Phú Ích thuộc xã Nghi Phong, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An ngày nay) và 200 mẫu ruộng ở Bàu Ổ (thuộc phường Nghi Hương, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An ngày nay). Ở Đồng Sô, ông dùng các tù binh người Minh (bị bắt từ thời chống quân Minh) được vua Lê ban cấp, cùng nhân dân địa phương khẩn hoang, lập ra làng Phú Ích. Những tù binh này được truyền đời cho con cháu những ruộng đất Nguyễn Xí dành cho họ, để lo việc hương khói tại xứ Đồng Sô. Cùng thời gian đó, Nguyễn Xí cũng tâu xin vua Lê cho được lập "Long thị" (Chợ Sơn, tại làng Long Trảo, xóm Kỳ Sơn, xã Nghi Khánh, huyện Nghi Lộc ngày nay) làm trung tâm giao lưu hàng hóa trong vùng và phát triển cuộc sống của người dân nơi đây(6).

Tháng 6 năm Ất Sửu (1445), Nguyễn Xí cùng Bình chương Tư đồ Lê Thận đưa quân đánh dẹp quân Chiêm Thành lấn chiếm biên giới phía Nam của Đại Việt, giành thắng lợi, bắt được hàng trăm tù binh về giam ở xứ Bàu Ổ (thuộc phường Nghi Hương, thị xã Cửa Lò ngày nay). Ông đã dùng số tù binh người Chăm vào việc khai khẩn đất đai ở Bàu Ổ. Theo gia phả họ Nguyễn Đình ở xã Nghi Hợp (huyện Nghi Lộc) và họ Chế Đình ở phường Nghi Hương (thị xã Cửa Lò), công cuộc khẩn hoang xứ Bàu Ổ đã đưa đến sự ra đời của các làng Kim Ổ (thuộc địa bàn phường Nghi Hương), Thu Lũng (thuộc địa bàn phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò). Những hàng binh này được Nguyễn Xí đối xử như con cháu và cho đổi từ họ Chế thành Chế Đình. Chế Lạc, Chế Du là những người Chăm được Nguyễn Xí cho đứng đầu trông coi các làng xã mới được khai khẩn. Trước những công đức của Nguyễn Xí, dân làng về sau tự nhận là con nuôi (dưỡng tử) của ông. Vì vậy, trong số các chi họ là con cháu của Nguyễn Xí sau này, có 3 chi họ dưỡng tử (con nuôi) là con cháu những tù binh người Minh, người Chăm năm xưa(7).

Trong cuộc đời 37 năm làm quan của mình, Nguyễn Xí đã phụng sự 4 triều vua Lê tại thành Đông Kinh ở Thăng Long và không tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý, khai thác ruộng đất của mình, trong đó có vùng đất Cửa Lò. Tuy vậy, tấm lòng của ông vẫn luôn hướng về quê hương, chăm lo đến việc tổ chức khai khẩn, mở mang, xây dựng vùng quê Cửa Lò với việc giao cho các con trai quản lý khẩn hoang, lập làng, khai thác ruộng đất và thu hoa lợi, xây dựng và phát triển xóm làng ở nơi đây.

4. Nguyễn Sư Hồi, Nguyễn Kế Sài, Nguyễn Trọng Đạt, Nguyễn Nhân Thực tiếp nối công cuộc khẩn hoang, lập làng trên vùng đất Cửa Lò

Trong số 16 người con trai của Cương Quốc công Nguyễn Xí thì Nguyễn Sư Hồi, Nguyễn Kế Sài, Nguyễn Trọng Đạt, Nguyễn Nhân Thực là những người tiếp nối công cuộc khẩn hoang, lập làng, mở mang, phát triển vùng đất Cửa Lò của ông cha.

- Nguyễn Sư Hồi

Nguyễn Sư Hồi (1444 - 1506) là con trai trưởng của Cương Quốc công Nguyễn Xí, được vua Lê Thánh Tông thăng quan đến chức Nhập nội Thiếu úy, Phò mã Đô úy, ban quốc tính là Lê Sư Hồi và giao trọng trách trấn thủ, bố phòng 12 cửa biển của Đại Việt, trong đó có vùng biển Cửa Xá. Vào năm Canh Thìn (1460), Nguyễn Sư Hồi được vua ban cấp 150 mẫu ruộng thế nghiệp(8).

Trong thời gian trấn trị tại vùng Cửa Xá, ông đã lấy Cửa Xá làm trung tâm để tập hợp và chiêu mộ những người dân chài ven biển, nông dân nghèo ven sông Xá và các nơi đến khai phá, phát triển nghề đánh cá và làm ruộng. Năm 1493, Nguyễn Sư Hồi đã lập ra xã Hải Giang, bao gồm Vạn Lộc và Tân Lộc (nay thuộc phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò)(9). Theo ghi chép của Hippolyte Le Breton trong An Tĩnh cổ lục thì Nguyễn Sư Hồi được ban cấp đầm phá Cây Bằng. Trên miền đất đai mới bồi đắp này, các làng Vạn Lộc, Tân Lộc từ đó mà hình thành(10). Cư dân Vạn Lộc một nửa làm nghề đánh cá, một nửa làm ruộng và từ nhiều nơi tụ tập lại nên thường gọi là "dân góp"(11).

Thần phả đền Vạn Lộc cũng cho biết, Nguyễn Sư Hồi là người có công đầu trong việc mở mang đất đai, tạo cơ sở ban đầu cho làng Vạn Lộc - tiền thân của phường Nghi Tân (thuộc thị xã Cửa Lò) ngày nay. Con đê đá dài khoảng năm cây số, cao hàng mét, chạy từ núi Tượng Sơn (núi Voi) vòng đến phía Đông Bắc núi Mũi Gươm, theo dọc bờ Đông Nam sông Cấm ra đến sát biển Cửa Lò hiện nay là dấu tích công cuộc khai phá vùng đất này của ông. Theo tương truyền, chợ Lò của làng Vạn Lộc cũng được hình thành từ khi có làng. Cùng với đó, việc tổ chức hội bơi thuyền ở làng Vạn Lộc (và làng Trung Kiên bên kia sông) là nhằm tái hiện lại những chiến tích oai hùng trên sông nước của thủy quân Nguyễn Sư Hồi và ghi nhớ việc ông từng dạy cho dân trong vùng cách đóng thuyền đi sông, đi biển(12).

Thực hiện công cuộc khẩn hoang của cha, Nguyễn Sư Hồi giao hàng trăm mẫu lộc điền của Nguyễn Xí cho tù binh người Minh, người Chăm khai khẩn, sản xuất, ổn định và phát triển cuộc sống. Từ đó lập thành các làng Kim Ổ, Thu Lũng Lộc Kén (phường Nghi Thu)(13). Tưởng nhớ công ơn to lớn của ông, sau khi qua đời, Nguyễn Sư Hồi được dựng đền thờ và phong Thượng đẳng phúc thần. Dân làng Vạn Lộc đã tôn ông làm Thành hoàng làng. Cho đến nay, ở Vạn Lộc vẫn còn đền thờ Nguyễn Sư Hồi và di tích một đoạn lũy bảo vệ mặt biển do ông xây dựng tại cánh đồng Lũy(14).

- Nguyễn Kế Sài

Nguyễn Kế Sài là con trai thứ 5 của Cương Quốc công Nguyễn Xí. Dưới triều Lê sơ, ông làm quan đến chức Hành Thuận Hóa đạo tam phụ quốc quân đồng tri, Đô tổng binh sứ Ty Đô tổng binh sứ, được tặng Thái Bảo - Thượng trụ quốc. Cũng giống như Nguyễn Sư Hồi, Nguyễn Kế Sài sinh trưởng và lập gia đình tại thành Đông Kinh. Ông đã sát cánh cùng anh trưởng Nguyễn Sư Hồi, mở mang, khai phá thêm cho vùng Thượng Xá, Vạn Lộc. Nguyễn Kế Sài chiêu dân khai khẩn vùng đồng Biển Trên, đồng Biển Dưới, trọt Nhà Trần ở phía Tây làng và vùng Đập Hách, trọt Miếu ở phía Đông làng. Lăng mộ của ông và phu nhân Phạm Thị Ngọc Ất đặt tại xã Thượng Xá(15).

- Nguyễn Trọng Đạt

Nguyễn Trọng Đạt là con trai thứ 10 của Cương Quốc công Nguyễn Xí, làm quan chức Đạt tín đại phu. Năm Ất Sửu (1445), ông theo cha đưa quân đánh dẹp quân Chiêm Thành lấn chiếm biên giới phía Nam của Đại Việt, giành được thắng lợi. Với công lao đó, ông được vua ban phong Tín đạt đại phu xuất thân, tán trị công thần, Bắc quân đô đốc, lịch trung dinh thượng tướng quân Linh quận công.

Nguyễn Đạt được cha giao quản lý việc khai phá ở khu vực làng Kim Ổ và làng Phú Ích. Gia phả họ Nguyễn Đình ở xã Nghi Hợp (huyện Nghi Lộc) và họ Chế Đình ở phường Nghi Hương (thị xã Cửa Lò) cho biết, Nguyễn Trọng Đạt được cha giao cai quản và tổ chức lực lượng hàng binh Chăm (các tướng Chế Đình Đá, Chế Đình Lân, Chế Đình Hiệp) khai khẩn vùng bãi ngang phía Đông Nam huyện Chân Lộc tại Bàu Ổ. Cuộc khẩn hoang này đã lập nên các làng Kim Ổ, Thu Lũng. Khi qua đời, ông được táng tại nơi đây. Dân làng sau này đã lập đền thờ ông trên mộ và tự nhận mình là con nuôi, mang họ Nguyễn Đình, sau đổi là Chế Đình, rồi lại đổi là Nguyễn Chế tại phường Nghi Thu(16).

- Nguyễn Nhân Thực

Nguyễn Nhân Thực là con trai thứ 14 của Nguyễn Xí, giữ chức Nghiêm dũng vệ tiền sở quản lĩnh. Ông khai khẩn vùng Đồng Nổi, Cửa Ngoài ở phía Tây Nam làng. Theo tác giả Phan Huy Lê, công việc mở mang vùng Thượng Xá được Nguyễn Xí giao cho con trai thứ 5 là Nguyễn Kế Sài và con trai thứ 14 là Nguyễn Nhân Thực(17).

* Một vài nhận xét

Như vậy, sinh ra trên quê hương Thượng Xá, trong một gia đình có truyền thống khai thác biển vùng Thượng Xá từ thời ông cha, Nguyễn Xí có tuổi ấu thơ gắn bó với vùng đất Cửa  Lò của những ngày theo cha và anh cày ruộng, làm muối và bán muối. Sau 10 năm tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Xí có những năm tháng "tột đỉnh vinh quang" chốn quan trường và những công lao, đóng góp to lớn của ông cho công cuộc khai phá, mở mang, phát triển vùng đất Cửa Lò. Những lộc điền và ruộng đất ao đầm mua thêm của ông tại Cửa Lò là tiền đề vật chất cho công cuộc khẩn hoang, hình thành và phát triển những xóm làng mới trên quê hương Cửa Lò.

Tiếp nối công cuộc khẩn hoang của ông cha, những người con của Nguyễn Xí là Nguyễn Sư Hồi, Nguyễn Kế Sài, Nguyễn Trọng Đạt, Nguyễn Nhân Thực đã cùng nhân dân địa phương tiếp tục đẩy mạnh công cuộc khai khẩn, lập làng, phát triển kinh tế (nông nghiệp, khai thác biển), biến Cửa Lò thành vùng xóm làng trù phú với các nghề chính là cày ruộng, đánh cá và làm muối. Ghi nhớ những công lao, đóng góp to lớn của Cương Quốc công Nguyễn Xí và con cháu trên đất Nghệ An, trong đó có vùng Cửa Lò, nhân dân đã lập đền thờ ở nhiều nơi, thờ làm phúc thần. Một loạt di tích trên đôi bờ sông Xá và cả vùng quanh Thượng Xá xưa vẫn còn được lưu giữ đến ngày nay, gắn liền với công cuộc khẩn hoang của Nguyễn Xí và các con cháu năm xưa.

 

Chú thích

1. Hippolyte Le Breton, An Tĩnh cổ lục, Nxb. Văn hóa Thông tin - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2014, tr.89.

2. Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký, Quyển 1 và 2, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, tr.207, 170; Ninh Viết Giao, Nghệ An đất phát nhân tài, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2006, tr. 75-76, 79.

3. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2011, tr.1144.

4. Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, Ngô Thế Long dịch, Văn Tân hiệu đính và giới thiệu, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.218; Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập 1, Nxb. Giáo dục, 1998, tr.990; Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr. 1130-1131, 1143, 1144; Cương Quốc công di huấn, in trong Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Nxb. Nghệ An, 2013, tr.227.

5. Trương Hữu Quýnh, Chế độ ruộng và một số vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2009, tr.246.

6. Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr. 233, 146.

7. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, Nhân vật chí, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr.378; Hippolyte Le Breton, An Tĩnh cổ lục, Sđd, tr.89-90; Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr.147, 233, 304, 26

8. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr.391; Lê Thánh Tông ngự tứ thạch bi, in trong Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr.41.

9. Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Lịch sử Nghệ An, Tập 1 (Từ nguyên thủy đến Cách mạng tháng Tám 1945), Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2012,tr.375-377.

10. Hippolyte Le Breton, An Tĩnh cổ lục, Sđd, tr.89.

11. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr.1145.

12. Nguyễn Quang Hồng, Thành phố Vinh - quá trình hình thành và phát triển, tr.24, dẫn theo Hoàng Anh Tài, Vai trò của Nguyễn Xí với việc hình thành các làng xã ở Nghệ An trong thế kỷ XV, in trong Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr.306; Hoàng Anh Tài, Đền thờ Nguyễn Sư Hồi và lễ hội làng Vạn Lộc, Tạp chí Khoa học Công nghệ Nghệ An, số 2 năm 2017, tr.30.

13. Nguyễn Thị Liễu, Những đóng góp của gia đình Nguyễn Xí với sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước và công cuộc xây dựng đất nước ở thế kỷ XV, in trong Trung tâm khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí, quê hương, con người, sự nghiệp, Sở Văn hóa Thông tin Nghệ An, Nghệ An, 1997, tr.74.

14. Hoàng Anh Tài, Đền thờ Nguyễn Sư Hồi và lễ hội làng Vạn Lộc, Sđd, tr.30.

15. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr.1145; Nguyễn Đình Nhàn, Phả hệ dòng họ Nguyễn Đình và di duệ của Nguyễn Xí hiện nay trên đất Nghệ Tĩnh và Bùi Ngọc Tam, Truyền thống thượng võ của gia tộc Nguyễn Xí, đều in trong Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí, quê hương, con người, sự nghiệp, Sđd, tr.40, 75; Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr.32, 187.

16. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr.1145; Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr. 304, 206-207.

17. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr.1145.

 

* Tổ chức Cuộc thi Hackathon Nghệ An lần thứ Nhất

Vừa qua, Cuộc thi Hackathon Nghệ An lần thứ Nhất đã diễn ra trong 3 ngày tại Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ và Tin học Nghệ An.

Hackathon là cuộc thi phát triển phần mềm do Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với Công ty Cổ phần Công nghệ Gostream tổ chức. Có 14 đội với 55 thành viên chia thành 2 khối: Khối Ươm mầm dành cho lứa tuổi từ 12-18 tuổi và khối Ứng dụng dành cho lứa tuổi từ 18 - 25 tuổi. Trải qua các vòng thi từ trình bày ý tưởng; Phân chia nhiệm vụ các thành viên trong đội; Tập hợp các ý tưởng từ các thành viên và chọn ra ý tưởng tốt nhất để thực hiện. Đến vòng thuyết trình Hackathon còn 11 đội tham gia với 43 thành viên. Đây là sân chơi cho các bạn trẻ bên cạnh phương pháp học Steam.

Trải qua các phần thi đầy cam go, Ban tổ chức đã lựa chọn và trao giải cho các đội xuất sắc, gồm: Khối Ươm mầm, giải Nhất được trao cho nhóm KC-RED với chủ đề Ứng dụng giáo dục Learn to Earn; 3 giải Nhì đều thuộc về chủ đề Du lịch của 3 nhóm: Hết thời; KC-GRAY và KC-PINK; Khối Ứng dụng, giải Nhất thuộc về nhóm TĐH với chủ đề Ứng dụng quản lý sự kiện tình nguyện; giải Nhì thuộc về nhóm BETA với chủ đề Tiết kiệm chi phí bằng tòa soạn hội tụ.

Hackathon không chỉ dừng lại ở cuộc thi mà sẽ là tiền đề cho Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong thời gian tới. Sở Khoa học và Công nghệ sẽ phối hợp cùng Công ty Cổ phần Công nghệ GoStream tạo điều kiện để truyền thông, hỗ trợ cho các dự án tiềm năng có cơ hội phát triển các ứng dụng đưa vào áp dụng trong thực tế đời sống.

Hoàng Anh

* Hội thảo khoa học: Đánh giá kết quả công tác bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014-2020 và xây dựng định hướng giai đoạn 2021-2025

Sáng 29/6, UBND tỉnh Nghệ An tổ chức hội thảo khoa học "Đánh giá kết quả công tác bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014-2020 và xây dựng định hướng giai đoạn 2021-2025".

Hội thảo đã được nghe 4 báo cáo chuyên đề: Tổng hợp đánh giá kết quả thực hiện đề án khung quỹ gen cấp Bộ, cấp tỉnh (2013-2019) và chia sẻ nguồn gen; Kết quả và giải pháp nghiên cứu bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen dược liệu; Kết quả công tác bảo tồn và khai thác nguồn gen cây trồng giai đoạn 2015-2020 và định hướng nghiên cứu giai đoạn 2021-2025; Kết quả duy trì, đánh giá và phát triển nguồn gen cây lương thực, cây ăn quả và 7 ý kiến phát biểu của các đại biểu tham dự hội thảo.

Các báo cáo và ý kiến phát biểu thảo luận đều đánh giá cao kết quả triển khai Đề án khung quỹ gen của tỉnh và đề nghị cần phải triển khai quy mô rộng và đồng bộ hơn; chú trọng, nâng cấp hơn trong công tác lưu giữ, bảo tồn nguồn gen;  đưa đề án vào từng địa phương cụ thể; lồng ghép cac chương trình huấn luyện giúp cho người dân sàng lọc nguồn gen quý của các loại giống cây, con, vật nuôi,…

Hồng Bắc

* Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu niên nhi đồng tỉnh Nghệ An năm 2020

Ngày 2/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Nghệ An đã tổ chức Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh Nghệ An năm 2020.

Năm nay, cuộc thi đã quy tụ 125 mô hình/sản phẩm, là những sản phẩm xuất sắc được tuyển chọn từ vòng sơ khảo, nhiều mô hình/sản phẩm từng đạt giải các cuộc thi KHKT cấp quốc gia. Các mô hình sản phẩm dự thi năm nay đều là những đề tài có tính thực tiễn cao, thể hiện năng lực sáng tạo và niềm đam mê khoa học của đông đảo học sinh.

Kết thúc cuộc thi, Ban tổ chức đã trao 1 giải Đặc biệt, 3 giải Nhất, 5 giải Nhì, 10 giải Ba, 30 giải Khuyến khích và giải tập thể cho các dự án đạt giải. Những dự án xuất sắc đạt giải Ba trở lên cũng sẽ được lựa chọn để tham dự Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng toàn quốc dự kiến sẽ được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10/2020.

Nhân dịp Kỷ niệm 15 năm tổ chức cuộc thi, UBND tỉnh đã tặng Bằng khen cho 5 cá nhân có nhiều thành tích hướng dẫn học viên đạt giải cao trong Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng toàn quốc lần thứ XV năm 2019. Ngoài ra, nhiều tập thể và cá nhân khác cũng được khen thưởng vì có nhiều cống hiến trong 15 năm tham dự cuộc thi. 

H.B (tổng hợp)

* Ra mắt quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo VSV Nghệ An

Chiều ngày 5/7, Sở KH&CN phối hợp với Công ty CP Viet Nam Silicon Valley Accelerator và các Nhà đầu tư đã tổ chức buổi hội thảo chia sẻ thông tin và lễ ký kết ra mắt Quỹ hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Nghệ An.

Qũy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo góp phần tạo cộng đồng khởi nghiệp, là nơi kết nối quỹ khác trong và ngoài tỉnh, coi đây là kênh thu hút đầu tư. Tại buổi lễ diễn ra lễ ký kết chính thức ra măt Quỹ đầu tư VSV - Nghệ An với tổng số tiền là 8,8 tỷ đồng của 17 nhà đầu tư cá nhân và doanh nghiệp tham gia, trong đó có 3-5 doanh nghiệp đón góp 500-1500 tỉ đồng. Với sự ra mắt của Quỹ VSV - Nghệ An, đây là dấu mốc không chỉ của VSV mà còn là của cộng đồng khởi nghiệp, là quỹ đầu tiên của các doanh nhân của tỉnh theo mô hình đầu tư quốc tế…

VSV và Sở KH&CN Nghệ An cam kết sẽ cùng các nhà đầu tư cũng như các Startup trong các hoạt động đào tạo, marketing, SHTT cũng như cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ cho khát vọng khởi nghiệp. Tỉnh luôn đồng hành, hỗ trợ thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo của tỉnh.

Minh Tú - Hồng Bắc

* Sở Khoa học và Công nghệ: Tập huấn về dịch vụ du lịch nông nghiệp

Trong tháng 7 năm 2020, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện Nam Đàn, thị xã Cửa Lò, Ủy ban nhân dân xã Kim Liên và phường Nghi Hải tổ chức các lớp tập huấn về dịch vụ du lịch nông nghiệp. 

Tham dự lớp tập huấn có đại diện lãnh đạo UBND huyện Nam Đàn, Thị xã Cửa Lò; Phòng Văn hóa, Phòng Kinh tế - Hạ tầng, Phòng Nông nghiệp của huyện Nam Đàn và Thị xã Cửa Lò; Đại diện lãnh đạo và công chức văn hóa các xã Kim Liên, Nam Giang, Nam Nghĩa, Nghi Hải; Thành viên HTX Sen Quê Bác và thành viên liên kết với HTX Sen Quê Bác; Thành viên HTX Chanh Thiên Nhẫn; Hộ dân Làng nghề nước mắm Hải Giang 1; Thành viên Hội sản xuất và kinh doanh cá thu nướng Cửa Lò; Doanh nghiệp làm du lịch trên địa bàn huyện Nam Đàn, Thị xã Cửa Lò. Trung tâm Văn hóa Thông tin Truyền thông huyện Nam Đàn, Thị xã Cửa Lò; Một số tổ chức đang xây dựng mô hình du lịch nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Các lớp tập huấn đã trang bị cho các học viên, nhất là thành viên Hợp tác xã Sen Quê Bác, Hộ dân Làng nghề chế biến nước mắm Hải Giang 1 và Hội sản xuất và kinh doanh cá thu nướng Cửa Lò những kiến thức, kỹ năng cơ bản về du lịch nông nghiệp, tiếp cận các phương pháp nắm bắt tâm lý khách hàng, kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong hoạt động kinh doanh du lịch tại địa phương. Nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, chất lượng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực du lịch. Qua đó, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi ngành nghề cho lực lượng lao động tại các điểm có tiềm năng phát triển du lịch theo hình thức du lịch cộng đồng, nâng cao thu nhập đời sống cho nhân dân.

Nguyễn Nhung

 




NHUẬN BÚT


Tác giả: article?img id=2058325
Tiêu đề: Chuyên san KHXH&NV số 7/2020
Ngày xuất bản: ngày 28 tháng 07 năm 2020
Nội dung:

GS. Phong Lê

1. Đảng và đường lối văn nghệ của Đảng từ 1943 đến 1990

Văn kiện đầu tiên của Đảng chuyên về văn hóa, trong đó có văn học - nghệ thuật, đó là Đề cương về văn hóa Việt Nam - 1943(1). Một Đề cương về văn hóa sau một Cương lĩnh chính trị đã xuất hiện trong bí mật vào năm 1930.

Với Đề cương về văn hóa Việt Nam, văn hóa là một khái niệm có nội hàm rộng, bao gồm ba lĩnh vực: tư tưởng, học thuật, nghệ thuật. Bây giờ ta có hàng trăm định nghĩa về văn hóa. Ở thời điểm 1943, hiểu văn hóa ở ba phương diện: tư tưởng, học thuật, nghệ thuật tất nhiên là chưa đủ chiều rộng; nhưng lại có được một đường biên cụ thể cho sự hình dung. Đó là sự bao quát phạm vi hoạt động của người trí thức, của giới trí thức trên hai lĩnh vực cơ bản là khoa học và nghệ thuật.

Và, dẫu quan niệm về văn hóa là rộng hoặc hẹp, thì định hướng xuyên suốt của Đề cương vẫn là ở "ba nguyên tắc vận động của cuộc vận động văn hóa mới". Ba nguyên tắc xuất phát từ thực tiễn và đáp ứng rất kịp thời cho các nhu cầu bức thiết của thực tiễn. Đó là:

"a. Dân tộc hóa (chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa, khiến cho văn hóa Việt Nam phát triển độc lập);

b. Đại chúng hóa (chống mọi chủ trương, hành động làm cho văn hóa phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng);

c. Khoa học hóa (chống lại tất cả những cái gì làm cho văn hóa trái khoa học, phản tiến bộ)".

Ở đây, Dân tộc hóa là nguyên tắc được đặt ở vị trí số 1 trong Đề cươngĐại chúng hóa ở vị trí số 2. Và dẫu ở vị trí số 2 nó vẫn là nguyên tắc được đón nhận dễ dàng và có tác động sâu rộng đối với đời sống văn hóa, tinh thần nói chung và văn học - nghệ thuật nói riêng, góp phần tích cực vào thành công của Cách mạng tháng Tám và đem lại một sự sống tươi mới cho công cuộc kháng chiến chống Pháp.

Nguyên tắc Khoa học hóa là kết quả sự vận dụng chủ nghĩa Mác để phân tích lịch sử văn hóa dân tộc, và thực trạng văn hóa hiện thời. Từ đó đề ra phương hướng phát triển văn hóa "tân dân chủ", nó là mục tiêu chỉ có thể thực hiện được từ sau Cách mạng tháng Tám trên nền móng Dân chủ - Cộng hòa.

Năm 1960 - ghi một dấu mốc quan trọng trong hành trình dân tộc. Đó là năm ra đời Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, đưa cuộc chiến đấu chống Mỹ lên một cục diện mới - cục diện cả nước chống Mỹ. Đồng thời, đó là năm trên miền Bắc, Đảng Lao động Việt Nam tiến hành Đại hội lần thứ III công bố Cương lĩnh xây dựng Chủ nghĩa xã hội, và Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965).

Trong Cương lĩnh xây dựng Chủ nghĩa xã hội, Đảng chủ trương tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng:

- Cách mạng quan hệ sản xuất.

- Cách mạng khoa học - kỹ thuật.

- Cách mạng tư tưởng - văn hóa.

Như vậy, ba cuộc cách mạng ở đây cũng nhằm bao quát ba lĩnh vực chính trị - kinh tế - và văn hóa như đã được đặt ra trong Đề cương về văn hóa Việt Nam - 1943.

Từ yêu cầu của Cách mạng tư tưởng - văn hóa mà có Đường lối văn nghệ của Đảng. Đường lối này được đồng chí Trường Chinh trình bày trong bài phát biểu, thay mặt Đảng, trước Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ IV - tháng 12 - năm 1968, có tên Văn nghệ phải góp phần giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tiến tới thống nhất nước nhà, trong đó tác giả tổng kết và nêu lên 8 mục, được xem là "8 quan điểm cơ bản" - "những quan điểm làm cơ sở cho đường lối văn nghệ của Đảng", chiếm toàn bộ Phần I của bài phát biểu. Đó là:

"1. Văn nghệ là vũ khí sắc bén của giai cấp công nhân, của Đảng trong cuộc đấu tranh để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra.

2. Văn nghệ ta phải thực sự là nền văn nghệ của nhân dân.

3. Văn nghệ ta phải có tính chất dân tộc. Văn nghệ ta là văn nghệ của nhiều dân tộc ở nước ta.

4. Văn nghệ phản ánh hiện thực khách quan một cách cao đẹp, góp phần cải tạo hiện thực theo một lý tưởng nhất định.

5. Mục đích của văn nghệ ta đó là giáo dục con người mới.

6. Tiếp thu có phê phán những tinh hoa của văn nghệ dân tộc và những thành tựu tốt đẹp của văn nghệ thế giới xưa và nay.

7. Nắm vững phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa để sáng tác và phê bình.

8. Với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chúng ta xây dựng một nền văn hoá, văn nghệ cao đẹp nhất của loài người"(2).

Vậy là ở đây, qua 8 mục, bản báo cáo đã bao quát gần như đầy đủ những phạm vi cần quan tâm của lý luận văn nghệ (mácxít - lêninnít) gồm: chức năng và vai trò, đặc trưng và tính chất, mục đích và nhiệm vụ, phương pháp sáng tác, và mục tiêu xa của văn nghệ.

Bây giờ đọc lại, dễ nhận thấy ở đây có những mục vẫn đúng nhưng quá rộng hoặc quá hẹp; có những mục không còn thích hợp, cần phải bổ sung hoặc thay đổi.

Tôi chọn mốc 1968 để thấy sự tổng kết trên 8 mục như một cấu thành hoàn chỉnh Đường lối văn nghệ của Đảng mà tác giả Trường Chinh có trách nhiệm khởi thảo và phát biểu. Bởi từ sau 1968 cho đến khi ông qua đời, năm 1988, những bài nói và viết của Trường Chinh không còn mang tính chất tổng kết và vạch đường lối cho văn nghệ nói chung. Dường như, theo quan điểm của Trường Chinh, và cũng là theo sự tiếp thu của giới lý luận lúc ấy, một tổng kết gồm 8 mục như trong bài phát biểu năm 1968 là đầy đủ và không cần phải nói gì thêm. Một tổng kết như là một sự hoàn thiện cả một quá trình nhận thức, theo đuổi về các vấn đề văn hoá, văn nghệ cách mạng, theo quan điểm của Đảng, có khởi đầu từ Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943, ở một người trong gần nửa thế kỷ có trách nhiệm cao nhất thay mặt Đảng lãnh đạo, chỉ đạo văn học nghệ thuật.

Bộ tuyển của Trường Chinh: Bàn về văn hóa - nghệ thuật gồm 2 tập, Nxb. Văn học ấn hành năm 1986, tập hợp gần như tất cả những bài viết, bài nói quan trọng nhất của tác giả, từ 1938 đến 1984, với rất ít sửa chữa, chứng tỏ tác giả đã rất nhất quán và kiên định với các chủ kiến và ý kiến của mình.

Vậy là, sau 1945, và nhất là sau 1954, rồi 1960, trong hoàn cảnh mới của cách mạng, việc xác định một Cương lĩnh chính trị gồm 3 cuộc cách mạng, trong đó có Cách mạng tư tưởng - văn hóa, và một Đường lối văn nghệ của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để đưa văn nghệ vào quỹ đạo chung của cách mạng. Với đường lối này, lý luận văn học phải bao quát một phạm vi rất rộng các vấn đề, trong đó có vấn đề tự do trong sáng tạo văn học - nghệ thuật, là khu vực trực tiếp nhận sự lãnh đạo của Đảng. Bởi nó gắn với yêu cầu giảng dạy văn học trong nhà trường và yêu cầu trang bị về lập trường, quan điểm cho đội ngũ công tác tuyên huấn và lý luận. Cùng với phê bình, nó phải là "một phương thức chỉ đạo của Đảng trên mặt trận văn nghệ"(3). Không kể nó nhằm phổ cập tri thức cho công chúng đông đảo, một công chúng lúc nào cũng cần được giáo dục, động viên để vươn lên đứng ở tuyến đầu các cao trào cách mạng. Nền lý luận văn học đó, một mặt phải xuất phát từ Chủ nghĩa Mác - Lênin, vốn đã được đúc kết và diễn giải trong các bộ sách giáo khoa về triết học, về mỹ học và lý luận văn học nghệ thuật, bởi các học giả mácxít chủ yếu ở Liên Xô, được dịch sang tiếng Việt; một mặt là Đường lối văn nghệ của Đảng, được xem là sự vận dụng cụ thể và sáng tạo các nguyên lý kinh điển Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam được thể hiện và đúc kết trong các văn kiện của Đảng và các bài nói, bài viết của những người thay mặt Đảng.

Lý luận văn học, trong đó có vấn đề tự do trong sáng tạo văn học - nghệ thuật, được hiểu như thế nên có vai trò rất quan trọng, thậm chí rất thiêng liêng. Là "một phương thức chỉ đạo của Đảng" nên nó không được phép sai. Nhất là sai về đường lối. Nếu đường lối cách mạng là mục tiêu toàn Đảng, toàn dân phải nhất tâm thực hiện, thì đường lối văn nghệ phải là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của các giới văn hóa, văn học - nghệ thuật. Do vậy mà một vi phạm dẫu nhỏ vào những nguyên tắc đó là không được phép. Chẳng hạn, Đảng chủ trương hướng về "cuộc sống mới, con người mới" thì bất kể ai (giới lý luận hoặc sáng tác) không thể đặt vấn đề: "Con người bình thường, cuộc sống bình thường"(4). Cái đời thường mà bây giờ ta quen nói, có một thời dài rất ít được nói, hoặc không được phép nói, mà phải là "đến với những nơi tiên tiến, sống với những con người tiên tiến"... Đảng yêu cầu phản ánh trung thành hiện thực cách mạng thì không thể kêu gọi "phá vỡ lôgích cuộc sống"(5) để xen vào một "lô gích nghệ thuật" viễn vông nào đó. Hiện thực cách mạng là anh hùng và cao đẹp thì không thể nhấn mạnh cái bi, hoặc quá đi sâu vào những hiện tượng phân thân, "đối mặt" ở con người(6)… Và nếu người viết còn đi xa hơn, sa vào lực hút của các trường phái lý luận văn học phương Tây gồm các dạng của Chủ nghĩa Hiện đại, như Suy đồi hoặc Tiền phong, Siêu thực hoặc Tượng trưng, Chủ nghĩa Cấu trúc hoặc Hiện sinh, Phê bình mới hoặc Tiểu thuyết mới; hoặc "ăn phải bả" của Chủ nghĩa Xét lại như bênh vực tính người siêu giai cấp, hoặc chủ trương chung sống hoà bình giữa các chế độ xã hội khác nhau… thì không chỉ tác phẩm mà các tác giả của nó cũng bị liên luỵ, có người phải bị treo bút trong cả một thời gian dài.

Tình thế rồi sẽ thay đổi, từ Đại hội VI của Đảng - tháng 12-1986; với hai khẩu hiệu: "Lấy Dân làm gốc", và "Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật". Đây là một cuộc "Sửa sai" lớn, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, văn học - nghệ thuật; dĩ nhiên yêu cầu tự do sáng tạo soi vào đấy sẽ phải nhận thức lại nhiều điều. "Cởi trói" trở thành một nhu cầu tự thân. Mà nói "cởi trói" tức là nói trước đây đã có nhiều buộc trói. Để có tự do hãy tự cứu mình trước khi Trời cứu (lời Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh). Nhờ vậy yêu cầu tự do và phạm vi tự do mới được nới dần ra, để thoát ra khỏi các trói buộc, gần như lúc nào cũng bị xiết chặt, suốt hơn 30 năm. Một mùa gặt mở ra - mùa "tiền Đổi mới" trong mở đầu thập niên 1980, trổ ra được những khoảng trời, những cánh cửa cho những bức xúc của nhân dân và không khí thời đại tràn vào…

Từ Đổi mới (1986) chuyển sang Hội nhập (1995), cho đến cuối thập niên 1990 trở đi, văn học - nghệ thuật chuyển sang một thời kỳ mới với rất nhiều thay đổi trong đề tài - chủ đề, trong cảm hứng sáng tạo, trong thi pháp - bút pháp, trong cấu trúc nghệ thuật, trong văn bản ngôn từ... Đồng thời là sự nhận thức lại, đánh giá lại diện mạo lịch sử sau hơn một thế kỷ hiện đại hóa: nhiều án oan được giải tỏa; nhiều tên tuổi được khôi phục qua các dịp kỷ niệm nhân vào tuổi "trăm năm"; cùng nhiều giải - như Giải Hồ Chí Minh và Giải Nhà nước được trao hoặc truy tặng cho một số người từng bị tai nạn trước đây. Ít có các "vụ" "việc" xảy ra. Bớt dần, tuy chưa phải đã hết hẳn, những quy chụp nặng nề đối với một số hiện tượng có sự phân rẽ hoặc khác nhau trong dư luận. Tự do sáng tạo vẫn còn những khía cạnh cần bàn, nhưng là bàn trên một bình diện mới. Đó là sự chấp nhận, hoặc tôn trọng mọi tìm tòi để có thể vừa đến được với cái riêng, cái khác - vốn là mục tiêu săn tìm ráo riết của một thế hệ trẻ, kể từ 8X, 9X trở đi - thế hệ không phải sống trong bối cảnh chiến tranh và tình thế bao cấp, vừa vẫn có thể đồng hành cùng nhau trước những mục tiêu chung khi quốc gia "hữu sự" như chủ quyền biển - đảo bị đe dọa, quốc nạn tham nhũng vẫn chưa hoặc rất khó bị đẩy lùi; vừa khẩn trương tham gia hội nhập, nhưng vẫn phải cảnh giác trước nguy cơ đánh mất bản sắc riêng của mình...

2. Đảng và các nghị quyết của Đảng về văn hóa trong quan hệ với kinh tế, chính trị thời đổi mới và hội nhập

Từ Đường lối văn nghệ - 1968 đến một Nghị quyết riêng về văn hóa - Nghị quyết 05 khóa VIII năm 1998 là chẵn 30 năm.

Đó là 30 năm ghi nhận những chuyển động dữ dội trong đời sống dân tộc, qua các sự kiện lớn của lịch sử: Đại thắng mùa Xuân 1975. Đại hội VI - 1986 chính thức đưa đất nước vào kỷ nguyên Đổi mới. Đại hội VII - 1991 và Đại hội VIII - 1996 diễn ra sau sự kiện Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa tan vỡ (1990), Việt Nam thoát khỏi thế cấm vận và gia nhập ASEAN (1995) để mở đầu cho thời hội nhập.

Sau chiến thắng của hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ cùng với cuộc chiến ở hai đầu biên giới và sự tan vỡ tình thế hai phe, những sự kiện lịch sử như trên đã đưa Việt Nam vào một chuyển động chưa từng diễn ra trong lịch sử kể từ mở đầu thập niên 1990. Đó là sự xuất hiện nền kinh tế thị trường trong tư thế chủ động tham gia vào một cuộc hội nhập mới với khu vực, gắn với những tác động rộng lớn và sâu sắc vào mọi mặt sự sống con người của cuộc Toàn cầu hóa lần thứ 3 và Kỷ nguyên thông tin.

Như vậy là phải đến cuộc toàn cầu hóa lần thứ 3 gắn với kỷ nguyên thông tin ta mới có được tư thế chủ động trong các hoạt động có tính nhân loại, để kịp với tiến trình chung; với những Được và Mất có quy mô toàn cầu.

Các yếu tố trên quy định gương mặt dân tộc từ 1995 đến nay - trong độ dài trên 25 năm. Đó là 25 năm dân tộc đứng trước những cơ hội và thử thách gần như chưa có tiền lệ trong lịch sử. Hai mươi lăm năm với những thành tựu lớn và những mất mát lớn - cả hai tôi nghĩ là ngoài sức tưởng tượng. Nhìn vào cái Được trên mọi lĩnh vực: ăn, mặc, ở, đi lại, và các nhu cầu vui chơi - giải trí thì chưa có lúc nào bằng lúc này. Những tiệc nhậu triền miên, bia rượu tràn bờ, đủ sơn hào hải vị, ở một đất nước luôn luôn thiếu đói, sau hai trận đói lớn. Một là trận đói vào đầu năm Ất Dậu (1945) khiến hai triệu người chết. Và hai là cơn đói thời bao cấp kéo dài suốt thập niên 1980 khiến cho cả dân tộc ai cũng mang khuôn mặt của người "mất sổ gạo"... Những kiểu mốt thời trang không lúc nào là đủ cho mọi giới nghề nghiệp, mọi lứa tuổi. Những biệt thự, phủ đệ, nhà nghỉ và khu vui chơi, giải trí có ở khắp nơi. Phương tiện đi lại đắt nhất không thiếu. Những cuộc xem nghệ thuật nhiều triệu đồng thường cháy vé, và những tuor du lịch trong nước và khắp thế giới đều hết chỗ. Tất cả đó là biểu hiện trên bề mặt của sự phát triển kinh tế. Tất nhiên, những hưởng thụ như trên là chỉ dành cho một số người có tiền, có nhiều tiền; còn việc từ đâu mà có tiền như trường hợp của nhiều cán bộ cao cấp cùng nhiều đại gia khác trong bộ máy công quyền và giới doanh nhân đã phải ra hầu tòa và nhận tội thì phải tìm đến nhiều nguồn; và đây lại là câu hỏi cần một chuyên đề khác.

Trở lại câu chuyện Được - Mất. Được là được về kinh tế. Còn mất là mất về văn hóa, đạo đức, tinh thần... Trong rất nhiều cái mất, thì đau đớn nhất, khủng khiếp nhất vẫn là mất về luân lý, đạo đức, lối sống - thuộc khu vực văn hóa, và các mối quan hệ con người trong các cộng đồng, từ gia đình ra xã hội. Gia đình - đơn vị sống cơ bản của con người có nguy cơ tan rã; bởi ở đó, chữ hiếu bị một đòn tử thương, trong những vụ con cháu giết cha mẹ, ông bà. Còn xã hội là tình trạng bất an, do sự tràn lấn của cái ác, và cái giả. Cái ác thì thiên hình vạn trạng, trên mọi lĩnh vực, còn cái giả thì chỉ cần tiếp xúc với thực phẩm giả, phân bón giả, thuốc giả và bằng cấp giả - đủ thấy sự sống con người đang bị dồn đến chân tường như thế nào. Đó là những hiện tượng gắn trực tiếp với sự suy thoái đạo đức trong xã hội, đưa đến sự bất an, thậm chí làm rã rời các cộng đồng người trong dân tộc.

Tất nhiên, thực trạng vẫn là sự xen cài giữa thiện - ác, tốt - xấu, thực - giả. Nhưng những mặt tích cực lắm khi gần như bị chèn lấn, khuất lấp, bên cái tiêu cực gần như lộ diện ở khắp nơi, gồm cả đời sống công quyền, từ thấp lên cao; kể cả những khu vực lẽ ra là rất thiêng liêng, rất cao quý.

Tìm căn nguyên sâu xa cho những được - mất kể trên, đó là sự mất cân đối giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa; và suy cho cùng đó là sự coi nhẹ văn hóa, tức là sự coi nhẹ việc xây dựng Con người, bởi văn hóa - thực chất và cuối cùng là gắn với Con người. Và nói Con người, lại không thể bỏ qua khu vực giáo dục, từ nhiều chục năm qua đang trong một cơn suy thoái trầm trọng, bởi sự rời bỏ mục tiêu giáo dục làm người, dẫu những cấp báo về nó đã có từ rất sớm. Điều đó có nghĩa là 25 năm qua ta đã thiếu một cái nhìn xa về Con người, thiếu những chuẩn bị về Con người, cho một chuyển động, không chỉ là dữ dội mà còn là chưa có tiền lệ trong lịch sử dân tộc. Có nghĩa là ta đã vào cuộc với nhiều bỡ ngỡ và hăm hở, mà thiếu sót lớn là thiếu sự trang bị cho Con người - do vậy mà đến 1998 Đảng phải có một Nghị quyết riêng - Nghị quyết 05 - khóa VIII về vai trò và nhiệm vụ của văn hóa để xây dựng Con người. Ở Nghị quyết đó ta được thấy vai trò đặc biệt của văn hóa để chống đỡ với những tác động và tác hại của hội nhập và kinh tế thị trường; ở đó, đã cho thấy một công việc cấp bách là phải giữ gìn bản sắc riêng và truyền thống văn hóa dân tộc như một tễ thuốc kháng sinh, một vũ khí để tự vệ; để không tự đánh mất mình…

Một Nghị quyết đề cập toàn diện các phương diện của văn hóa, trong tương quan với đời sống chính trị - kinh tế - xã hội; với 5 quan điểm chỉ đạo:

"1. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

2. Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

3. Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

4. Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.

5. Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng."

So với 3 phương châm và cũng là 3 mục tiêu của hoạt động văn hóa trong Đề cương năm 1943; so với 3 cuộc cách mạng trong Cương lĩnh chính trị của Đảng ở Đại hội III - năm 1960; và 8 quan điểm cơ bản trong Đường lối văn nghệ của Đảng - năm 1968, thì Nghị quyết 05 - khóa VIII - 1998 là một phát triển vừa trên sự mở rộng, vừa là đào sâu vào những yêu cầu cốt lõi của văn hóa trong tương quan với những chuyển biến mới của dân tộc và thời đại.

Rõ ràng nói đến việc chuẩn bị về Con người ở Việt Nam ta thì, để đối phó với ngoại xâm, tình yêu nước, sẵn sàng hy sinh cho đất nước là một kho dồi dào, bất cứ lúc nào, bất cứ kẻ thù nào ta cũng đều có thể huy động. Nhưng để xây dựng và phát triển đất nước, trong thời bình; và nhất là trong bối cảnh một thế giới thay đổi trong gia tốc lịch sử lớn thì Con người Việt nói chung còn chưa đủ phẩm chất để đáp ứng bởi cái gốc nông dân, và căn rễ tiểu nông gắn quá sâu vào mọi lớp người, rất hiếm có ai là ngoại lệ. Những cái mất về văn hóa, về đạo đức, lối sống diễn ra có lúc gần như phủ khắp các tầng lớp cư dân, gồm cả bộ máy công quyền từ thấp lên cao đủ minh chứng cho điều đó. Có nghĩa là để giải quyết sự thiếu thốn văn minh, yếu kém văn hóa này rất cần trở lại sự thức nhận vai trò của văn hóa, xem văn hóa như một nền tảng tinh thần, một sức mạnh nội sinh của sự phát triển; và, cùng với văn hóa là giáo dục; phải thực sự xem giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhận thức đó, tiếp tục được thể hiện trong Nghị quyết 09 - khóa XI của Đảng, 16 năm sau, năm 2014, có tên: Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Tôi chú ý ở đây, trong Nghị quyết này có sự gắn nối Văn hóa với Con người. Và cũng ở Nghị quyết này, lần đầu tiên, sau 71 năm, kể từ Đề cương văn hóa - 1943, có thêm sự khẳng định: "Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội".

Vậy là, sau hơn 70 năm, trật tự và vị trí của Văn hóa đã được sắp xếp lại, để có được một tầm cao hơn, trong ngang bằng với Kinh tế và Chính trị. Hy vọng nhận thức này sớm được chứng nghiệm, bởi thực tiễn hôm nay sau 5 năm thực hiện Nghị quyết vẫn còn rất nhiều âu lo, rất lắm buồn phiền. Đầu tư cho văn hóa có thể bỏ ra nhiều chục nghìn tỷ để xây dựng cơ sở vật chất như quảng trường, rạp hát, khu lưu niệm, bảo tàng, trung tâm hành chính... trong khi nghệ nhân mòn mắt chờ trợ cấp vài triệu, các vở diễn không đủ tiền để dựng... Kinh phí cho giáo dục có thể phóng lên vài chục nghìn tỷ riêng cho việc viết sách giáo khoa, còn hàng triệu thầy, cô thì khó sống với đồng lương, học trò vùng sâu vùng xa thì cơm ăn không đủ. Chính những khu vực lẽ ra gắn với Con người nhất lại rất vô tâm với Con người. May mà một vài dự án như vậy đã phải dừng lại.

3. Vài suy nghĩ về mục tiêu và thực trạng

Giờ đây sau ngót 35 năm Đổi mới, trong đó có 20 năm hội nhập, để hướng tới một phát triển bền vững cho đất nước, nhìn từ văn hóa, đúc kết từ một lịch sử văn hóa như trên, tôi muốn tìm đến ba khu vực.

1. Một nền chính trị sáng suốt, có tầm cao về trí tuệ, có bề dày về văn hóa, hợp ý dân, được lòng dân - chịu được thử thách: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".

2. Một nền giáo dục được cải tạo và đổi mới triệt để, trên tất cả các cấp, các khâu. Ở khu vực giáo dục này, như nhiều năm nay đã làm, tôi thấy rất cần không chỉ một, mà nhiều Hội nghị Diên Hồng để tập hợp được trí tuệ của toàn dân. Bởi giáo dục là câu chuyện của nhiều năm, nhiều chục năm, chứ không phải một, vài năm, nó gắn bó và quyết định tương lai của dân tộc. Bởi giáo dục là câu chuyện có tác động xã hội rộng lớn phủ khắp nhiều chục triệu thanh, thiếu nhi ở học đường, và cũng chừng ấy các bậc bố mẹ, ông bà mất ăn, mất ngủ vì con cháu.

3. Một môi trường sống trong sạch, lành mạnh - không chỉ là sự giảm thiểu ô nhiễm từ các nguồn nước, không khí do rác thải và khí độc bao vây khắp chốn; mà nghiêm trọng hơn - là sự ô nhiễm về tinh thần bởi sự tràn lấn của cái ác, cái xấu, cái giả trong sinh hoạt thường nhật của con người; và sự lỏng lẻo, rời rã của các quan hệ xã hội.

Trong Nghị quyết mới của Đảng năm 2014 có việc đặt ngang nhau ba phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa; trên tinh thần khẳng định mạnh mẽ hơn nữa vai trò của văn hóa; nhưng xét đến cùng vẫn phải thấy mọi khởi đầu phải bắt đầu từ chính trị. Cần một nền chính trị anh minh và một bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh để giải quyết hài hòa hai phương diện sống cơ bản của con người là vật chất và tinh thần, là kinh tế và văn hóa, là sống cho sướng hơn và sống cho tốt hơn.

Cuối cùng tôi nghĩ là cần thiết, từ góc nhìn văn hóa để xác định những gương mặt đang và sẽ là chủ thể của tương lai. Nếu trong cách mạng và chiến tranh kéo dài hơn 40 năm, con người phải được trang bị bằng ý chí quyết chiến, quyết thắng trước mọi loại kẻ thù, với nhân vật trung tâm là công - nông - binh, là giai cấp công nhân và đội ngũ tiên phong của mình; thì trong thời bình và hội nhập, phẩm chất cơ bản của con người phải là hàm lượng trí tuệ và năng suất lao động, với nhân vật trung tâm - theo tôi, đó là lực lượng trẻtầng lớp trí thức và giới doanh nhân.

Từ những chuyển đổi làm nên gương mặt thời hôm nay, cần hướng tới một nhận thức mới về việc xây dựng con người - sao cho thích ứng và đáp ứng được yêu cầu của dân tộc đang trong một cuộc hội nhập lớn với khu vực và thế giới. Một thời đại như thế, ai là người có thể tiếp nhận, tiếp cận và làm chủ nó? Tất nhiên trước hết phải là những người trẻ tuổi chiếm tỷ lệ 40% dân số; với sức năng động, dám nghĩ, dám thử, dám làm nhờ vào những trang bị tốt trong khả năng am hiểu, nắm vững, và làm chủ các phương tiện thông tin; có tri thức phong phú, đầy đủ trên các lĩnh vực mũi nhọn; và rất chuyên nghiệp trên nghề nghiệp được chọn.

Phải xây dựng con người trên các yêu cầu mới của kỷ nguyên thông tin; và tin tưởng ở họ.

Nhìn lại lịch sử dân tộc Việt, đây chính là thế hệ từng làm nên các bước ngoặt trong các thời kỳ chuyển đổi của nó.

Để có được một lớp tuổi trẻ như vậy cần biết bao điều kiện. Họ cần được hưởng một nền giáo dục chu đáo, với những tri thức được trang bị đầy đủ, mà không nhồi nhét, đạt tầm khu vực và quốc tế. Được hưởng một bầu không khí trong lành từ gia đình ra mọi môi trường xã hội. Được hưởng sự thân thiện của bộ máy chính quyền từ thấp lên cao...

Sẽ rất khó khăn cho việc xuất hiện một đội ngũ trẻ như thế, nếu thiếu một hoặc tất cả những điều kiện ấy. Nếu xã hội, nếu bộ máy quản lý và thể chế chính trị không lo được, thì mỗi người, mỗi gia đình phải tự lo, bằng các cách chạy, từ chạy trường, chạy lớp, chạy xin việc cho đến chạy học bổng, chạy dự án để đi nước ngoài... Đó là tình hình đã diễn ra khá lâu, và chưa có dấu hiệu gì kết thúc.

Gương mặt thứ hai - rất cần được chăm nom, xây dựng để có được hình mẫu cho nó - đó là giới trí thức thuộc các lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn. Đây là yêu cầu đang thực sự nổi lên khi chúng ta đang nỗ lực xây dựng một xã hội học tập và một nền kinh tế trí thức; khi văn hoá đang trở thành "nền tảng tinh thần", "sức mạnh nội sinh" cho sự phát triển; khi sự phát triển về mọi phương diện của dân tộc phải dựa trên nền tảng văn hoá mới có thể giữ được cho dân tộc có gương mặt riêng, và bảo đảm được sự cân đối và bền vững mà không sa vào so lệch, khủng hoảng và suy thoái.

Gương mặt thứ ba là các doanh nhân trên mọi lĩnh vực sản xuất, lưu thông, lực lượng chủ chốt tạo nên sự phát triển, tăng trưởng của kinh tế - xã hội trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Đây là gương mặt mới, rất mới trong xã hội ta, sau một thời dài nhoà mờ, chìm nổi, bị phê phán hoặc kỳ thị, thậm chí là đối tượng số 1 của chuyên chính vô sản, qua các cuộc cải tạo giai cấp hữu sản và các cuộc đấu tranh tư tưởng.

Phải chờ cho đến bây giờ, khi đất nước bước vào hội nhập, thì gương mặt các giới doanh nhân mới có được vai trò quan trọng của nó cho nền kinh tế, và trở thành biểu tượng của cái mới, rất đáng tôn vinh qua hệ thống truyền thông.

Thời hiện đại do giai cấp tư sản tạo lập đã có lịch sử trên dưới năm thế kỷ ở phương Tây. Từ thời tích lũy nguyên thủy tư bản đến nay, cả thế giới cùng với gương mặt riêng của giai cấp tư sản đã chứng kiến những thay đổi khó có đầu óc giàu tưởng tượng nào mà hình dung nổi. Vị tỷ phú giàu nhất thế giới bây giờ là Bill Gäte có tài sản trên dưới 100 tỷ đô la, số lớn dùng làm việc thiện. Đánh giá công và tội của giai cấp tư sản là câu chuyện đã diễn ra cùng với lịch sử của nó. Nhưng lại có vấn đề vượt ra ngoài công và tội của một giai cấp, đó là vấn đề khẳng định sự phát triển chung của nhân quần và xã hội, từ thấp lên cao mà con người có thể rút ngắn, chứ không thể "bỏ qua" hoặc "đốt cháy" một cách tùy tiện, dễ dàng. Ý kiến sau đây của K. Marx rất đáng cho ta suy nghĩ: "Giai cấp tư sản không thể tồn tại nếu không luôn luôn cách mạng hóa phương tiện sản xuất, do đó cách mạng hóa những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hóa mọi quan hệ xã hội. Trái lại, đối với tất cả các giai cấp công nghiệp trước kia thì việc duy trì nguyên vẹn phương thức sản xuất cũ là điều kiện cho sự tồn tại của mình"(7).

Giờ đây, khi dấn sâu vào thế kỷ XXI, với hành trang tinh thần là chủ nghĩa yêu nước và khát vọng canh tân, chúng ta còn phải vượt rất nhiều rào cản và thử thách, trong đó thử thách lớn nhất là việc xây dựng và bồi đắp một bản lĩnh, một nền tảng văn hóa làm nên cái vốn Người (với ba thành phần cơ bản như trên); bởi chỉ với cái vốn Người chúng ta mới có thể chủ động trong hội nhập để đến với mục tiêu không chỉ của một thời, mà là cho muôn đời con cháu: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

 

Chú thích

(1). Các trích dẫn Đề cương... trong bài này, rút ở văn bản Đề cương về văn hóa Việt Nam, đăng trên Tiên phong số 1 (được xem là tái bản), ra ngày 10-11-1945.

(2). Sách Bàn về văn hóa, nghệ thuật; Tập II; Nxb. Văn học; 1986.

(3). Về phê bình văn học; Tạp chí Văn học số 11-1969.

(4). Tên một bài báo của Hoàng Trinh trên Tạp chí Văn học - 1965.

(5). Tên một bài báo của Mai Thúc Luân trên báo Văn hóa - 1963.

(6). Tên một vở kịch của Nguyễn Khải đăng trên Tác phẩm mới - 1974.

(7). Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản; Nxb. Sự thật; H; 1963; tr.26.

 

PGS.TS Nguyễn Đức Chiện

Đặt vấn đề

Nhiều công trình nghiên cứu trước về làng Việt truyền thống đã chỉ ra đặc trưng cơ bản của làng là một đơn vị kinh tế khép kín, chính trị mang tính tự trị - tự quản, văn hóa thể hiện tính cộng đồng (Nguyễn Văn Huyên, 1939; Trần Từ, 1984; Trần Ngọc Thêm, 1999; Ngô Đức Thịnh, 2001; Phan Ngọc, 2004). Có thể nói, tính cộng đồng là một giá trị văn hóa cốt lõi, quan trọng tạo nên bản sắc cộng đồng làng Việt ở miền Bắc. Khi đề cập đến tính cộng đồng trong văn hóa làng, các học giả nghiên cứu văn hóa thường trình bày với một nội dung khá rộng, bao gồm nhiều khía cạnh sinh hoạt khác nhau của đời sống, từ quan hệ trong gia đình, họ tộc, cho đến các mối quan hệ ngoài xóm làng như sự kiện lễ hội. Trong các mối quan hệ xã hội này, cá nhân, nhóm đã tham gia và ứng xử trong các sinh hoạt ở cộng đồng làng xã. Tìm hiểu về bản sắc làng Việt, nhất là đối với các làng Việt cổ truyền, chúng tôi nhận thấy, tính cộng đồng chính là giá trị văn hóa cốt lõi giữ vai trò quan trọng trong các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Nghiên cứu này chỉ tập trung tìm hiểu tính cộng đồng của văn hóa làng Việt qua hoạt động lễ hội truyền thống ở làng. 

Thực tế, trong xã hội của làng Việt trước đây đã tồn tại vô số các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Người ta gọi các lễ hội là các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng là có cơ sở khách quan của nó. Trong xã hội nông nghiệp cổ truyền ở Việt Nam trước đây, các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng vốn mang nhiều chức năng quan trọng, sự ghi ơn các tiền nhân có nhiều công đức; kỷ niệm và nhắc nhở về sự thay đổi thời tiết theo nông lịch; rồi vô vàn các nhu cầu khác nữa như cầu tài, cầu lộc, cầu an, v.v… Có thể nói, hình thức sinh hoạt văn hóa đó đều nhằm đề cao một hoặc một số giá trị xã hội và nhân sinh nào đó, song nhìn chung thì hướng tới việc tái khẳng định và thắt chặt hơn nữa các mối quan hệ cộng đồng của các thành viên tham dự.

Nhà nghiên cứu Đoàn Văn Chúc, khi bàn về chức năng của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng mà ông gọi là các lễ - tết - hội, đã viết: "Một ngày giỗ tổ họ (nhóm họ tộc) hoặc giỗ gia tiên (nhóm gia đình), các thành viên của nhóm hội tụ, biểu hiện giá trị của đối tượng bằng sự cử lễ, ấy là trong cùng một lúc họ biểu hiện giá trị của cái nhóm mà họ sở thuộc và là phần tử cấu thành. Do đó, sức cố kết xã hội được tái xác định, những rạn nứt, đố kỵ có khi cả những hận thù, diễn ra trong quan hệ hàng ngày được lắng dịu một phần, cũng có khi được xóa bỏ. Cũng là như thế về căn bản đối với các lễ kỷ niệm: khao vọng, ngày sinh, lễ tang, lễ cưới, lễ tiễn đưa, v.v… Ở đây, đằng sau và bên trong cái linh thiêng, huyền bí vốn bao phủ mọi lễ hội trong xã hội nông nghiệp cổ truyền, người ta thấy lễ hội có tính cứu cánh trần tục của nó. Bởi thế, người ta đã có thể qui cho các cuộc lễ chức năng xã hội đầu tiên là: Biểu hiện các giá trị xã hội của một cộng đồng và tái xác định những mối liên hệ đã gắn bó các nhóm lại với nhau" (Đoàn Văn Chúc, 1997:133).

Nói về các hình thức sinh hoạt văn hóa này, các nhà nghiên cứu thường phân chia thành hai phần: lễ và hội. Lễ là việc cúng tế, cúng bái các đối tượng được cử lễ với các nghi thức đã được định sẵn từ trước, còn hội là việc vui vẻ gặp nhau sau một thời gian xa cách (Nguyễn Lân, 2002:325 và 404). Đánh giá tác động của hai phần lễ và hội đối với việc nuôi dưỡng, củng cố các mối quan hệ cộng đồng, Đoàn Văn Chúc cho rằng nếu chỉ có những nghi thức lễ thuần túy (như tế lễ, cầu xin…), thì sự biểu hiện giá trị của đối tượng nhận lễ chỉ dừng lại ở hiệu quả ý tưởng tính, không hiện thực. Nhưng nhờ có phần hội, mà cụ thể là nhờ có những cuộc ăn uống, vui chơi của các thành viên trong tình thân thiện mênh mông, chan hòa mà sự "tái xác định lực cố kết trong lòng nhóm" mới trở thành toàn vẹn, hiện thực. Ông còn nói, cứ như thế, hàng tháng hay hàng năm (các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng) lặp đi lặp lại không mệt mỏi, làm cho đời sống của cư dân trong xã hội nông nghiệp, vốn đầy những nhí nhách và khó khăn gặm nhấm, mới trở thành bình thường, khả thể (Đoàn Văn Chúc, 1997: 133-134).

Đặt vấn đề trên bình diện hình thái kinh tế - xã hội, có thể nói, nếu như các nền tảng thuộc hạ tầng cơ sở như chế độ ruộng công, nghề trồng lúa nước hay các phương thức tổ chức và quản lý đã góp phần làm hình thành nên tính cộng đồng của làng Việt, thì việc thường xuyên củng cố và tái chuẩn nhận thuộc tính chung ấy lại là các nhân tố thuộc thượng tầng kiến trúc, mà tiêu biểu ở đây là các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng.

Giống như trong hoạt động kinh tế, trong tổ chức và liên kết xã hội, các dạng thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng ở làng Việt cũng luôn biến đổi và có những bước thăng trầm của chúng. Nếu như trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, các hoạt động này không chỉ diễn ra thường xuyên mà các nghi thức, thủ tục của chúng cũng rất phiền hà và tốn kém, thì từ sau năm 1945, nhất là ở thời kỳ hợp tác xã bao cấp, một số hình thức bị loại bỏ, số còn lại cũng được thu gọn và đơn giản hóa đi rất nhiều. Nhưng từ ngày Đổi mới (1986), các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng cổ truyền lại đang được phục hồi mạnh mẽ và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế - xã hội nơi làng xã.

Một điều cần nhấn mạnh ở đây là, bên cạnh sự nghiệp Đổi mới mà nội dung cơ bản là việc thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế thị trường, thì sự phục hưng các hình thức sinh hoạt văn hóa cổ truyền còn chịu thêm một lực tác động nữa - đó là tiến trình toàn cầu hóa. Vậy, trong bối cảnh của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay, giá trị văn hóa cộng đồng ở làng Việt đang diễn ra như thế nào? Chúng có tiếp thu thêm những yếu tố mới mà toàn cầu hóa mang lại hay không? Nếu có thì điều đó có ảnh hưởng gì đến các mối quan hệ cộng đồng và bản sắc làng Việt?

Động thái của tính cộng đồng trong sinh hoạt lễ hội ở làng Việt trong bối cảnh đổi mới và toàn cầu hóa

Vào bất cứ một làng Việt cổ truyền nào ở miền Bắc, chúng ta đều có thể bắt gặp mái đình, ngôi chùa, tiếp nữa là nghè, đền, am, miếu, rồi nhà từ đường/nhà thờ họ, cây hương, văn chỉ, v.v… Mỗi thiết chế văn hóa tâm linh ấy đều có các hình thức cúng lễ hoặc hội hè riêng với mục đích tăng cường sự thống nhất của các thành viên trong nhóm và cộng đồng làng. Tiêu biểu nhất cho các hình thức sinh hoạt văn hóa cổ truyền ấy là lễ hội đình để cúng tế thành hoàng, vị thần bảo trợ của làng.

Sự biến đổi về nghi thức trong lễ hội làng qua các giai đoạn lịch sử khác nhau

Đối với người Việt, nhất là cư dân ở nông thôn trong các làng ở miền Bắc, lễ hội làng là điều không thể thiếu trong đời sống tâm linh của họ. Ngày vào đám hay vào hội, ngoài các dòng họ, các phe giáp, thì hầu như nhà nào cũng làm cỗ, trước là tế lễ để tỏ lòng thành kính đối với vị thành hoàng, sau là họp mặt cháu con để ăn uống. Nói về lễ hội làng, ông Nguyễn Văn Huyên, trong công trình Văn minh Việt Nam, đã viết: "Sự thờ cúng đã được lưu truyền từ nhiều thế kỷ (…). Những sức sống đó góp phần tạo cho việc thờ cúng này cái khung cốt vững chắc hơn khung cốt của một tôn giáo bình thường. Tục thờ thành hoàng đã trở thành một lực cố kết, trong tổ chức của làng xã, hệ trọng và vững vàng đến nỗi nó có thể chống chọi thắng lợi với mọi toan tính qui định của Nhà nước" (Nguyễn Văn Huyên, 2005:161). Và, cứ lặp đi lặp lại như thế hàng năm, các lễ hội làng đã góp phần củng cố và tái chuẩn nhận tính cộng đồng của người Việt nơi làng xã.

Nhưng lễ hội làng cũng đã trải qua những bước thăng trầm không tránh khỏi. Kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhất là trong thời kỳ hợp tác xã bao cấp, các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng cổ truyền, trong đó có lễ hội làng, cứ mỗi ngày lại thưa vắng dần trong các hoạt động văn hóa mang tính cộng đồng của làng Việt. Một phần, đó là do sự tàn phá của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Song, mặt khác cũng là do quan niệm tả khuynh, ấu trĩ của một thời đã qua. Lúc bấy giờ người ta cho rằng tất cả những di tích lịch sử như đình chùa, đền, miếu, nhà từ đường, cũng như các lễ nghi thờ cúng, lễ hội, hay việc giỗ tổ họ, v.v… đều là những tàn dư của xã hội thực dân và phong kiến, vì vậy, cần phải xóa bỏ.

Theo các thông tin phỏng vấn sâu hồi cố trong một nghiên cứu của (Trần Nhật Hoàng, 2017) tại một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng sông Hồng cho thấy thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám ở Liên Đàm có ngôi đền rất lớn, nổi tiếng trong vùng xứ Kinh Bắc, trong ngôi đình chùa này có nhiều tượng phật quý hiếm. Tuy nhiên, những di tích quan trọng này đã bị người dân và chính quyền bỏ đi vào những năm tiến hành cải cách ruộng đất. Cũng theo thông tin phỏng vấn sâu một người dân trong làng Liên Đàm cho biết, "năm 1947 ngôi Đền bị phá, năm 1971 phá chùa, phá đình, cũng trong thời gian này v.v...". Cũng trong hoàn cảnh tương tự như Liên Đàm, Quỳnh Đôi là một làng Việt ở Bắc Trung bộ có lịch sử lâu đời, theo nhiều tài liệu nghiên cứu cho biết làng Quỳnh Đôi có lịch sử hơn 600 năm, nhiều di tích lịch sử như đình, chùa, đền, miếu, nhà từ đường đã được người dân dựng lên để trở thành nơi sinh hoạt của cộng đồng. Trong số các di tích còn lại và đang được khôi phục hiện nay là đình, đền, miếu và từ đường. Mặc dù, các di tích này có từ lâu nhưng nó cũng bị lãng quên trong nhiều thập kỷ qua và hiện nay đang từng bước được khôi phục trở lại (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013).

Tuy nhiên, từ ngày Đổi mới (1986), nhất là từ sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (thường gọi là khoán 10), với việc công nhận hộ gia đình nông dân là đơn vị tự chủ trong sản xuất, kinh doanh và giao khoán ruộng đất lâu dài cho họ thì tình hình đã thay đổi rất căn bản. Đầu những năm 1990, trong một công trình nghiên cứu về cải cách kinh tế và tăng cường lễ nghi ở hai làng Sơn Dương và Hoài Thị ở đồng bằng và trung du Bắc bộ, nhà nhân học Lương Văn Hy đã rút ra những nhận xét rất sâu sắc. Ông viết: "Tôi cho rằng ở cả Sơn Dương và Hoài Thị trong những năm 80, cải cách kinh tế đã có hai ảnh hưởng quan trọng đến tập tục lễ nghi của hai địa phương trên. Trước hết, thặng dư kinh tế ngày càng tăng và sự chuyển dịch khỏi nông nghiệp tập thể hóa tiến đến sản xuất hộ gia đình trong một nền kinh tế nhiều thành phần đã tăng cường mạnh mẽ các lễ nghi bên trong cũng như bên ngoài dòng họ. Lễ nghi và hệ thống tiệc tùng qua lại đã tăng cường quan hệ xã hội trong một cộng đồng nông nghiệp luôn bị những đe dọa tự nhiên đối với cuộc sống và càng ít có trợ giúp của nhà nước" (Lương Văn Hy, 1994: 437-438). Cho đến những năm 2000, nhà nghiên cứu văn hóa học Lê Hồng Lý, trong khi nghiên cứu về làng Cổ Mễ (thuộc Bắc Ninh) và tín ngưỡng bà Chúa Kho, cũng cho rằng khi kinh tế trở nên ổn định và ngày càng giàu có hơn, người dân đã tích cực phục hồi lễ nghi, lễ hội, các di tích, cũng như các sinh hoạt văn hóa cộng đồng nói chung (Dẫn theo Nguyễn Thị Phương Châm, 2010: 493).

Cũng như vậy, từ ngày Đổi mới (1986) đến nay, các bằng chứng của hai cuộc nghiên cứu cho thấy ở Liên Đàm và Quỳnh Đôi đã và đang có sự phục hưng các tập tục và lễ nghi cổ truyền một cách rất mạnh mẽ. Trong gia đình, nhà nào cũng có bàn thờ gia tiên, ngoài ngày giỗ gia tiên thì các ngày sóc (mồng một), ngày vọng (rằm) đều khói hương nghi ngút. Trong các dòng họ, người ta xây lại mộ tổ, trùng tu hay xây mới các từ đường, lập lại gia phả và chắp nối lại các quan hệ dòng họ đã phiêu tán nhiều nơi. Thực tế này được phản ánh rất rõ trong các phỏng vấn sâu người dân ở hai làng,  "Họ tộc Nguyễn Thời là một dòng họ lớn không chỉ trong làng mà còn được xem là một dòng họ lớn ở xứ Kinh Bắc này. Nếu tính đến nay dòng họ này đã có lịch sử khoảng hơn 600 năm. Dòng họ có từ đường, văn bia, hoành phi câu đối, tộc phả, và nhiều hiện vật cổ kinh có giá trị. Sau nhiều thập kỷ nhà thờ bị bỏ hoang đã được khôi phục gần đây" (Nam, 61 tuổi, làng Liên Đàm, Yên Thường, Gia lâm, Hà Nội).

Ra đến làng xã, một sự kiện đáng quan tâm nữa là việc tu bổ, xây mới các đình chùa, đền miếu, sưu tầm và dịch lại các thần tích, thần phả, sắc phong, v.v…

Khi tiến hành tìm hiểu riêng về ngôi chùa và lễ hội của hai làng khảo sát cho thấy ở Liên Đàm và Quỳnh Đôi mặc dù cùng trong hoàn cảnh bị lãng quên nhiều thập kỷ nhưng mức độ và thời điểm khôi phục diễn ra khác nhau. Ở Liên Đàm, các cơ sở vật chất của đình chùa, đến, miếu đã bị phá bỏ đi hoàn toàn. Thông tin phỏng vấn sâu một nam giới cao niên đã tham gia làm cán bộ trong làng nhiều năm cho biết: vào năm 1995, địa phương xây dựng nhà văn hóa, và cũng năm đó chính quyền và người dân bắt đầu khôi phục lại lễ hội truyền thống của làng. Ngày lễ hội truyền thống của làng hiện nay được tổ chức vào dịp đầu năm (trong hai ngày 19 và 20 tháng 3 âm lịch). Mặc dù lễ hội làng được khôi phục trước đó một thập kỷ, nhưng phải đến năm 2006 - 2007, bằng nguồn kinh phí địa phương và đóng góp của người dân trong làng, Liên Đàm mới có điều kiện khôi phục lại ngôi chùa. Ngôi chùa được dựng lại thì một không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng cũng được tái tổ chức trở lại. Hiện nay, trong chùa có một thầy chủ trì, trông coi, làng cũng thành lập ra ban chấp hành chùa gồm 5 ông bà trong ban chấp hành hội người cao tuổi; ban khánh tiết gồm có 8 phụ nữ trong hội người cao tuổi có trách nhiệm tham gia quét dọn và tổ chức các nghi lễ ngày lễ tết, ngày rằm, mồng một. Nghiên cứu ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An cũng cho thấy ngôi chùa đã bị phá hủy và đến nay vẫn chưa được khôi phục, tuy nhiên, đình làng vẫn còn giữ nguyên hình dáng và hàng năm được sửa chữa, từ năm 2012 được sự hỗ trợ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, địa phương đã khôi phục lại lễ hội truyền thống Kỳ Phúc. Nghiên cứu cho thấy một điều đáng quan tâm là khi những cơ sở đình, chùa được sửa chữa khôi phục thì các sinh hoạt mang tính văn hóa cộng đồng cũng được tái hồi sinh tạo làm cho sự kết dính trong cộng đồng phát triển trở lại.

Mối liên kết cộng đồng trong sự kiện lễ hội làng Việt

Nhìn chung, kết quả khảo sát thực địa tại hai làng cho thấy tâm trạng người dân rất ủng hộ việc trùng tu di tích và khôi phục lễ hội truyền thống của làng. Mỗi dịp làng tổ chức các sự kiện liên quan đến các hoạt động này thì người dân rất quan tâm. Chẳng hạn, tổ chức lễ hội, người dân đã tham gia vào tất cả các hình thức tham gia như: đóng góp tiền, cung tiến hiện vật, đóng góp công sức lao động, tham gia tổ chức rước lễ, v.v… Khi xử lý số liệu khảo sát cho thấy người dân tại hai làng cho biết đều tham gia vào tất cả các hoạt động của lễ hội, trong đó nhiều người tham gia vào nhiều hoạt động của lễ hội. Hoạt động tham gia đóng góp tiền chiếm tỷ lệ cao nhất 78%, tham gia rước lễ 27%, tham gia đóng góp công sức 12,3%, ý kiến, cung tiến hiện vật 8,4% (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013). Như vậy, kết quả cho thấy người dân ở hai làng đều tham gia vào hoạt động của lễ hội. Tuy nhiên, lựa chọn tham gia vào các hoạt động trong lễ hội là khác nhau. Sự tham gia này của cá nhân bị quy định bởi những điều kiện, hoàn cảnh cũng như sở thích cá nhân. Điều quan trọng là những con số về sự tham gia lễ hội của người dân ở hai làng phần nào cho chúng ta thấy lễ hội vẫn là sự kiện gắn kết các cá nhân trong làng.

Kết quả khảo sát cũng cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa người dân hai làng trong việc tham gia vào các hoạt động lễ hội. Chẳng hạn, hình thức tham gia đóng góp tiền khi làng tổ chức lễ hội, trong khi có đến 95,4% người trong mẫu khảo sát ở Liên Đàm cho biết có đóng góp tiền khi làng tổ chức lễ hội, thì tỷ lệ này ở Quỳnh Đôi là 4,6%. Tương tự ở hình thức cung tiến hiện vật và đóng góp công sức khi làng tổ chức lễ hội, Liên Đàm đều có số lượng người tham gia đông hơn (Cung tiến hiện vật, có đến 90,5% người trong mẫu ở Liên Đàm tham gia cung tiến hiện vật, trong khi tỷ lệ này ở Quỳnh Đôi là 9,5%. Về hoạt động đóng góp công sức, trong khi có đến 66,3% người ở Liên Đàm cho biết đã tham gia đóng góp công sức khi làng tổ chức lễ hội, thì tỷ lệ này ở Quỳnh đôi là 33,7%). Tuy nhiên, ở hình thức chỉ tham gia rước lễ và hình thức chỉ đi dự lễ hội thì Quỳnh Đôi lại có tỷ lệ cao hơn. Chẳng hạn, ở hình thức chỉ tham gia rước lễ, trong khi có đến 72,8% những người trong mẫu khảo sát ở Quỳnh Đôi cho biết chỉ tham gia rước lễ khi làng tổ chức lễ hội, thì tỷ lệ này ở Liên Đàm là 27,2% (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013). Các số liệu vừa phân tích cho thấy cách ứng xử của người dân hai làng là rất khác nhau. Người dân ở Liên Đàm có xu hướng đóng góp những giá trị vật chất, kinh tế mỗi khi làng mở hội, trong khi người dân Quỳnh Đôi lại hướng đến lễ hội với việc đóng góp những giá trị công sức.

Khảo sát cũng cho thấy một biểu hiện mới trong lễ hội hiện nay là dấu hiệu của tính thương mại hóa trong lễ hội, người dân phải tham gia đóng góp về tài chính, kinh tế cho tổ chức lễ hội, điều này được thể hiện khá rõ trong việc tổ chức lễ hội hàng năm ở Liên Đàm. Kết quả phỏng vấn sâu hồi cố cho thấy, xưa kia, việc tham gia lễ hội của làng là một sự kiện quan trọng hàng năm của mỗi người. Vào những ngày lễ hội, không chỉ những người có chức trách đứng ra tổ chức mà tất cả các thành viên của làng không phân biệt già, trẻ, gái trai, giàu nghèo, không chỉ những người đang sống trong làng mà cả những người đi làm ăn xa - tất cả đều mong muốn được tham dự. Tuy nhiên, hiện nay, bên cạnh sự náo nức muốn tham dự lễ hội làng, thì ở nhiều nơi, người ta nâng khoản đóng góp cho lễ hội làng khá nặng, làm cho không ít người phải lo ngại. Để hiểu được tình cảm thực sự của người dân trong tham gia lễ hội làng ở Liên Đàm và Quỳnh Đôi, chúng tôi đã phỏng vấn sâu ý kiến người dân: "Hiện nay, nếu tổ chức lễ hội phải có tiền, mỗi khi địa phương tổ chức lễ hội phải huy động nhân dân tham gia đóng góp. Năm ngoái ở làng này tổ chức lễ hội mỗi khẩu phải đóng 100.000đ, gia đình tôi có 4 người phải đóng 400.000đ, cộng với ủng hộ 100.000đ, tổng cộng gia đình đã đóng cho địa phương 500.000đ. Mức đóng góp này cũng có gia đình sẵn sàng tham gia đóng góp cho tổ chức lễ hội, cũng có gia đình nghèo thì việc đóng góp này rất khó khăn và họ không muốn tổ chức lễ hội. Nhưng không có tiền thì không làm được lễ hội vì muốn chương trình văn nghệ hay phải thuê đoàn văn công về biểu diễn, các trò chơi của lễ hội như bóng chuyền, cầu lông, chọi gà, thả chim cũng phải có kinh phí mời người ta ở các nơi về thi đấu mới hay"  (Nam, 37 tuổi, mức sống trung bình, Liên Đàm, Yên Thường, Gia Lâm, Hà Nội).

"Năm ngoái địa phương có làm lễ hội, cũng mời đoàn múa rối nước Trung ương về biểu diễn, chương trình ca nhạc và nhiều trò chơi khác, nhưng gia đình tôi không phải tham gia đóng góp chỉ đi xem, địa phương có nhà tài trợ" (Nữ, 41 tuổi, mức sống trung bình, Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An).  

Để khai thác sâu hơn hành vi của người dân ở hai làng khi tham gia lễ hội truyền thống của làng hàng năm, chúng tôi đã tìm hiểu đánh giá của người dân về hội làng có ý nghĩa nào đối với mỗi người dân?  Kết quả cho thấy phần lớn (73,2%) người trong mẫu phỏng vấn cho rằng lễ hội làng là dịp người dân bày tỏ lòng biết ơn, 69,7% ý kiến cho rằng dịp khẳng định danh tiếng của làng, 64,5% ý kiến cho rằng dịp vui chơi giải trí, 8,4% ý kiến cho rằng dịp cầu tài, cầu lộc (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013).

Kết quả khảo sát cũng cho thấy có khác biệt giữa hai làng ở tất cả các hình thức trả lời. Chẳng hạn, ở phương án trả lời "lễ hội có ý nghĩa để thành viên trong làng gắn bó nhau", có đến hơn một nửa (58,3%) những người trong mẫu phỏng vấn ở Quỳnh Đôi trả lời có ý nghĩa thành viên trong làng gắn bó nhau, trong khi tỷ lệ này ở Liên Đàm chưa được một nửa (41,7%). Tương tự, ở phương án "lễ hội là dịp khẳng định danh tiếng và truyền thống của làng", có đến hai phần ba (70,2%) những người trong mẫu phỏng vấn ở Quỳnh Đôi cho rằng lễ hội là dịp khẳng định danh tiếng và truyền thống của làng, trong khi tỷ lệ này ở Liên Đàm là 29,8% (Mai Văn Hai, Nguyễn Đức Chiện, Nguyễn Tuấn Anh, 2013).

 Thay lời kết

Công cuộc Đổi mới ở nước ta, các phong tục cổ truyền, trong đó có  hình thức sinh hoạt lễ hội thể hiện giá trị cốt lõi của văn hóa cộng đồng nơi làng xã đang có sự phục hưng rất mạnh mẽ. Nếu như ở thời bao cấp (từ năm 1986 trở về trước) hình thức sinh hoạt văn hóa lễ hội cổ truyền phần nào đã bị chìm lấp đi đằng sau các hoạt động của hợp tác xã và các đoàn thể xã hội như hội phụ nữ, đoàn thanh niên, thì ngày nay, cùng với việc khôi phục lại chức trưởng thôn cũng như xác nhận quyền tự chủ trong sản xuất và kinh doanh của các hộ gia đình nông dân, hình thức sinh hoạt văn hóa lễ hội trong cộng đồng làng xã cũng được trả lại theo dòng chảy tự nhiên và bình thường của chúng.

Nhưng vấn đề đặt ra không chỉ là sự cởi mở trong chính sách Đổi mới của nhà nước, sự phục hưng mạnh mẽ của hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng ở làng Việt hiện nay, theo chúng tôi, cũng còn có cơ sở khách quan của nó là nền kinh tế tiểu nông. Phải nói rằng từ khi hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo kiểu cũ bị giải thể, ruộng đất được giao khoán lâu dài cho các hộ gia đình nông dân, thì về thực chất, ở nông thôn Việt Nam, trong đó có hai làng Liên Đàm và Quỳnh Đôi, đã tái lập trở lại nền kinh tế tiểu nông tư hữu. Mà kinh tế tiểu nông tư hữu, như đã nói, chính là một trong những cơ sở/nguồn gốc hình thành nên tính cộng đồng làng xã.

Tuy nhiên, trong bối cảnh của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay, sinh hoạt văn hóa lễ hội cộng đồng ở làng Việt thuộc Bắc bộ và Bắc Trung bộ cũng có những đổi thay nhất định. Điều này được thể hiện ở một số điểm như sau:

Sinh hoạt văn hóa cộng đồng qua lễ hội hiện nay đều được thực hiện rất ngắn gọn (chỉ diễn ra trong một ngày), sau đó mọi công việc sản xuất và sinh hoạt lại được tiếp tục bình thường, không vì các lễ thức này mà làm đình đốn các công việc khác.

Sự biến đổi của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, như đã nêu, đã diễn ra theo hai xu hướng: một mặt không ngại tiếp thu các yếu tố mới mà toàn cầu hóa mang lại (như trang phục, đồ ăn thức uống, cách thức và các phương tiện giao tiếp…), song cũng sẵn sàng tước bỏ đi những nghi tiết rườm rà, rối rắm.

Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, trong việc phục hưng hình thức sinh hoạt văn hóa cổ truyền cũng đang làm nảy sinh một số hủ tục mới, mà nổi bật hơn cả là xu hướng thương mại hóa. Trong các lễ hội làng thì ngoài việc đóng góp không nhỏ của cư dân, cũng có hiện tượng thu tiền quá mức đối với khách thập phương từ xa tới khi họ muốn thăm viếng danh lam hoặc tham gia vào một thứ trò chơi nào đó. Tất cả những điều đó làm cho không ít người có cảm giác dường như việc sinh hoạt văn hóa cộng đồng mất dần đi các sắc thái khởi nguyên vốn có của nó.

Đến đây, vấn đề được đặt ra từ đầu vẫn rất cần được nhắc lại: đó là cần đánh giá như thế nào về sự phục hưng và biến đổi của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng trong bối cảnh của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay ở nước ta? Chúng tôi cho rằng, các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng chính là một sản phẩm thuộc thượng tầng kiến trúc của đời sống kinh tế - xã hội nơi làng Việt, vì vậy khi hạ tầng cơ sở của nó đã thay đổi (ở đây là tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế thị trường) thì tất yếu các hình thức sinh hoạt văn hóa cổ truyền này cũng phải biến đổi theo. Trong quá trình biến đổi đó, việc tiếp thu thêm các yếu tố và giá trị mới, đồng thời gạt bỏ đi những gì đã lạc hậu, lỗi thời cũng là lẽ đương nhiên. Còn những hiện tượng mới nảy sinh như xu hướng thương mại hóa trong lễ hội, thì theo thiển nghĩ của chúng tôi, đó chỉ là những hiện tượng không tránh khỏi của một xã hội đang chuyển đổi.

Và, sau cùng, sự biến đổi của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng có ảnh hưởng ra sao đến bản sắc làng Việt? Chức năng quan trọng của các hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng chính là nhằm củng cố, thắt chặt và tái chuẩn nhận tính cộng đồng nơi làng xã. Thế mà, trong bối cảnh của tiến trình toàn cầu hóa hiện nay, hoạt động lễ hội ở nông thôn đã cho thấy: các quan hệ cộng đồng không những không mất đi, mà còn được mở rộng từ gia đình, họ hàng đến làng xã và thậm chí cả ở bên ngoài làng xã nữa. Như vậy, rõ ràng là bản sắc làng Việt không mất đi, nó chỉ đang vận động, biến đổi cho phù hợp với bối cảnh chung của đời sống kinh tế - xã hội cũng đang chuyển đổi sang một giai đoạn mới.

 

Tài liệu trích dẫn

1. Đào Duy Anh (1938), Việt Nam văn hóa sử cương, Quan hải tùng thư xuất bản, Huế.

2. Toan Ánh (2005), Nếp cũ con người Việt Nam, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.

3. Nguyễn Thị Phương Châm (2010), Khi làng vươn ra phố: những xu hướng biến đổi văn hóa. Trong sách Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: những cách tiếp cận nhân học, Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.

4. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hóa học, Viện Văn hóa và Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

5. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb. Văn hóa - Thông tin và Tạp chí Văn hóa - Nghệ thuật, Hà Nội.

6. Lương Văn Hy (1994), Cải cách kinh tế và tăng cường lễ nghi tại hai làng miền Bắc Việt Nam. Trong sách Những thách thức trên con đường cải cách ở Đông Dương, do Borje Ljunggren chủ biên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

7. Nguyễn Văn Huyên (2005), Văn minh Việt Nam, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

8. Phạm Côn Sơn (1999), Gia lễ xưa và nay, Nxb Thanh niên, Hà Nội.

9. Lê Trung Vũ và cộng sự (2007), Nghi lễ vòng đời người, Nxb Hà Nội, Hà Nội.

10. Trần Quốc Vượng (2000), Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn hóa dân tộc và Tạp chí Văn hóa - nghệ thuật, Hà Nội.

11. Mai Văn Hai, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Đức Chiện, 2013,  Bản sắc làng Việt trong tiến trình toàn cầu hóa, Nxb Khoa học Xã hội

12. Trần Nhật Hoàng (Nguyễn Đức Chiện giáo viên hướng dẫn). 2017, Sự tham gia của các tổ chức xã hội trong hoạt động tổ chức lễ hội ở làng xã hiện nay, Luận văn ngành Xã hội học, Khoa Lý luận Chính trị, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

 

Minh Tuệ

Đọc nhiều nghiên cứu về làng xã và thỉnh thoảng hay bị ám ảnh bởi cấu trúc cảnh quan cây đa - bến nước - mái đình cũng như những yếu tố được các nhà nghiên cứu đề cập đến đàng sau những cấu trúc đó. Nó làm cho người ta cứ hay nhìn xung quanh mình để tìm về những yếu tố cảnh quan đã được định hình trong nhận thức khi tìm về một làng xã truyền thống nào đó. Bản thân từ "truyền thống", vốn cũng mù mờ và vô cùng trừu tượng, chẳng có gì rõ ràng cả. Nhất là khi đặt "truyền thống" trong một diễn tiến thời gian thì thật khó để thấy cái gì là truyền thống, bởi cuộc sống luôn luôn thay đổi, con người luôn thích ứng không chỉ để sinh sống mà còn để phát triển, để sống tốt hơn. Ấy vậy mà đến nay, truyền thống vẫn như một con "ngáo ộp" (theo cách nói của TS Nguyễn Công Thảo) ám ảnh đến nhiều người. Thật lạ hơn là có những người dù không thấy, không hiểu vẫn cố gắng đi tìm những cấu trúc truyền thống của một làng quê nào đó để chứng minh làng đó là "truyền thống". Nhắc đến làng, không có cây đa, bến nước, mái đình, hoặc chỉ có một vài yếu tố thì có làm cho cái làng đó mất đi "truyền thống" không? Và xét cho cùng, "truyền thống" là cho tất cả mọi người hay cho một số người, một cộng đồng trong một giai đoạn nhất định? Nghe vậy nhưng không dễ để trả lời cho những câu hỏi này. Bởi cảnh quan của làng xã luôn gắn với tính cụ thể và cả tính vùng miền nữa. Làng xã Việt Nam đa dạng vô cùng và cấu trúc làng xã truyền thống được nói nhiều kia là đề cập đến làng xã ở vùng đồng bằng Bắc bộ trước đây. Nếu cứ mang cấu trúc đó xem xét ra các vùng miền khác, có thể sẽ đưa nhà nghiên cứu đi theo hướng khác. Vậy nên, khi nói đến làng thì cần xem xét cụ thể và trong bối cảnh, đối tượng của thể. Để thảo luận thêm về vấn đề này, bài viết này đề cập đến cảnh quan của một làng cụ thể ở Nghệ An và sự thay đổi cảnh quan đó qua tâm thức của những người già, vốn là chủ thể của làng đó trong hơn một nửa thế kỷ qua.

Làng tôi hiện tại

Làng ở Nghệ An khá đa dạng. Theo điều kiện tự nhiên thì có làng vùng ven biển, làng vùng đồng bằng, làng vùng trung du và làng ở miền núi. Theo nghề nghiệp cũng có làng nghề thủ công là chính, làng nghề nông nghiệp là chính, làng nghề thương nghiệp là chính. Sự phân chia như vậy đương nhiên là tương đối, vì xét cho cùng thì không có một làng nào chỉ sinh sống bằng một nghề, mà chủ yếu là làng hỗn hợp với nhiều nghề khác nhau, trong đó có những nghề quan trọng. Mỗi vùng miền như vậy lại có những mô hình làng xóm khác nhau. Vậy nên, nói để tìm kiếm một làng tiêu biểu, điển hình cho truyền thống xứ Nghệ làm đối tượng nghiên cứu là rất khó, nếu không muốn nói là không thể. Với lại, làng nào cũng có truyền thống, chỉ là cách hiểu truyền thống như thế nào mà thôi. Trong bối cảnh đa dạng về mô hình, cơ cấu làng thì khó để lựa chọn cái gọi là điển hình. Vậy nên, để tìm hiểu về biến đổi cảnh quan làng trong mấy thập kỷ qua, chúng tôi lựa chọn một làng quê ngẫu nhiên ở nông thôn làm đối tượng khảo sát. Dù có thể hơi chủ quan, nhưng lựa chọn vùng quê mình sinh ra để tiến hành khảo sát vẫn được nhiều nhà nghiên cứu từng tiếp cận. Bởi ở đó có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc khảo cứu. Bên cạnh có được quá trình trải nghiệm, hiểu biết trong một thời gian nhất định khi sinh sống ở quê nhà thì còn nhiều mối quan hệ và mạng lưới xã hội sẵn có để giúp cho nhà nghiên cứu có điều kiện tiếp cận dễ dàng hơn. Vì nếu đến một địa bàn mới, người ta phải bắt đầu xây dựng mạng lưới xã hội và tìm hiểu tổng quan từ đầu trước khi đi sâu vào vấn đề chính mà mình quan tâm.

Quê tôi ở một xã thuộc vùng trung du của huyện Thanh Chương, thuộc khu vực phía Đông, gần giáp giới với huyện Nam Đàn. Nếu khu vực thượng lưu và phía Tây, Tây Nam huyện Thanh Chương là vùng núi thì vùng quê tôi lại tương đối bằng phẳng hơn. Phía Nam vùng này là dòng sông Lam, mà người quê tôi hay gọi là "rào Cấy" hay sông Cả, nghĩa là con sông lớn. Phía Bắc có một con sông nhỏ, là một nhánh của sông Lam, được gọi là Rào Gang. Một số tên gọi như Cầu Gang (hay Cầu Rào Gang), gạch ngói Rào Gang,… là vì nó gắn với con sông nhỏ này. Trong xã có một số ngọn núi nhỏ mà người địa phương gọi là rú. Lớn nhất là rú Ó, rồi rú Đờng, rú Giếng…. Đây là những ngọn núi trọc, gần như không có cây xanh. Bao quanh xã là hệ thống đất ruộng và đất bãi, đất đồng để người dân canh tác nông nghiệp. Đất bãi trồng hoa màu chủ yếu như lạc, ngô, đậu ở khu vực ngoài đê, dọc sông Lam. Một phần đất trong đê gọi là đất đồng trồng hoa màu nhưng diện tích ít hơn so với đất bãi. Tuy nhiên, đất đồng trồng trọt ổn định hơn do ít bị ảnh hưởng của mưa lũ từ nước sông dâng lên vì được hệ thống đê bảo vệ. Xóm nào cũng có cả ba loại đất này để chia cho người dân canh tác. Trước 1945, vùng này thuộc tổng Xuân Lâm. Về cơ bản, toàn bộ xã hiện nay thuộc vào hai làng khác nhau là làng Xuân Bảng và làng Phúc Yên. Sau này được chia tách ra thành xã với 10 xóm, gần đây lại tiếp tục sáp nhập các xóm và có thể sắp tới lại nhập xã. Nhưng sự thay đổi của các đơn vị hành chính hiện nay không làm ảnh hưởng quá nhiều đến cảnh quan của làng xóm. Nhưng trước đây thì đó lại là nhân tố tác động mạnh. Các sinh hoạt văn hoá cộng đồng trong xã hiện nay chủ yếu tổ chức ở sân vận động và hội trường ủy ban xã. Về văn hoá tâm linh thì hiện nay trong xã có đền Hữu là di tích lịch sử cấp quốc gia, được cộng đồng dân cư ở đây xây dựng, tu bổ và hương khói từ hàng thế kỷ nay. Không chỉ trong xã mà người dân ở các xã lân cận hàng tháng cũng đến thắp hương dâng lễ tại đền. Lễ hội của xã hiện nay cũng gắn với việc rước kiệu từ đền và tổ chức các sinh hoạt khác tại trung tâm xã. Các dòng họ trong xã đều có nhà thờ tổ tiên và hầu hết các lễ lớn liên quan đến dòng họ đều được tổ chức tại đây. Trong xã còn có một xóm có nhiều đồng bào Công giáo sinh sống và có một nhà thờ Đức Chúa đồ sộ được người dân xây dựng để thực hành đời sống tôn giáo.

Làng tôi hiện tại, nói đúng hơn là xóm tôi, cũng như nhiều xóm khác, được bao quanh bởi các con đường bê tông sạch sẽ chạy xuyên vào các ngõ ngách trong làng. Có một con đường nhựa lớn, là đường liên huyện, bắt nguồn từ đường quốc lộ chạy xuyên từ đầu đến cuối làng rồi ra đến uỷ ban và nối với các đường khác để đi qua các xã khác. Là một làng xóm thuộc khu vực trung du nên cũng có nhiều nét riêng biệt. Quanh làng có một số ngọn núi nhỏ, là khu vực đất mộ táng, nơi tập trung hầu hết nghĩa địa của các dòng họ trong cả xã. Dọc các đường lớn có nhiều ki ốt hàng quán bán tạp hoá và các loại hàng hoá thiết yếu cho đời sống người dân trong vùng. Các con đường ra giữa các cánh đồng, các thửa ruộng cũng được mở rộng và chắc chắn hơn. Hiện tại xóm nào cũng đã có nhà văn hoá và sân bóng chuyền bóng đá, là kết quả của quá trình xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hoá mới. Nhưng nhà văn hoá thỉnh thoảng mới mở cửa khi có công việc họp hành của xóm, bình thường thì ít khi có người lui tới. Còn sân bóng nhưng chủ yếu là dành cho lớp trẻ chơi thể thao như bóng chuyền, bóng đá, cầu lông. Gần đây, có khá nhiều người phụ nữ, cả trẻ lẫn luống tuổi có tham gia chơi bóng chuyền hơi ở sân nhà văn hoá và sân bóng. Hầu hết trong làng xã không còn nhà tranh vách đất nữa, chủ yếu là nhà xây kiên cố, số lượng nhà tầng ngày càng tăng lên. Hầu hết các hộ gia đình hiện nay đều xây tường bê tông bao quanh nhà mình và dựng cửa cổng kiên cố. Nhà nào cũng lắp mái tôn để chống nắng ở sân nhà. Cổng vào và phần lớn diện tích trong khuôn viên nhà cửa đều lát gạch hoặc đổ bê tông. Đường lớn rải nhựa, đường làng, ngõ xóm đổ bê tông, sân nhà thì dựng mái tôn để che trong khi cây cối từ ngoài đường đến trong vườn đều ít dần. Nếu có thể nhìn từ trên cao xuống thì các làng xóm giờ nhìn như một lò giữ nhiệt khổng lồ vậy.

Nhìn chung, cảnh quan làng xã tôi hiện nay, cũng không khác gì các làng xã xung quanh thuộc khu vực trung du tỉnh Nghệ An này, đều có dáng dấp của làng xóm hiện đại với điện, đường, trường, trạm kiên cố. Đường lớn rải nhựa, đường bé đổ bê tông. Các sinh hoạt văn hoá tập thể tuỳ theo cấp độ xóm xã mà tổ chức ở nhà văn hoá, sân bóng của xóm, xã. Không chỉ cảnh quan làng xóm mà điều kiện vật chất, tinh thần của người dân cũng hiện đại hơn nhiều. Trong làng ngày càng nhiều người có xe ô tô. Nhà nào cũng có một hai, thậm chí là ba bốn chiếc xe máy từ loại ít tiền đến loại cả trăm triệu đồng. Rồi điều hoà, máy giặt, tivi, tủ lạnh,… hàng loạt các trang thiết bị sinh hoạt hiện đại ngày càng phổ biến. Hầu hết người dân đều sử dụng điện thoại di động với nhiều thể loại khác nhau. Có lẽ, trong quá trình xây dựng nông thôn mới, đây như là một mô hình phổ biến với các thiết chế văn hoá, từ cơ sở vật chất đến sinh hoạt tinh thần đều được đồng nhất, quy định theo các tiêu chí do nhà nước ban hành. Nó khiến cho các làng xóm, nhìn na ná giống nhau nhưng lại không giống nhau bởi trong đó là những con người khác nhau.

Còn làng tôi ngày trước ra sao?

Để hiểu thêm về việc biến đổi cảnh quan làng thì không có cách nào khác ngoài việc chúng ta phải tiếp cận theo chiều lịch sử. Bởi biến đổi là một quá trình trải qua các thời đoạn khác nhau. Một làng quê cũng vậy, trải qua những giai đoạn khác nhau thì cảnh quan, con người và văn hóa cũng có những thay đổi khác nhau. Vậy nên câu hỏi chính được đặt ra để xem xét là làng tôi ngày trước như thế nào?

Khi tiến hành tìm hiểu về vấn đề này, chúng tôi chia thành các câu hỏi khác nhau để tiếp cận theo các giai đoạn: Làng tôi trước Cách mạng tháng Tám 1945 như thế nào? Làng trong thời bao cấp ra làm sao? Và làng tôi từ đổi mới 1986 đến nay như thế nào? Đối tượng chúng tôi tiếp cận chủ yếu là những người lớn tuổi, những người già đang sinh sống trong làng hiện nay. Kết hợp với những gì chúng tôi quan sát, trải nghiệm trong những năm qua và so sánh với những mô tả, những ký ức của những người già kể lại để thấy được sự biến đổi cảnh quan làng như thế nào? Câu chuyện không phải chỉ tập trung vào biến đổi cảnh quan, mà muốn đi sâu vào phân tích các chiều tâm tư, suy nghĩ của những người lớn tuổi về quá trình biến đổi đó. Do tiếp cận nhân học, chủ yếu qua phỏng vấn những người lớn tuổi chứ không phải dựa vào phân tích tư liệu thành văn nên những thông tin về lịch sử làng chủ yếu được tái hiện qua ký ức, nghĩa là khó đạt được độ chính xác cao. Nhưng ngược lại, cái nhìn từ tâm lý, nhận thức của người dân về chính vùng đất nơi mình sinh sống lại cho người đọc những cảm nhận mới mẻ hơn.

Trong một điều kiện có nhiều hạn chế về các nguồn lực để thực hiện khảo sát nên chúng tôi chỉ tiến hành phỏng vấn một số lượng những người già vừa phải và một vài cuộc thảo luận nhóm. Có 21 người già tham gia chia sẻ thông tin về làng. Trong đó, người lớn tuổi nhất sinh năm 1928 và người trẻ nhất sinh năm 1950. Có hai cuộc thảo luận nhóm, cuộc đầu tiên có 6 người tham gia và cuộc thứ hai có 5 người. Qua những thông tin thu thập được từ quá trình nghiên cứu định tính này, chúng tôi phần nào hiểu được một chút sự biến đổi về cảnh quan làng xã qua tâm thức người cao tuổi

Cảnh quan làng trước 1945

Có 8 người sinh ra trong giai đoạn những năm 1920 và 1930 chia sẻ thông tin về làng mình trước cách mạng. Nhưng như họ nói, lúc đó còn nhỏ nên có nhiều cái không nhớ rõ. Mặt khác, họ cũng cho rằng làng quê mình trước cách mạng và sau cách mạng có biến đổi nhưng không nhiều. Phải đến những năm 1960 mới bắt đầu thay đổi nhanh chóng và càng ngày sự thay đổi đó càng lớn hơn.

"Trước Cách mạng tháng Tám (1945), khu vực làng hiện nay dân cư còn thưa thớt, đường sá đi lại khó khăn. Dân chủ yếu tập trung phía gần Bàu Ó và một phần phía dưới giờ là trung tâm xã Thanh Khai. Ngoài đền Hữu có từ lâu đời thì còn có đình Phúc Yên và đình Xuân Bảng, là nơi tập trung các sinh hoạt lớn của cả làng. Đình Xuân Bảng gồm đình thượng và đình hạ. Cột đình to một người ôm không xuể, có kiến trúc chạm trổ độc đáo. Đình làng Phúc Yên cũng tương tự, nhưng bé hơn. Nếu đình thượng quanh năm đóng cửa chỉ mở vào dịp lễ cúng Thành hoàng thì đình hạ lại mở cửa thường xuyên để bàn việc làng. Sân đình cũng là nơi người dân tập trung vui chơi, thực hành các sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Xung quanh làng ngày trước là các hồ nước, vùng nước sâu, khó san lấp để cấy lúa được. Người dân cứ lấn dần để cấy lúa. Hệ thống mương máng chưa đầy đủ nên diện tích ruộng rất ít, chủ yếu là đất trồng ngô, trồng khoai thôi. Đê điều còn nhỏ, kém nên năm nào cũng bị lũ lụt. Quanh xã còn có nhiều bãi cây, lùm cây um tùm. Nhiều vùng hiện nay tập trung đông dân cư nhưng là sau này mới được thành lập, còn trước đó thì chỉ là vùng ven núi hoặc đất bỏ hoang, hoặc canh tác một vụ hoặc có khi hai ba năm mới làm được do thiếu nước. Khi có việc lớn thì thường tập trung đến đình làng để xử lý. Trong làng có một số giếng làng, là nơi lấy nước chung của cả làng, được đào lớn và lát đá đẹp, bảo vệ sạch sẽ. Xung quanh Bàu Ó có một số bến do người dân làm nên để giặt giũ. Đền Hữu được quản lý nghiêm ngặt, chỉ những người có chức trách mới được ra vào trong chính điện, còn người dân chủ yếu đến dâng hương. Thường chỉ đàn ông mới được vào đền, phụ nữ không được phép vào trong. Khi có việc đến tìm chồng hay tìm người thì cũng chỉ được đứng ngoài nhờ người vào báo".

Đây là một đoạn ký ức của một người đàn ông năm nay đã ngoài 90 tuổi, và đã được nhiều người khác thảo luận thêm khi nói về vấn đề này. Qua những thông tin này cũng cho chúng ta thấy được cảnh quan làng trước Cách mạng tháng Tám 1945 một cách tổng quan. Đó là cảnh quan làng khá cổ điển, có đền thờ Đức Thánh, có đình thờ Thành Hoàng làng, sân đình là nơi người dân tập trung sinh hoạt cộng đồng cũng như bàn việc làng xã. Cảnh quan xung quanh làng còn hoang sơ, đường sá đi lại còn chật hẹp và khó khăn. Dân cư thưa thớt hơn, tập trung chủ yếu quanh khu vực trung tâm làng. Diện tích ruộng sản xuất hẹp nhưng mặt nước lại lớn do có nhiều ao hồ, vùng nước sâu. Có những giếng làng và các bến nước quanh bàu để sinh hoạt.

Cảnh quan làng thời bao cấp

Sau khi Cách mạng thành công, tổng Xuân Lâm bắt đầu chia thành các xã. Một phần làng Xuân Bảng và một phần làng Phúc Yên được nhập lại thành xã. Qua nhiều lần thay đổi, tách rồi nhập và đến hiện nay là xã Thanh Yên. Tính ra, từ sau 1945 cho đến khi Đổi mới 1986, cảnh quan làng có nhiều biến đổi. Sau 1954, miền Bắc bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, các hợp tác xã cũng bắt đầu được hình thành, đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân bắt đầu thay đổi. Sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh. Khai khẩn các vùng đất quanh xã để sản xuất được quan tâm. Hệ thống thủy lợi cũng được xây dựng và cải tạo. Đê điều được tu bổ hàng năm. Do vậy, diện tích sản xuất được mở rộng hơn. Nhưng khi vào cải cách văn hóa, chính quyền bắt đầu dỡ bỏ các thiết chế cũ. Đình làng một phần bị hư hại do chiến tranh, sau này lại bị hạ xuống để lấy gỗ làm các công trình khác. Đình dần biến mất khi không còn là nơi tập trung sinh hoạt văn hóa của người dân cũng như bàn việc tập thể. Đền Hữu dù không được quan tâm nhiều nhưng vẫn được giữ lại để làm nơi sinh hoạt tâm linh. Phần đất quanh đền được đưa vào để canh tác hoa màu. Các giếng nước của làng và các bến nước quanh Bàu Ó vẫn được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày. Bên cạnh đó, nhiều cảnh quan mới được xây dựng. Khi đó cả xã chia thành nhiều đội. Hai đến ba đội thì xây dựng một nhà kho. Ngoài việc chứa lương thực thì sân kho cũng là một nơi để sinh hoạt cộng đồng như chiếu bóng, tổ chức biểu diễn văn nghệ quần chúng, chia lương thực sau khi thu hoạch…. Cửa hàng mậu dịch với việc xếp hàng dài chờ mua lương thực phẩm. Sân vận động để diễn tập, thao tập các lực lượng dân quân, tự vệ còn là nơi tổ chức thể thao, chiếu phim, biểu diễn văn công và nhiều sinh hoạt khác. Các ao hồ xung quanh cũng được san lấp dần làm ruộng nước hoặc ao thả cá. Việc sản xuất lương thực không có năng suất cao do đất đai không được tốt. Nhưng bù lại do có nhiều ao hồ, đầm vũng nên có nhiều thủy sản. Người dân vùng này nổi tiếng về nghề đan lưới và đánh cá. Bắt cua bắt ốc, đánh cá trở thành một phần quan trọng trong sinh kế người dân khi mà sản xuất hợp tác xã và chăn nuôi còn hạn chế.

Sau này, khi nhìn nhận lại nhiều vấn đề của thời kỳ bao cấp khiến cho nhiều người nghĩ rằng nó lạc hậu, kém phát triển. Nhưng trong ký ức của nhiều người lớn tuổi đã kinh qua các giai đoạn từ làm cách mạng, tham gia kháng chiến, sống qua thời bao cấp cho đến nay thì họ vẫn có nhiều điều rất tự hào. Lối làm ăn tập thể, sản xuất theo hợp tác xã có thể sau này có vô vàn hạn chế, nhưng trong thời đoạn chiến tranh, nó đã tập trung được hầu hết nguồn lực của nông dân vào kháng chiến, kiến quốc. Vậy nên, với nhiều người, nhiều không gian văn hóa thời đó có nhiều giá trị không thể chối bỏ được.

"Có nhiều đêm, chúng tôi đốt đèn ra sân nhà kho để tổ chức biểu diễn văn nghệ. Mọi thứ đều thô sơ, từ trang bị cho đến con người. Ấy vậy mà ai cũng hăm hở tham gia. Sân kho lúc đó gắn với hầu hết mọi hoạt động. Có nhiều đám cưới được tổ chức ngay tại sân nhà kho. Rồi khi lễ tết, có con lợn để làm thịt cũng mang ra nhà kho. Lúc đó, con người ta đối xử với nhau tình cảm lắm. Đời sống vật chất khó khăn nhưng tinh thần thì không thiếu. Sẵn sàng chia nhau những thứ mình có. Có thể nói cả một thời trai trẻ chúng tôi gắn với sân kho" (Đàn ông, 81 tuổi).

"Trong cái đói nghèo chung, chúng tôi vẫn xếp hàng ở cửa hàng mậu dịch quốc doanh để chờ mua thực phẩm. Từ sáng sớm đã ra xếp hàng, có lúc quá trưa còn chưa đến lượt. Ấy vậy nhưng người ta không tranh cướp, ít khi có xô xát hay tranh chấp lẫn nhau vì mọi người đều chờ nhau xếp hàng và theo lượt chứ không có phân biệt. Sau này thì thấy khổ quá. Nhưng khi đó con người ta chấp nhận. Và giờ thấy cũng thú vị. Nó là một phần trong cuộc đời chúng tôi" (Phụ nữ, 78 tuổi).

Chúng ta sau này vẫn phê phán nhiều về hệ quả của công cuộc cải cách văn hóa, trong đó có việc phá bỏ đi nhiều di sản văn hóa, nhất là với các đình, chùa, đền, miếu,…. Nhưng với nhiều người thì việc làm đó cũng có giá trị riêng. Việc phá bỏ đình lấy gỗ xây dựng trường học, hợp tác xã để sản xuất lúc đó lại được nhiều người ủng hộ.

"Các đình làng lần lượt bị mất đi là một điều đáng tiếc. Không phải bây giờ chúng tôi mới thấy tiếc mà lúc đó đã buồn rồi. Nhưng trước đó, chiến tranh rồi lũ lụt đã hủy hoại đi nhiều. Trong bối cảnh còn nghèo đói, lại đang chiến tranh nên không có điều kiện để tu bổ. Khi có chính sách dỡ bỏ thì người ta làm thôi. Dù thấy tiếc nhưng vì điều kiện lúc đó cần gấp nên phải chấp nhận. Nó đổi lại có nhiều con em có trường để học, có trạm xá để chữa bệnh" (Đàn ông, 84 tuổi).

Như vậy, cảnh quan làng trong thời bao cấp đã có những biến đổi cả về tự nhiên lẫn xã hội và văn hóa. Đình làng hư hại và bị dỡ bỏ. Đền Hữu cũng hoang sơ hơn, hư hại đi nhiều và không được tu bổ thêm nhưng cũng may mắn không bị phá hủy. Một số cảnh quan giếng làng, bến nước vẫn còn. Bên cạnh đó, một số không gian, cảnh quan mới được xây dựng như nhà kho, sân vận động, hợp tác xã, cửa hàng mậu dịch,… Một điều đáng chú ý khác là lúc đó, để có diện tích đất sản xuất chính quyền có chính sách yêu cầu người dân di dời toàn bộ mộ táng từ dưới đồng ruộng lên trên rú. Và từ đó về sau không còn chôn cất ở dưới đồng nữa, tập trung lên các rú trong làng.

Cảnh quan làng sau Đổi mới

Từ sau khi thực hiện đường lối Đổi mới đất nước, bộ mặt của hầu hết các làng xã ở Việt Nam đều có những thay đổi mạnh mẽ. Làng tôi cũng không ngoại lệ. Nếu những năm 1990 là giai đoạn chuyển đổi, các cảnh quan cũ vẫn còn ít nhiều. Thì từ đầu thế kỷ XXI đến nay là cả một công cuộc thay đổi nhanh chóng đến mức khó nhận ra. Kết quả của quá trình thay đổi đó là cái làng tôi hiện tại đã được trình bày ở phía trên. Nếu nhìn vào cái làng trong ký ức của người già đã trình bày qua hai giai đoạn trên với cái làng hiện tại thì có một quá trình biến đổi mạnh mẽ: Những cảnh quan thời bao cấp gần như không còn dấu vết. Hệ thống nhà kho, cửa hàng mậu dịch bị biến mất. Sân vận động thì được hiện đại hóa và tách ra chủ yếu dành cho các hoạt động lớn. Những sinh hoạt như biểu diễn văn công, xem văn nghệ quần chúng cũng theo đó mà lụi tàn. Đình không còn dấu vết nhưng đền lại được tu bổ to đẹp hơn và hoạt động náo nhiệt hơn. Tuy nhiên, cảnh quan đền cũng có những thay đổi. Cả một dãy mấy chục cây cổ thụ đã bị chặt hết. Một phần đất trong đền cũng được đem bán hoặc cho người khác thuê. Toàn bộ hệ thống ao, hồ, đầm, vũng xung quanh đã được đắp lại thành ruộng nước hoặc thành đất thổ cư. Hầu hết các giếng làng bị mất dần, hiện nay chỉ còn một hai cái nhưng người dân ít sử dụng. Bàu Ó bị ô nhiễm nặng nên người dân không còn tắm giặt ở đó nữa, làm cho các bến nước cũng mất theo. Nhìn chung, làng hiện nay là kết quả của quá trình hiện đại hóa nông thôn. Và nó làm cho con người, đặc biệt những người trẻ tuổi không hình dung ra được kết cấu làng trước đó. Nên có thể gọi đây là "làng hiện đại" với kết cấu theo đơn vị xóm, có đường lớn, đường nhỏ, nhà văn hóa, sân bóng đá….

Người già với "làng truyền thống" và "làng hiện đại"

Qua những phân tích phía trên chúng ta thấy cũng một cái làng nhưng có nhiều sự thay đổi qua các giai đoạn khác nhau. Làng hiện nay không còn mái đình, không còn bến nước, không còn giếng làng, nhưng liệu có phải nó không có truyền thống? Nếu nhận định vậy thì hơi khắt khe với làng hiện nay bởi dù sao nó vẫn mang trên mình truyền thống của thời đại nó. Chỉ khác nhau là sự thay đổi trong tâm thức con người. Lấy người già như là một đối tượng để phân tích chúng ta sẽ thấy sự biến đổi của làng luôn gắn theo với tâm thức của những thế hệ khác nhau sinh sống trong làng đó.

Những thông tin từ cuộc khảo sát về làng đã cho thấy, với người già, họ nhìn về cái làng bằng hoài niệm, bằng ký ức hơn là sự khách quan. Trong thâm tâm những người chúng tôi phỏng vấn, họ vẫn nhớ về cái đình làng, về các giếng làng, các bến nước, cái sân kho hay thậm chí cái cửa hàng mậu dịch. Họ nhớ về những ao hồ, đầm vũng vốn từng cung cấp cua cá cho họ. Họ nhớ về những đêm diễn văn nghệ quần chúng hay xem văn công, xem phim màn ảnh rộng. Và họ vẫn nhớ về những ngôi nhà đi vắng cả ngày nhưng không đóng cửa. Có thể cha ông họ trước đây, tức là những người là chủ nhân của làng này từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cũng nghĩ về cái làng của họ với nhiều điều khác. Rồi đến thế hệ họ là chủ nhân làng nửa sau thế kỷ XX nhận thức về cái làng như vậy. Đó là làng của thời cách mạng, của thời bao cấp trong không khí làm ăn tập thể, sản xuất hợp tác xã và phục vụ kháng chiến. Và trong làng bây giờ, họ là người già, là những người được cho là thuộc về xã hội cũ, đang chứng kiến công cuộc hiện đại hóa của làng mà chủ nhân là con, cháu họ. Với họ, cái làng truyền thống chỉ còn trong ký ức, còn cái làng hiện tại lại không có bóng hình của mình.

"Bây giờ, không còn làng nữa. Làng bọn tôi sống ngày trước khác nhiều lắm. Các sinh hoạt văn hóa xã tổ chức theo phong trào vậy thôi. Các không gian mới như nhà văn hóa, sân bóng cũng vậy, chỉ dành cho bọn trẻ vui chơi nhảy múa thôi. Giờ nhà nào cũng kín cổng cao tường cả, có mấy khi quan tâm đến nhau như trước nữa đâu. Trừ khi có việc gì thì mới qua lại thăm hỏi nhau. Chẳng bù cho bọn tôi ngày trước, ngày nào cũng tập trung nhau lại để uống nác chè xanh và trò chuyện. Có việc gì cũng cùng nhau tập trung lại làm giúp nhau cho nhanh xong. Bọn trẻ bây giờ không quan tâm gì việc làng xóm. Chúng chỉ biết sống cho mình thôi. Mà có mấy đứa ở lại làng xóm đâu. Đi ra ngoài hết. Tết nhất về thì tụ tập ăn nhậu, bài bạc rồi quậy phá" (Ý kiến thảo luận nhóm).

Điệp ngữ "bọn tôi ngày trước" hay "làng tôi trước đây" được nhiều người nhắc đi nhắc lại nhiều lần như để ám chỉ về sự phân biệt thế hệ. Thực tế, nhiều người lớn tuổi đối diện với quá trình hiện đại hóa đang cảm thấy hoang mang. Nhiều giá trị mới khiến họ khó có thể tiếp nhận được. Trong bối cảnh đó, họ quay lại nhớ về những giá trị của thế hệ mình, nhớ về làng cũ, bạn cũ. Cái "làng hiện đại" trong mắt họ không phải là làng. Vì cái làng của họ có kết cấu mở với cảnh quan sinh thái hoang sơ hơn. Còn cái làng hiện nay có kết cấu đóng, nhà nào cũng kín kẽ cả về cảnh quan lẫn cuộc sống. Nhưng không phải ai cũng bài trừ những giá trị của cái làng hiện nay, bởi họ hiểu cuộc sống thay đổi thì làng cũng thay đổi. Như một người già kết luận: "Làng thời cha ông mình nó khác. Làng thời anh em mình cũng khác với trước đó. Và giờ làng của con cháu mình cũng vậy thôi. Dù sao thì vẫn là cái làng mình sinh ra và xây dựng, giờ là con cháu mình tiếp nối đấy thôi. Nó không làm được khác đi thì hóa ra con cháu lại kém hơn cha ông".

Liệu có nên đi tìm làng truyền thống?

Để kết thúc bài viết này, thay cho lời kết  chúng tôi xin đưa ra một sự gợi mở về mặt phương pháp luận trong tiếp cận vấn đề làng xã. Trước nay, nhiều nhà nghiên cứu vẫn quen với con đường đi tìm các làng xã truyền thống để phân tích nhằm chứng minh cho một cấu trúc (cả về nhận thức lẫn thực tiễn) làng mà họ coi là "truyền thống". Nhưng cái gọi là "làng truyền thống" chỉ mang tính tương đối mà thôi. Ngoài việc phân tích các cấu trúc về cảnh quan, kinh tế, xã hội và văn hóa làng thì còn có vấn đề đối tượng chủ thể của làng. Những phân tích về cảnh quan một làng vốn không có gì nổi bật như đã làm ở trên qua tâm thức của một nhóm người đã gợi mở cho chúng ta rằng không có cái nào gọi là làng truyền thống hay nói cách khác thì làng nào cũng có truyền thống riêng của mình và truyền thống đó luôn biến đổi nên không thể "tĩnh hóa" các cấu trúc để mà xem xét. Làng là một kết cấu xã hội đã tồn tại lâu dài trong lịch sử dân tộc. Nó biến đổi qua các giai đoạn khác nhau, và làng trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa lại càng thay đổi mạnh mẽ và nhanh chóng. Những kết cấu cũ sẽ dần thay đổi và thích ứng, cùng với đó là những kết cấu mới xuất hiện và dần có vai trò. Quan trọng hơn nữa, những chủ nhân làng cũng thay đổi qua các thế hệ khác nhau. Và đã là con người cùng sinh sống trong một môi trường nhất định, họ sẽ không ngừng tái tạo, sáng tạo ra các truyền thống của riêng họ. Vậy nên, xét cho cùng, bất cứ làng nào cũng có truyền thống và truyền thống đó luôn biến đổi. Thay vì đi tìm làng truyền thống để nghiên cứu thì hãy nghiên cứu làng dưới những góc độ khác nhau, những cách tiếp cận khác nhau để tìm và hiểu về truyền thống của làng. Điều đó cần thiết hơn.            

Hồ Xuân Hùng

Một câu hỏi lớn mà ngay từ khi tôi đang công tác ở tỉnh là: Liệu Nghệ An có thoát nghèo và trở thành giàu có được không? Và bằng con đường nào? Nên tập trung phát triển ngành kinh tế nào (sau này gọi là ngành kinh tế mũi nhọn)? Sản phẩm nào là chính (nay gọi là sản phẩm chủ lực)? Trong nhiều câu hỏi ấy, tôi muốn được đóng góp phần nhỏ vào định hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực ở Nghệ An trong thời gian tới 2020 - 2030. Không phải đến nay mới bàn, mà từ nhiều năm nay, nhất là từ những năm đầu thập niên thứ 2 của thế kỷ XXI đã bàn, chỉ khác nhau tên gọi mà thôi. Có lẽ khi Việt Nam tham gia sâu vào hội nhập kinh tế thế giới - kinh tế thị trường, chúng ta mới thức tỉnh điều đó. Sau khi nghiên cứu kỹ những chính sách, quyết định, nghị định, thông tư từ Trung ương đến tỉnh tôi xin được nêu một số ý kiến sau:

I. Một số kết quả đạt được trong tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Nghệ An những năm gần đây

Trong quá trình tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp những năm gần đây, Nghệ An đã đạt được nhiều thành tựu vượt trội đáng mừng.

1. Từ khi Chính phủ phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên phạm vi cả nước, Nghệ An đã nhanh chóng rà soát lại quy hoạch, chính sách nhằm thúc đẩy tạo ra những đột phá cho nông nghiệp. Đặc biệt chú trọng khai thác lợi thế so sánh vốn có của tỉnh so với cả nước, tạo ra đột phá trên cơ sở vừa có kế thừa, vừa phát triển ứng dụng mới. Nhất là khẳng định khai thác lợi thế từng vùng sinh thái huyện và truyền thống địa phương. Đây là cơ sở lợi thế cho lựa chọn xác định và phát triển cây, con chủ lực của tỉnh nhà.

Ví dụ: Vùng chăn nuôi bò sữa tập trung: Nghĩa Đàn, Thái Hòa; Vùng mía nguyên liệu 6 huyện: Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Con Cuông, Thái Hòa; Vùng chè chất lượng cao tại 4 huyện: Anh Sơn, Thanh Chương, Con Cuông, Kỳ Sơn…

2. Quá trình thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp, tỉnh đã mạnh dạn ứng dụng công nghệ cao từ khâu giống, công nghệ sản xuất, đến quản lý. Nhờ ứng dụng công nghệ mới mà tốc độ tăng trưởng bình quân toàn ngành 5 năm qua đạt 4,8% trong khi cả nước khoảng 3,5% và đã nâng thu nhập bình quân trên toàn tỉnh xấp xỉ 90 triệu đồng/ha (so với 2008 chỉ 37 triệu VNĐ). Có nhiều điểm đã đạt 200 - 400 triệu tấn/ha kể cả cây công nghiệp và rau quả.

3. Nghệ An đã xác định được nhân tố động lực tạo ra đột phá trong tái cơ cấu nông nghiệp là doanh nghiệp, vì vậy đã có chính sách phù hợp thu hút được một số doanh nghiệp lớn đầu tư vào tỉnh nhà như: Tập đoàn TH, Vinamilk, FLC, Vingruop, Mường Thanh, Masan,… Và chính nhờ họ đã tạo ra chuỗi sản xuất phát triển ổn định, gắn kết được với các HTX, hộ nông dân. Đây cũng là những hạt nhân để xác định và phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh nhà trong thời gian sắp tới.

4. Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia và quyết định phê duyệt danh mục sản phẩm quốc gia, UBND tỉnh đã có quyết định phê duyệt: Đề án phát triển cây, con chủ yếu, gắn với cơ chế quản lý đất đai, tạo vùng nguyên liệu phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu đến năm 2020 (QĐ: 3079/QĐUB ngày 3/7/2014). Đây là những cơ sở pháp lý và quá trình thực hiện trong những năm qua là cơ sở thực tiễn để chúng ta thảo luận những định hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực ở Nghệ An tính đến 2030, nhằm tạo bước đột phá bền vững cho giai đoạn mới.

II. Nghệ An cần thống nhất một số khái niệm và tiêu chí trước khi quyết định lựa chọn, công bố và có chính sách phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh

Ngày 13/12/2018, Thủ tướng Chính phủ mới có Quyết định số 50/2018/QĐ-TTg quy định đối tượng thủy sản nuôi chủ lực là: tôm sú, tôm thẻ chân trắng và cá tra; ngay sau đó ngày 25/12/2018 Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã có Thông tư số 37/2018/TT-BNN ban hành danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia gồm 13 sản phẩm (đã có cá tra và tôm).

Hiện nay hầu hết các tỉnh đang triển khai, nhưng chưa có quy định chung nào về tiêu chí và sự thống nhất khái niệm mỗi địa phương tùy theo thực tế của tỉnh mình có quy định riêng. Vì vậy, Nghệ An cũng cần có sự thống nhất về khái niệm và tiêu chí về sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh nhà để thuận lợi cho khi triển khai thực hiện và xây dựng chính sách. Trên cơ sở đó đưa ra danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực cho giai đoạn 2020 - 2030 (không đặt vấn đề đến 2025 với tầm nhìn 2030) thực ra chỉ là 2 kế hoạch 5 năm. Đương nhiên khi xây dựng chính sách và kế hoạch cụ thể thì phải phân kỳ cho phù hợp 2020 - 2025 và tính đến 2030.

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đưa ra những khái niệm và cách xác định tiêu chí sản phẩm nông nghiệp chủ lực của Nghệ An; Song theo tôi cần bổ sung và làm rõ thêm một số nội dung sau:

1. Về khái niệm

Cần nêu luôn khái niệm về sản phẩm nông nghiệp chủ lực, không cần cụ thể là cây, con chủ lực nội dung cơ bản không khác gì, cụ thể là: Sản phẩm nông nghiệp chủ lực là sản phẩm mang tính cạnh tranh, đặc thù cao, tạo ra sản phẩm hàng hóa lớn, chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Có khả năng lan tỏa, thu hút các ngành nghề khác phát triển.

2. Về quan điểm xác định các tiêu chí và tiêu chí lựa chọn để đề xuất lựa chọn sản phẩm nông nghiệp chủ lực.

Trong báo cáo đang nặng về nhóm tiêu chí kinh tế và nhóm tiêu chí về sản phẩm cần ưu tiên phát triển; thiếu hẳn nhóm tiêu chí xã hội và môi trường, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập hiện nay.

Ví dụ:

- Về tiêu chí xã hội phải bao hàm chỉ tiêu sản phẩm chủ lực, phải thu hút số đông lao động? Đảm bảo thu nhập ổn định cho người lao động và có mức thu nhập trung bình ra sao? Cũng cần phải tính thêm tỉ lệ hộ dân tham gia vào sản xuất sản phẩm chủ lực ấy?

Tiêu chí môi trường: Sản phẩm chủ lực ấy phải thân thiện với môi trường và có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu?...

3. Cần làm rõ thêm mối quan hệ giữa sản phẩm chủ lực với sản phẩm chủ yếu, sản phẩm đặc trưng, sản phẩm đặc sản của tỉnh, sản phẩm nào trùng lặp, sản phẩm nào riêng biệt để có chính sách phù hợp, tránh trùng lặp, bỏ sót cả trong chỉ đạo thực hiện và cơ chế hỗ trợ, khuyến khích…

Ví dụ: Cam Vinh vừa trong danh mục cây trồng chính, vừa là đặc sản và nhất định cũng trong nhóm cây chủ lực… những sản phẩm loại này cần có chính sách thúc đẩy phát triển nhanh không? Loại trừ trùng lặp chỗ nào?...

4. Cần có tiêu chí rõ sản phẩm có tính truyền thống, đặc trưng đang phù hợp với nhu cầu ngày một tăng của thị trường; sản phẩm mới được xác lập trên địa bàn và dự kiến sản phẩm chủ lực tương lai nhằm tạo cơ hội cho nhà đầu tư hoặc là đầu tư nâng cao mở rộng, hoặc là mạnh dạn đầu tư mới phù hợp với chiến lược phát triển của tỉnh.

Ví dụ: Mía đường vừa là sản phẩm truyền thống nhưng thực sự trở thành sản phẩm chủ lực từ những năm cuối của thập kỷ cuối cùng thế kỷ XX (1998).

Ngược lại bò sữa là sản phẩm chủ lực mới được xác lập từ những năm cuối của thập kỷ thứ II thế kỷ XXI.

Thử dự báo: sản phẩm quả bơ (Diện tích kế hoạch 2020 là 60 ha) nhưng trong vòng sau 10 năm nữa có thể trở thành sản phẩm chủ lực được không?

Hay quả chanh chua (chanh có múi) hiện tại còn chưa có thống kê trong danh sách sản phẩm nông nghiệp tỉnh nhà, nhưng thực sự nó đã nổi tiếng trong tiêu dùng (trên thị trường ở miền Bắc nước ta) do đang trồng phân tán, tận dụng trồng trong dân, nếu có sự đột phá trong giống để thành chanh không hạt và trồng tập trung ở diện tích lớn đất vườn, đồi thì sẽ ra sao, nhất là khi nhu cầu đang tăng?... Nghệ An có thể trồng chanh không hạt được ở các huyện Tây Nghi Lộc, Nam Đàn, Hưng Nguyên và một số huyện vùng bán sơn địa, núi thấp…

Tôi xin cung cấp vài thông tin về cây chanh có múi: Hiện nay thế giới tiêu thụ khoảng hơn 10 triệu tấn chanh tươi/năm. Thị trường lớn mà Việt Nam đang xuất khẩu chính là: Trung Đông, châu Âu, Úc, các nước Đông Nam Á. Thị trường Mỹ rất lớn nhưng Việt Nam chưa cạnh tranh nổi với Brazin,         Mexico… Việt Nam đến 2019 có 15.000 ha chanh không hạt được trồng tập trung (loại có hạt, trồng phân tán chưa tính đến). Riêng Long An: 7.000 ha, Hậu Giang hơn 2.000 ha.

- Giống chanh không hạt trồng 16 - 20 tháng cho thu hoạch, năm thứ nhất cho năng suất bình quân 10 - 15 tấn/ha, từ năm thứ 2 trở đi 20 - 25 tấn/ha (Năng suất điển hình đã có 30 - 40 tấn).

- Giá bán tại vườn bình quân 12.000 đồng/kg từ (12 triệu/tấn).

- Giá xuất FOB cảng HCM: 1.500 USD/tấn.

- Thời gian bảo quản tươi lâu: 45 - 60 ngày nếu áp dụng công nghệ hơn 6 tháng, vì vậy không bị áp lực về mùa vụ và thời gian xuất.

- Hiện nay tổng sản lượng ở Việt Nam xuất tươi khoảng 70% tổng sản lượng, ép chế biến 10%, bán chợ 20%.

- Chanh dễ trồng, ít sâu bệnh.

Nhiều chuyên gia kinh tế và doanh nghiệp con em Nghệ An đề xuất: Nghệ An có vùng trồng chanh truyền thống (chỉ khác đang là chanh hạt) như Hưng Nguyên, Nam Đàn; và có nhiều huyện khác có thể trồng chanh được. Chỉ phải chọn giống không hạt và quy hoạch khoảng 2.000 - 3.000 ha là có khả năng thực thi.

III. Một số ý kiến về đề xuất danh mục cây con chủ lực

Về cơ bản nhất trí với đề xuất của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, song có một vài đề nghị bổ sung, sửa đổi sau đây:

1. Đối với cây trồng

1.1. Không nên đưa cây sắn nguyên liệu vào nhóm cây chủ lực không phải vì chỉ đóng góp khoảng 0,7% vào giá trị sản xuất của ngành, phương án của Sở cũng chỉ tìm giải pháp hỗ trợ để đảm bảo đủ nguyên liệu cho 3 nhà máy hiện có; mặt khác đây là loại cây trồng "phá đất" và thực sự không thu hút nhiều lao động. Cả về tiêu chí xã hội, kinh tế, môi trường và hướng phát triển ưu tiêu (quy hoạch và danh mục chung cả nước) đều không lợi thế.

1.2. Cân nhắc đánh giá lại cây lạc. Hiện nay Việt Nam đang đứng thứ 5 về sản xuất lạc ở châu Á. Tuy diện tích (S) nhiều năm nay không tăng nhưng tương đối ổn định, xấp xỉ 150.000 ha, năng suất bình quân 2,4 tấn/ha. Nghệ An có S ≈ 15.000 ha (10% cả nước). Riêng năm 2014 có S: 17.950 ha, sản lượng đã đạt 35.000 - 40.000 tấn. Đây là vùng lạc truyền thống, tuy đóng góp chỉ 1,53 % giá trị của ngành, nhưng lại thu hút lao động cao, nhất là hộ dân vùng đất cát pha và thời vụ ngắn, thân thiện môi trường, cải tạo đất và còn có tác dụng trồng xen vụ, rải vụ. Nếu đầu tư thêm để có giống năng suất cao ở mức khả thi 4 - 5 tấn/ha gắn với công nghiệp chế biến chắc sẽ khác? Hiện nay bình quân năng suất ở Nghệ An mới đạt 2,6 tấn/ha.

1.3. Tách hẳn cây bơ thuộc loại cây chủ lực trong tương lai gần, từ đó để có chính sách khuyến khích và thu hút đầu tư mở rộng, nhất là để tái cơ cấu kinh tế cho miền Tây Nghệ An.

1.4. Đưa cây chanh không hạt (có múi) vào cây chủ lực trong kế hoạch phát triển từ nay đến 2030. Trên cơ sở đánh giá lại vùng chanh đang rất nhiều hạt hiện nay và quy hoạch hướng phát triển mới để kêu gọi thu hút đầu tư gắn với cải tạo vườn chanh hiện có ở các huyện truyền thống của tỉnh nhà.

1.5. Cây lấy gỗ, dược liệu thống nhất như dự thảo của Sở Nông nghiệp.

2. Đối với chăn nuôi

2.1. Đàn trâu cả nước đang có xu hướng giảm, nguyên nhân do hiệu quả kinh tế không cao, diện tích chăn thả giảm, dùng làm sức kéo gần như không. Tuy vậy hiện tại vẫn là nguồn thu nhập và giải quyết việc làm khá lớn của hộ dân vùng nông thôn, và vẫn là nguồn thực phẩm quan trọng của họ trong vòng 10 - 15 năm nữa; hơn nữa đàn trâu Nghệ An đang chiếm ≈ 12% tổng đàn cả nước (280.000/2.350.000 con). Vì vậy cùng với đàn bò nhất định trong thời gian tới vẫn phải được quan tâm phát triển.

2.2. Đàn bò thịt của tỉnh đã chiếm 7,2% tổng đàn cả nước (425.000/5.940.000 con) nhu cầu đang tăng đều đến hàng năm, có nhiều tỉnh đang xây dựng kế hoạch tăng nhanh đàn đến 2025. Như Thái Bình đang đặt kế hoạch đến 2025 tăng trưởng đến gấp 3 lần so với 2019 (Tuy nhiên tổng đàn hiện nay chỉ có 55.000 con)…

Nghệ An vừa có truyền thống, vừa có tiềm năng để tăng nhanh đàn cả hình thức hộ gia đình, trang trại, doanh nghiệp.

2.3. Đàn bò sữa cả nước đang tăng rất nhanh, năm 2018 tổng đàn là: 250.000 con, thì 2019 là: 322.000 con. Nghệ An đã có 2 doanh nghiệp có thương hiệu không chỉ ở trong nước mà đã có tên tuổi ở nhiều nước trên thế giới, sản phẩm sữa của T.H và Vinamilk đang có giá trên thị trường. Tổng đàn ở Nghệ An chỉ chiếm 1,9% cả nước (60.000/322.000 con), nhưng đang tạo ra những đột phá trong chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh nhà cả về sản phẩm, công nghệ, chuỗi sản xuất được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ghi nhận. Nghệ An đủ điều kiện để tăng nhanh đàn bò sữa, để tăng nhanh sản phẩm sữa.

2.4. Lợn và gia cầm (gà vịt) vừa là sản phẩm đạt tiêu chí kinh tế, xã hội (việc làm) và cũng là sản phẩm truyền thống của địa phương, phù hợp với yêu cầu ngày càng phát triển của thị trường và cũng nằm trong danh mục sản phẩm chủ lực của ngành nông nghiệp Việt Nam.

3. Thủy sản

Dự kiến cuối 2020 giá trị sản lượng thủy sản chỉ chiếm 16,14% tổng giá trị của ngành (so với tỷ trọng thủy sản trong nông nghiệp toàn quốc thì Nghệ An ở mức thấp. Cả nước thủy sản 23,7% GDP nông nghiệp). Nhưng khả năng để phát triển ngành thủy sản ở Nghệ An là rất lớn kể cả nước mặn, lợ và nước ngọt.

Muốn phát triển bền vững ngành này nhất định tỉnh ta phải tập trung vào nuôi trồng là chính. Đây là dư địa rất lớn ở Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đưa cá nước ngọt và tôm vào danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực vừa phù hợp với nhu cầu ngày một tăng của thị trường trong nước (trong tỉnh) và quốc tế; Vừa phù hợp với thực tế của tỉnh nhà và định hướng phát triển của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Thực tế hiện nay Nghệ An đã có nhiều mô hình nuôi tốt như ở Diễn Trung - Diễn Châu, ở Quỳnh Phương - Quỳnh Lưu... Riêng sản lượng thủy sản Quỳnh Lưu năm 2018 đã đạt 74.000 tấn là rất đáng khuyến khích phát triển.

IV. Về mục tiêu và giải pháp

Từ thực tiễn đó, cần tập trung làm rõ một số giải pháp sau:

1. Cần chuyển hẳn tư duy phát triển một nền nông nghiệp toàn diện sang tư duy phát triển nông nghiệp sạch, ứng dụng công nghệ cao trên nền tảng hiệu quả kinh tế theo tín hiệu thị trường.

Đây không phải là vấn đề mới nhưng không dễ gì áp dụng. Một thực trạng là cả hệ thống nông nghiệp Việt Nam chưa thoát khỏi tư duy "phát triển một nền nông nghiệp toàn diện…"? Nghệ An có quyết tâm để thoát khỏi vòng này không?

Trên cơ sở tư duy đó mới có thể tập trung đầu tư khai thác lợi thế vùng sinh thái và phát triển nông sản chủ lực hiệu quả được. Nguồn lực đầu tư, nhất là khâu chủ trương mới có thể tập trung mở rộng.

2. Đầu tư cho khâu giống (cả cây và con) là khâu quyết định. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, khoa học sinh học thế giới, loài người đã tạo được bước đột phá lớn trong cây trồng vật nuôi, vừa nâng cao được giá trị sản lượng, vừa chất lượng đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người trong kinh tế hội nhập toàn cầu.

Tư duy nông nghiệp ngày nay không thể: "Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống" được nữa. Mà nhất định phải là "nhất giống". Giống thế nào thì yêu cầu phân bón, nước và công chăm bón thế đó!

Ví dụ: Những năm gần đây huyện Ứng Hòa, Hà Nội đã nhận chuyển giao giống bò: BBB (gọi là 3B) do Trung tâm giống vật nuôi của Học viện Nông nghiệp Việt Nam nhập từ Bỉ, nuôi tại Ứng Hòa 15 - 18 tháng xuất chuồng. Trọng lượng xuất chuồng bình quân 500 - 600 kg/con. Bò đực đã đạt cao 900 - 1.200 kg/con, bò cái 600 - 800 kg/con, thành thịt xẻ hơn 52% (bò thường chỉ 35 - 42%). Giá bán hiện nay tại Hà Nội hơi 90.000 đồng/kg, thịt 240.000 - 250.000 đồng/kg. Chỉ cần lấy tinh Bò 3B phối với Bò lai là được. Nghệ An đã phối để có bò 3B này chưa? Nếu như trước đây chúng ta đã thành công trong Sin hóa đàn bò thay đàn bò "nhọn 2 đầu" thì nay nên tính giống mới.

Ví dụ 2: Ai nghĩ Nghĩa Đàn đã thành công quả bơ Mỹ? Sự thực nó sẽ trở thành một trong những trái cây chủ lực ở Nghệ An trong tương lai gần. Nếu chúng ta tiếp tục tạo môi trường phát triển.

3. Kiên trì chính sách thúc đẩy sản xuất theo chuỗi giá trị dưới sự dẫn dắt của doanh nghiệp đầu đàn có ứng dụng công nghệ cao.

4. Soát lại chính sách tổ chức tiêu thụ cho sản phẩm nông nghiệp chủ lực không chỉ ở khâu chế biến, bảo quản mà ngay cả khâu xây dựng thương hiệu, xúc tiến, quảng bá sản phẩm và kết nối mạng thị trường trên phạm vi toàn tỉnh, vùng và quốc gia. Nghệ An hoàn toàn đủ điều kiện để phát triển hệ thống tiêu thụ: từ chợ truyền thống, đến chợ đầu mối, siêu thị và thị trường điện tử mạng. Vấn đề quan trọng là lựa chọn xác định đúng địa điểm, bố trí đúng chủ đầu tư? (Chúng ta cũng đã có bài học thất bại về vấn đề này).

5. Đơn giản, sát thực và hiệu quả hóa chính sách hỗ trợ cho dân và doanh nghiệp (đối tượng) tham gia vào sản xuất sản phẩm nông sản chủ lực theo hướng hỗ trợ trực tiếp vào những nội dung, chương trình phục vụ cộng đồng, khu vực liên quan sản xuất và dịch vụ sản xuất; hỗ trợ, thưởng cái họ làm ra sát thực cho quá trình đầu tư, phát triển bền vững.

Ví dụ: Ở Nghệ An khi tiến hành đàm phán và xây dựng nhà máy đường NAT&L, phía đối tác đề nghị tỉnh nâng cấp đường quốc lộ từ Quốc lộ 1A lên Quỳ Hợp (khi chưa có cầu qua sông Hiếu như bây giờ) làm hệ thống đường giao thông vận chuyển mía nội đồng (nhà máy mua mía của dân) gắn với quy hoạch phát triển vùng mía, chiều dài 80 km và hỗ trợ dân trồng mía. Tỉnh đã báo cáo Chính phủ và chúng ta đã làm được điều đó. Trong mọi giai đoạn thăng trầm của các nhà máy đường trong cả nước thì NAT&L vẫn hiệu quả nhất.

Tình hình hiện nay ở nước ta và tỉnh Nghệ An đề nghị: Ngoài việc hỗ trợ và phát triển hạ tầng (nếu chưa có) thì nên áp dụng 2 hình thức sau đây vừa dễ quản lý vừa khuyến khích doanh nghiệp tích cực phát triển sản xuất:

a) Hỗ trợ lãi suất tiền vay cho quá trình đầu tư mới khi có áp dụng giống và công nghệ mới, tỷ lệ % do điều kiện thực tiễn mà công bố.

b) Thưởng % phần vượt thuế cho đối tượng nộp thuế, nhưng yêu cầu tiền thưởng ấy tiếp tục đầu tư vào tài sản cố định hoặc lưu động; không đưa vào lãi để chia nhau.

Đây cũng là kinh nghiệm của Nghệ An nhiều năm qua và nhiều tỉnh hiện nay đang làm. Nhất là phần hỗ trợ lãi suất tiền vay.

c) Hỗ trợ xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu.

Cách hỗ trợ này hiệu quả, đỡ phiền hà và dễ giám sát quá trình thực hiện.

V. Lời kết

Cho đến kết thúc năm 2019 (cuối thập niên thứ 2 của thế kỷ XXI) cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Nghệ An vẫn chiếm 19 - 20% tỷ trọng GDP tỉnh nhà. Tuy là không lớn, nhưng trên bình diện chung Nghệ An vẫn là tỉnh nông nghiệp, vẫn còn tới 42% lao động nông nghiệp và hơn 85% cư dân sống ở nông thôn; và thực tế trong vòng vài chục năm nữa (theo tôi) lợi thế so sánh của Nghệ An so với cả nước vẫn là nông nghiệp (nông - lâm - ngư). Vì vậy Nghệ An cần tranh thủ cơ hội, nhất là sau khi đã xác lập được những sản phẩm nông nghiệp chủ lực, cùng với những sản phẩm đặc sản, đặc trưng của tỉnh có chính sách phù hợp thúc đẩy phát triển nhanh tạo đột phá ngay trong 5 - 10 năm đầu này nhằm thực hiện mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư Bác gửi BCH Đảng bộ tỉnh ngày 21/7/1969: "… Rất mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc".

 

Nguyễn Quốc Hồng

Tháng 1 năm 1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (khóa II) mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, xác định "Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam, phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đánh đổ quyền thống trị của đế quốc, phong kiến, trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm - tay sai của đế quốc Mỹ, thiết lập chính quyền cách mạng"(1).

Thực hiện nghị quyết của Trung ương Đảng và nghị quyết của Tổng quân ủy Trung ương, Bác Hồ và Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định mở tuyến đường chiến lược vận tải quân sự từ miền Bắc xuyên qua dãy Trường Sơn trùng điệp để chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam. 

Ngày 5 tháng 5 năm 1959, Bộ Quốc phòng tổ chức "Đoàn công tác quân sự đặc biệt" làm nhiệm vụ mở đường, vận chuyển hàng quân sự vào chiến trường, tổ chức đưa, đón cán bộ, chuyển công văn, tài liệu từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc. 

Ngày 19 tháng 05 năm 1959, "Đoàn công tác đặc biệt" đã tiến hành mở đường chiến lược Hồ Chí Minh, điểm xuất phát tại thị trấn Lạt, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, điểm cuối cùng Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Từ khi mở đường đến cuộc tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đường Hồ Chí Minh không ngừng được mở rộng, kéo dài, vươn tới các chiến trường với chiều dài 17.000 km đường cho xe cơ giới hoạt động. Riêng phía Đông Trường Sơn 1.920 km với 5 hệ thống đường dọc và 21 trục ngang nối với các chiến trường. Đường giao liên dài 3.000 km, đường ống dẫn dầu gần 1.400 km.

Từ ngày mở đường đến kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng, trên con đường Hồ Chí Minh huyền thoại, bộ đội Trường Sơn đã vận chuyển 455 triệu tấn vũ khí, lương thực, đạn dược và gần 58 triệu tấn xăng dầu chi viện cho chiến trường miền Nam.

Sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử, ngày 27 tháng 4 năm 1990 cột mốc km số 0 thị trấn Lạt, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Đến ngày 09 tháng 12 năm 2013, khu di tích Km0 được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định số 2383/QĐ -TTG nâng cấp thành Di tích quốc gia đặc biệt. Ngày 9 tháng 5 năm 2019, nhân kỷ niệm 60 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh - ngày truyền thống bộ đội Trường Sơn (19/5/1959 - 19/5/2019), UBND tỉnh Nghệ An ban hành Quyết định số 1489/QĐ - UBND ngày 6 tháng 5 năm 2019 công nhận điểm du lịch "Di tích quốc gia đặc biệt Km0 - Đường Hồ Chí Minh". Sau khi được công nhận Khu Di tích Km 0 - đường Hồ Chí Minh là di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, khu di tích được đầu tư xây dựng các hạng mục như: nhà trưng bày hình ảnh, tài liệu, hiện vật đường Trường Sơn - Hồ Chí Minh - Tân Kỳ - Lộc Ninh. Công trình khởi công xây dựng ngày 15 tháng 7 năm 2004, hoàn thành ngày 19 tháng 05 năm 2006 và được bàn giao đưa vào sử dụng.

Công trình bao gồm các hạng mục: Nhà trưng bày 650m2; Diện tích ngoài trời 10.113m2, hồ điều hòa và hệ thống tường rào. Sau khi đưa vào sử dụng, khu di tích đã trở thành điểm đến của khách tham quan và địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cho học sinh, sinh viên, thế hệ trẻ trên địa bàn tỉnh và cả nước. 

Theo báo cáo khoa học của Đề tài "Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể trên địa bàn miền Tây Nghệ An" hàng năm tại khu di tích đón từ 14 đến 16 ngàn khách thăm quan, trong đó có khoảng 1.500 khách nước ngoài và nhiều học sinh, sinh viên trong huyện, tỉnh đến thăm quan. 

Tuy nhiên, từ khi bàn giao đưa vào sử dụng (năm 2006) đến nay, khu di tích chỉ mới một lần chỉnh sửa các nội dung trưng bày vào năm 2009. Do vậy, hệ thống cơ sở đã xuống cấp, nhất là nhà trưng bày xuống cấp nghiêm trọng. Hệ thống hồ điều hòa, tường rào hầu như không còn tác dụng. Về trưng bày ngoài trời, mặc dầu có diện tích, không gian trưng bày nhưng đến nay hầu như chưa có hiện vật nào trưng bày. Các hiện vật trong nhà trưng bày đã lâu không được bổ sung thêm những tư liệu, hiện vật mới tạo nên sự nhàm chán cho du khách. 

Để tiếp tục phát huy Khu Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Km0 - đường Hồ Chí Minh là điểm đến cho du khách và địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống các thế hệ thanh thiếu niên, nhất là để thực sự trở thành điểm du lịch theo quyết định của UBND tỉnh. Từ đó kết nối thành tour du lịch với các di tích lịch sử văn hóa: cột mốc Km 0 - đường Hồ Chí Minh - dốc Truông Bồn với huyền thoại các nữ thanh niên xung phong - phà Nam Đàn - Ngã Ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh). Đồng thời Di tích Quốc gia đặc biệt Km 0 - đường Hồ Chí Minh trở thành trung tâm kết nối với các di tích danh thắng khác trên địa bàn, hình thành kinh tế di sản của huyện Tân Kỳ trong thời gian tới. Để đạt được mục tiêu trên, các cơ quan có trách nhiệm trên địa bàn xây dựng đề án huy động nguồn vốn từ địa phương, tỉnh, Bộ Quốc phòng và từ nguồn xã hội hóa để tôn tạo; nâng cấp nhà trưng bày gồm: phòng trung tâm, không gian trưng bày các hiện vật, hình ảnh. Bổ sung thêm các tư liệu, hình ảnh, hiện vật mới của Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và tư liệu hình ảnh, hiện vật của nhân dân Tân Kỳ qua các thời kỳ lịch sử. Cải tạo, nâng cấp hệ thống tường rào, hồ điều hòa đảm bảo kỹ thuật, mỹ thuật.

Huy động một số hiện vật trưng bày tại không gian ngoài trời để làm phong phú thêm khu di tích như: xe vận tải zin 157; xe vận tải gaz 66; pháo cao xạ 37, 57; súng 12,7mm và một số súng bộ binh cá nhân, quân tư trang, các loại dụng cụ và xe thô sơ dùng trong mở đường.v.v.. Việc đầu tư tôn tạo, nâng cấp, bổ sung các tư liệu, hiện vật và một số hạng mục tại Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Km 0 - đường Hồ Chí Minh là việc làm rất cần thiết và ý nghĩa. Sau khi tôn tạo, nâng cấp, thông qua việc trưng bày hệ thống hiện vật sẽ giới thiệu cho du khách trong và ngoài nước về trang sử vẻ vang của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tạo điểm du lịch hấp dẫn để quảng bá với du khách về hình ảnh đất nước, con người Nghệ An nói chung và huyện Tân Kỳ, các huyện miền Tây Nghệ An. Đồng thời để tri ân và tôn vinh những công lao to lớn đối với các anh hùng, liệt sĩ, các thương binh, bệnh binh, các cựu chiến binh, thành niên xung phong đã từng chiến đấu, phục vụ trên tuyến đường Trường Sơn năm xưa. Là nghĩa cử đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ trên quê hương Xô viết anh hùng.

 

Tài liệu tham khảo 

1. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành trung ương Đảng lần thứ 15 (khóa II) mở rộng. 

2. Bộ Quốc phòng - Bộ Tư lệnh binh đoàn 12: Lịch sử đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh - tập I (1959 - 1975) - NXB Quân đội nhân dân. 

3. Ban Tuyên giáo trung ương: Đề cương tuyên truyền 60 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh - ngày truyền thống mở đường Trường Sơn. 

4. Thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh: Những cột mốc vinh quang đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn và đường Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

5. Tài liệu khảo sát thực tế của tác giả. 

PGS.TS Lý Việt Quang

Đồng chí Nguyễn Duy Trinh với 75 năm tuổi đời, 55 năm tuổi Đảng, gần 60 năm hoạt động cách mạng liên tục ở cả ba miền Trung, Nam, Bắc, đã được Đảng và nhân dân tin cậy giao phó nhiều trọng trách. Đồng chí đã đem hết tâm lực và trí tuệ của mình hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Gắn bó với những trang sử hào hùng của dân tộc, cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Nguyễn Duy Trinh là tấm gương sáng của một người cộng sản kiên trung, suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Từ người thanh niên yêu nước trở thành chiến sĩ cộng sản

Đồng chí Nguyễn Duy Trinh sinh ngày 15/7/1910 trong một gia đình nông dân ở xã Nghi Thọ (nay là xã Phúc Thọ), huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An - một vùng đất địa linh nhân kiệt, giàu truyền thống yêu nước, cách mạng. Được nuôi dưỡng bởi truyền thống yêu nước của gia đình, quê hương và dân tộc, chứng kiến nỗi đau của người dân mất nước, ở Nguyễn Duy Trinh đã sớm hình thành tinh thần yêu nước, thương dân sâu sắc, lòng căm thù giặc và ý chí quyết tâm cứu nước, cứu dân. Điều đó đã thôi thúc Nguyễn Duy Trinh tích cực tham gia hoạt động yêu nước khi mới 17 tuổi.

Năm 1927, Nguyễn Duy Trinh tham gia các phong trào học sinh chống áp bức của đế quốc và phong kiến tay sai, đòi tự do hoạt động chính trị ở thành phố Vinh. Năm 1928, người thanh niên yêu nước Nguyễn Duy Trinh tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng - một trong những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo sự phân công của tổ chức, đồng chí vào hoạt động ở Sài Gòn, tích cực gây dựng cơ sở và tuyên truyền cách mạng. Bị thực dân Pháp bắt tại một cơ sở của Tân Việt và giam tại Khảm Lớn Sài Gòn, bị kẻ địch tra tấn dã man, nhưng dù còn trẻ tuổi, đồng chí Nguyễn Duy Trinh vẫn giữ vững khí tiết bất khuất trước kẻ thù. Không khai thác được thông tin gì, tháng 7/1930, thực dân Pháp đưa đồng chí ra tòa và kết án 18 tháng tù, sau đó trục xuất về Trung bộ.

Mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đồng chí Nguyễn Duy Trinh trở thành đảng viên lớp đầu tiên của Đảng. Trở về quê hương khi phong trào cách mạng Nghệ Tĩnh dưới sự lãnh đạo của Đảng đang lên cao quyết liệt, đồng chí đã bí mật liên lạc với chi bộ Đảng ở địa phương và tiếp tục hoạt động, được cử làm bí thư chi bộ. Năm 1931, đồng chí được cử làm Bí thư huyện ủy Nghi Lộc. Đồng chí đã cùng huyện ủy lãnh đạo phong trào cách mạng 1930-1931 ở Nghi Lộc phát triển sôi nổi, góp phần vào cao trào cách mạng sục sôi ở Nghệ - Tĩnh.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, thực dân Pháp và phong kiến tay sai thẳng tay khủng bố, đàn áp với những cuộc vây bắt, truy lùng cán bộ, triệt phá làng mạc và những vụ thảm sát đẫm máu. Hàng trăm cán bộ, quần chúng cách mạng bị bắt bớ, tù đày và giết hại, nhiều làng mạc bị đốt phá gây tổn thất nặng nề. Trong muôn vàn khó khăn, đồng chí Nguyễn Duy Trinh vẫn giữ vững tinh thần cách mạng, tích cực giữ mối liên lạc giữa huyện ủy và cơ sở cách mạng, giữ gìn cơ sở, tổ chức huấn luyện ngắn ngày cho đảng viên và quần chúng trung kiên; tiếp tục bắt mối liên lạc với những đồng chí đảng viên chưa sa vào lưới giặc, kiên trì khắc phục khó khăn, duy trì phong trào ở địa phương, đưa cách mạng rút dần vào hoạt động bí mật.

Từ một thanh niên yêu nước, qua đấu tranh và rèn luyện trong phong trào cách mạng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh trở thành một chiến sĩ cộng sản kiên trung, thuộc lớp đảng viên đầu tiên của Đảng và hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Đấu tranh trong nhà tù đế quốc, thể hiện bản lĩnh của người cộng sản kiên trung

Cuối năm 1931, đồng chí Nguyễn Duy Trinh bị thực dân Pháp bắt. Chúng dùng mọi thủ đoạn từ tra tấn dã man đến dụ dỗ hòng khuất phục đồng chí khai báo về tổ chức nhưng đều lần lượt bị thất bại. Đầu năm 1932, đồng chí bị chúng kết án 13 năm khổ sai, đày đi Buôn Ma Thuột. Vì những hoạt động cách mạng tích cực trong nhà đày Buôn Ma Thuột, năm 1935, đồng chí bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo, nơi được mệnh danh là "địa ngục trần gian". Qua đấu tranh rèn luyện trong tù, đồng chí được cử làm bí thư chi bộ, lãnh đạo cuộc đấu tranh. Năm 1941, đến thời gian đồng chí Nguyễn Duy Trinh mãn hạn tù, nhưng chính quyền thực dân, phong kiến coi đồng chí là một phần tử nguy hiểm nên đã tiếp tục đưa đi đày ở Kon Tum đến tháng 5/1945.

Trong thời gian 15 năm bị bắt, bị giam cầm ở những nhà tù khét tiếng tàn bạo của thực dân Pháp, đồng chí Nguyễn Duy Trinh luôn lạc quan, tin tưởng vào con đường cách mạng đã lựa chọn và tương lai tất thắng của sự nghiệp cách mạng. Trước những thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc, tra tấn dã man của kẻ thù, đồng chí vẫn giữ trọn khí tiết của người cộng sản bất khuất, kiên trung. Trong những lúc nguy nan nhất, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã đem tất cả tâm sức của mình, cùng với nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng như: Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Văn Lương… biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng, coi đó là trận tuyến đấu tranh mới của người cách mạng bằng cách tích cực tuyên truyền, vận động cách mạng; tổ chức đoàn kết bạn tù đấu tranh buộc kẻ thù phải giảm bớt chế độ lao tù khắc nghiệt, giành lấy sự sống để trở về với Đảng với phong trào cách mạng của nhân dân.

Sau khi ra tù, Nguyễn Duy Trinh tích cực tham gia phong trào Việt Minh. Đồng chí trở thành hạt nhân quan trọng trong việc tập hợp lực lượng, đoàn kết các tầng lớp nhân dân chuẩn bị lực lượng sẵn sàng đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ tới.

Khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, là Thường vụ xứ ủy Trung bộ, đồng chí đã lăn lộn trong phong trào kháng chiến ở Liên khu V, xây dựng căn cứ địa, vùng tự do cách mạng ở Nam Trung bộ. Sự năng động trong thực tiễn đầy gian khổ mà đồng chí Nguyễn Duy Trinh trải qua đã góp phần hình thành quan điểm, đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng.

Trở thành nhà lãnh đạo có uy tín lớn

Từ năm 1951 đến đầu năm 1965, đồng chí Nguyễn Duy Trinh được giao nhiều trọng trách lãnh đạo quan trọng các cơ quan của Đảng và nhà nước, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Thủ tướng kiêm chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Ý thức được trách nhiệm trước công việc được Đảng và Nhà nước và nhân dân giao phó, bằng phẩm chất và tài năng, đồng chí đã có những đóng góp quan trọng vào thực hiện chiến lược cách mạng của Đảng. Trên cương vị Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, với tư duy lý luận và sự am hiểu sâu sắc thực tiễn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về các mối quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế quốc dân, về các nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, về phát triển kinh tế và cải tạo xã hội, phát triển văn hóa… đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã chỉ đạo một cách toàn diện và sâu sát công cuộc đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Từ năm 1965, trước yêu cầu mới của cách mạng, Phó Thủ tướng Nguyễn Duy Trinh được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị yêu cầu thôi kiêm chức Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước để kiêm chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Đây là thời kỳ có nhiều khó khăn, thử thách khi đế quốc Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam và mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, là giai đoạn cuộc đấu tranh của chúng ta diễn ra trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao. Thời kỳ này cũng diễn ra sự bất đồng, sự phân liệt sâu sắc trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa.

Quán triệt sâu sắc tư tưởng đối ngoại độc lập, tự chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và phụ trách công tác ngoại giao của Đảng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đóng góp tích cực vào việc hoạch định và thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế. Dưới sự chỉ đạo sát sao của Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh, ngoại giao đã trở thành một mặt trận quan trọng, cùng với mặt trận chính trị và quân sự. Những đường lối ngoại giao ghi lại dấu ấn Nguyễn Duy Trinh như: nghệ thuật vừa đánh vừa đàm; phối hợp đấu tranh ngoại giao của hai miền Nam - Bắc và nghệ thuật đàm phán của ngoại giao Việt Nam mà đỉnh cao là việc ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973… đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã lãnh đạo ngành ngoại giao hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ chính trị vô cùng quan trọng: đó là tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của bạn bè, cộng đồng quốc tế cho sự nghiệp cách mạng của Việt Nam, hình thành một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam và phản đối chiến tranh xâm lược phi nghĩa.

Tiếp tục cống hiến vì sự nghiệp xây dựng đất nước và công cuộc đổi mới

Sau hai cuộc kháng chiến trường kỳ, đến năm 1975 khi đất nước thống nhất và tiến hành công cuộc tái thiết sau nhiều năm bị chiến tranh tàn phá; trong bối cảnh khó khăn, vừa phải tranh thủ sự hỗ trợ của thế giới và cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa, vừa đấu tranh chống bao vây cấm vận, trên cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng chí Nguyễn Duy Trinh tiếp tục có những đóng góp lớn trong việc thúc đẩy mở rộng quan hệ ngoại giao của Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Ngày 21/9/1977, đồng chí Nguyễn Duy Trinh thay mặt Đảng và Nhà nước Việt Nam tham dự Lễ thượng cờ Việt Nam được tổ chức tại trụ sở Liên Hợp Quốc, đánh dấu việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của một tổ chức có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới. Đồng chí cũng đề xuất với Bộ Chính trị chủ trương sớm thiết lập và tăng cường quan hệ với các nước láng giềng ở khu vực với chính sách bốn điểm nổi tiếng(1). Trên cơ sở chính sách 4 điểm, đồng chí đã góp phần thúc đẩy quá trình thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước Đông Nam Á còn lại là Thái Lan và Philippin, đồng thời có rất nhiều hoạt động nhằm xây dựng và củng cố mối quan hệ chặt chẽ giữa Việt Nam với nhiều nước khác trong khu vực.

Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đồng chí Nguyễn Duy Trinh còn có những đóng góp rất quan trọng trong việc xây dựng ngành ngoại giao của Việt Nam. Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn mới của cách mạng, đồng chí đã vạch ra phương hướng để xây dựng ngành ngoại giao, đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ của ngành về cả phẩm chất và năng lực, trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch cán bộ dài hạn và tiêu chuẩn hóa cán bộ…

Năm 1982, tại Đại hội lần thứ V của Đảng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh được phân công là Thường trực Ban Nghiên cứu chiến lược kinh tế - xã hội của Trung ương Đảng và Chính phủ. Trước những bất cập trong cơ chế quản lý kinh tế của đất nước khi chúng ta duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế hành chính quan liêu bao cấp gây nên tình trạng trì trệ của nền kinh tế, không kích thích được phát triển sản xuất, ảnh hưởng tiêu cực về tâm lý xã hội, đồng thời ảnh hưởng lớn đến các mặt của đời sống, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã có những ý kiến phát biểu sâu sắc về việc sửa đổi cơ chế quản lý kinh tế, về chính sách phân phối, lưu thông về phân cấp công tác quản lý kinh tế. Dành nhiều tâm huyết nghiên cứu các vấn đề kinh tế, chuẩn bị nội dung các hội nghị bàn về kinh tế của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, đồng chí đã kiến nghị về những biện pháp để tháo gỡ khó khăn của nền kinh tế và xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp. Những ý kiến tâm huyết của đồng chí đã đóng góp quan trọng vào những kết luận của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, trở thành tiền đề quan trọng cho những chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng.

Trong lúc Đảng và đất nước đang rất cần những nhà lãnh đạo có nhiều kinh nghiệm với tinh thần đổi mới và sáng tạo, ngày 20/4/1985, do tuổi cao, bệnh nặng, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã từ trần tại bệnh viện Quân y Hà Nội, hưởng thọ 75 tuổi.

Tấm gương đạo đức sáng ngời 

Có thể nói, trong những năm tháng kháng chiến, thời kỳ hoạt động vô cùng gian khó, thiếu thốn, đồng chí Nguyễn Duy Trinh là một nhà hoạt động cách mạng kiên trung, một lòng tận tụy, tận trung với nước, tận hiếu với dân, sẵn sàng hi sinh bản thân vì nền độc lập của dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân, gần dân, gắn bó mật thiết với nhân dân.

Khi cách mạng thành công, Đảng trở thành đảng cầm quyền, trở thành một lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, đồng chí Nguyễn Duy Trinh lại càng tỏa sáng những phẩm chất đạo đức cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy, trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, yêu thương con người, tinh thần quốc tế trong sáng. Dù ở chức vụ cao, đồng chí luôn có lối sống giản dị, thanh bạch, chan hòa, tấm lòng rộng mở, chân tình, thương yêu cán bộ, quý trọng bạn bè, gần gũi nhân dân. Trong công việc, đồng chí không lấy quyền uy áp đặt quan điểm của mình đối với cấp dưới mà thường ôn tồn thuyết phục, luôn phát huy dân chủ, quý trọng mọi tài năng, dùng người đúng việc, không có thành kiến thiên lệch, sẵn sàng giúp đỡ mọi người…

Những công lao to lớn của đồng chí Nguyễn Duy Trinh được Đảng, Nhà nước, nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận. Đồng chí vinh dự được tặng thưởng Huân chương Sao vàng; Huân chương kháng chiến hạng Nhất; Huân chương kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất và nhiều huân chương, huy chương cao quý khác.

Viết về đồng chí Nguyễn Duy Trinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người đồng chí người bạn thân thiết đã cùng nhau làm việc trong một thời gian dài trong cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, khẳng định: "Tấm gương chiến đấu và phẩm chất cách mạng, đức tính khiêm tốn và tình thương yêu chân thành đối với đồng chí, đồng bào của anh đã để lại cho chúng ta nhiều tình cảm tốt đẹp và sâu sắc"(2).

Chú thích

1. Chính sách bốn điểm bao gồm: Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lược nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không để lãnh thổ của mình cho bất cứ nước nào dùng làm căn cứ xâm lược nước khác trong khu vực, thiết lập quan hệ hữu nghị, láng giềng tốt; phát triển hợp tác vì sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, vì độc lập dân tộc, hòa bình, trung lập ở Đông Nam Á.

2. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Nhớ anh Nguyễn Duy Trinh" in trong Nguyễn Duy Trinh - Hồi ký và tác phẩm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.107.

 

 

Đoàn Mạnh Tiến

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù bận trăm công nghìn việc vẫn dành sự quan tâm đặc biệt đối với thương binh liệt sĩ và gia đình liệt sĩ. Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về thương binh liệt sĩ, gia đình liệt sĩ toát lên những nét nhân văn cao đẹp. Tư tưởng ấy bao gồm những nội dung cụ thể sau đây:

Trước hết, Người luôn luôn có ý thức tôn vinh và khẳng định một cách hùng hồn đức hi sinh cao cả, anh dũng của những người liệt sĩ thương binh. Trong nhiều bài viết, bài nói, trong những bức thư gửi quần chúng nhân dân, đầu tiên bao giờ Người cũng khẳng định và nhấn mạnh rằng sở dĩ ngày nay toàn dân tộc được sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc là nhờ có sự hi sinh không tiếc máu xương của biết bao thế hệ liệt sĩ, thương binh: "Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt qua tất cả mọi khó khăn gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã truyền lại cho chúng ta" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 12 - trang 401). Rất nhiều lần Người đã ca ngợi, tôn vinh, trân trọng đức hi sinh, sự xả thân của các thương binh, liệt sĩ với những lời lẽ rất cảm động: "Khi giặc ngoại xâm ào ạt đến, nó như một trận lụt to. Nó sẽ đe dọa tràn ngập cả non sông, Tổ quốc. Nó đe dọa cuốn trôi cả tính mệnh, tài sản… của dân ta. Trước cơn nguy biến ấy, các thanh niên yêu quý của nước ta đã dũng cảm xông ra trước mặt trận. Họ quyết đem xương máu của họ đắp thành một bức thành đồng, một con đê vững để ngăn cản nạn ngoại xâm tràn ngập Tổ quốc, làm hại đồng bào" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 10 - trang 203). Như vậy, Hồ Chí Minh đã đánh giá cao ý nghĩa và giá trị của sự hi sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, của các liệt sĩ, thương binh. Ta thấy rõ Hồ Chí Minh là tấm gương sáng trong việc thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ người trồng cây" của dân tộc Việt Nam.

Thứ hai, Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định tính tất yếu phải làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ, tính tất yếu của việc phải thể hiện tốt đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc.

Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định rõ ràng: "Công tác thương binh, liệt sĩ là một trong những hình thức xây dựng trong lòng nhân dân "những tượng đài tưởng niệm" công ơn và sự hi sinh to lớn, cao cả của những người con ưu tú đã không tiếc máu xương xả thân cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân, để từ đó, các thế hệ kế tiếp mãi mãi ghi nhớ" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 5 - trang 79). Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh vì sao phải làm như vậy: "Bởi vì thương binh, liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, nhân dân. Họ đã quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Vì vậy bổn phận của chúng ta là phải biết ơn các thương binh, liệt sĩ. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, toàn Đảng, toàn dân cũng phải luôn ghi nhớ công ơn của các thương binh, liệt sĩ, những người đã hi sinh tính mệnh của mình hoặc bỏ lại một phần xương máu của mình trên chiến trường để cho đất nước được tự do, độc lập" (Thư gửi đồng bào cả nước nhân ngày thương binh liệt sĩ đầu tiên 27/7/1947).

Đó là tư tưởng nhất quán thể hiện rõ trong các bức thư, các bài viết của Người: "Liệt sĩ là người đã quyết hi sinh tính mệnh của mình để giữ gìn tính mệnh cho nhân dân. Thương binh là những người đã hi sinh một phần cơ thể của mình để bảo vệ non sông. Vì thế mà họ phải chịu què quặt, ốm yếu. Đồng bào chúng ta phải có nghĩa vụ, trách nhiệm đền đáp lại sự hi sinh đó. Bởi vậy, "đền ơn đáp nghĩa là việc tất yếu chúng ta phải làm" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 7 - trang 213). Qua đó ta thấy nét nhân văn trong tư tưởng của Hồ Chí Minh không chỉ là sự tiếc thương mà còn là sự tự hào về tinh thần anh dũng, bất khuất của các thương binh, liệt sĩ. Sự hi sinh của họ đã làm hồi sinh sức sống của cả dân tộc. Chính Hồ Chí Minh đã khẳng định sự hi sinh đó càng thêm cao đẹp bằng cách gắn sự hi sinh đó vào ý thức của những người còn sống về nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đối với những người đã hi sinh cho Tổ quốc, trên cơ sở đó, những người còn sống thấy rõ sự tất yếu, sự đương nhiên của việc phải đền ơn đáp nghĩa.

Thứ ba, với lòng trân trọng và lòng tiếc thương vô hạn, Hồ Chí Minh luôn luôn coi thương binh, liệt sĩ như con cháu ruột thịt của mình, coi nỗi đau, nỗi mất mát khi người liệt sĩ hi sinh là nỗi mất mát của chính bản thân mình.

Cứ mỗi lần nghe tin thanh niên hi sinh trên chiến trường là người cảm thấy như chính bản thân mình mất đi một phần cơ thể. Như khi nghe tin anh Vũ Văn Thành, con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng (Giám đốc Sở Y tế Bắc bộ) hi sinh (1947), mặc dù đang rất bận công việc lãnh đạo, kháng chiến, Người vẫn tranh thủ gửi thư thăm hỏi với những lời rất cảm động: "Tôi không có gia đình, tôi không có con cái. Nước Việt Nam là đại gia đình của tôi, thanh niên Việt Nam là con cháu tôi. Mất đi một thanh niên, thêm một liệt sĩ là tôi coi như mình mất đi một đoạn ruột" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 7 - trang 112). Sau này ông Vũ Đình Tụng có kể lại rằng: "Đọc xong thư của Bác, tự nhiên tôi thấy nỗi đau thương và sự mất mát của gia đình tôi trở thành nhỏ bé trong tình thương mênh mông của Bác. Tôi biết mình sẽ phải làm gì để xứng đáng với sự hi sinh của con tôi và để khỏi phụ tấm lòng của Bác".

Không những thế, nhiều lần Người đã nói những lời lẽ đầy cảm động và thông cảm, chia sẻ: "Những ngày họ chưa hi sinh, con của họ còn là con thơ, vợ của họ còn là vợ dại, nhưng khi họ trở thành liệt sĩ thì con thơ trở thành con côi, vợ dại trở thành vợ góa, và trên bàn thờ của gia đình từ đây thêm một tấm hình liệt sĩ. Thưa toàn thể đồng bào! Của cải mất đi còn có thể lấy lại được nhưng chân tay mất đi không thể mọc lại được và những liệt sĩ không thể nào sống lại. Vì vậy, tôi mong đồng bào hãy thương lấy các thương binh và các gia đình liệt sĩ" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 8 - trang 119).

Điều đặc biệt cảm động là ngày 7/11/1946, Bác đã ra "Thông báo về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi của mình". Và tiếp đó nhất trí chọn ngày 27/7 hàng năm làm "ngày thương binh, liệt sĩ" (bắt đầu từ 27/7/1947).

Thứ tư, Hồ Chí Minh đã chỉ ra cách làm, phương pháp tiến hành, phương thức tiến hành thực hiện công tác thương binh, liệt sĩ.

Hồ Chí Minh đã vạch rõ rằng: "Công tác thương binh, liệt sĩ không giống như những công tác bình thường mà một loại công tác xã hội đặc biệt. Chính sách đối với thương binh, liệt sĩ là một loại chính sách xã hội đặc biệt, đó không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ mà còn là vấn đề lương tri, tình cảm, đó là một nét nhân văn trong đạo lý sống, trong văn hóa ứng xử, trong đạo lý sống của con người Việt Nam, công tác này phải thu hút được sự tham gia của mọi ngành, mọi giới, mọi lứa tuổi trong xã hội" (Hồ Chí Minh toàn tập - tập 5 - trang 216). Người khẳng định rằng Đảng Cộng sản Việt Nam phải là người khởi xướng tổ chức, lãnh đạo công tác này thông qua hệ thống các chủ trương, đường lối, chính sách, công tác này không được dừng lại ở những hô hào, kêu gọi chung chung mà phải được thể chế hóa thành luật, thành văn bản dưới luật và phải thể hiện bằng những việc làm cụ thể. Bản thân Người chỉ trong vòng 8 tháng (từ tháng 2/1947 đến tháng 10/1947) đã ký liên tiếp 3 sắc lệnh về công tác thương binh, liệt sĩ: Sắc lệnh số 20 (16/2/1947) quy định tiền hưu, thương tật, tiền tuất cho thân nhân liệt sĩ; Số 58 (6/6/1947) thưởng Huân chương cho các tập thể, cá nhân có công với nước; Số 11 (3/10/1947) thành lập các Sở Thương binh trong cả nước.

Trên đây, chúng tôi đã trình bày những vấn đề chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thương binh, liệt sĩ. Có thể nói, trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn luôn dành những tình cảm đặc biệt đối với thương binh, liệt sĩ, gia đình liệt sĩ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thương binh, liệt sĩ vẫn mãi mãi là bài học quý giá đối với tất cả chúng ta.

 

PGS.TS Đào Khang

Tóm tắt

"Lệ làng" bao gồm phong tục, tục lệ, tập quán,… được thể hiện trong hương ước của làng, có mối quan hệ mật thiết với công cuộc xây dựng nông thôn mới (NTM). Thế nhưng 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và 8 giải pháp Hướng dẫn tiếp tục thực hiện cuộc vận động lại không có tiêu chí nào liên quan trực tiếp đến "lệ làng"; và ở Nghệ An, rất ít làng còn giữ được hương ước.

Việc điều chỉnh bộ tiêu chí là rất khó khăn, phức tạp. Tuy nhiên, nếu có hương ước, trong đó có lồng ghép các tiêu chí xây dựng NTM thì việc thực hiện (của người dân trong làng xã) sẽ thuận lợi và công tác đánh giá kết quả xây dựng NTM (của chính quyền) sẽ nhanh chóng và chính xác hơn.

Bài viết trình bày khái quát vai trò của phong tục, tục lệ của làng trong bảo vệ bản sắc văn hóa Việt, trong quản lý tổ chức lãnh thổ nông thôn và đề xuất xây dựng hương ước có lồng tiêu chí xây dựng NTM nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng NTM ở Nghệ An.

1. Đặt vấn đề

Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên những thành tựu đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất nước để phát triển một nền kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại.

Từ thực tế đó, Chính phủ Việt Nam đã có cuộc vận động xây dựng nông thôn mới (NTM) với mục tiêu "kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao".

Cuộc vận động được toàn bộ hệ thống chính trị - xã hội từ Trung ương đến địa phương, nhiều bộ, ban ngành trong cả nước triển khai thực hiện quyết liệt:

Ngày 5/8/2008 Chính phủ Việt Nam xây dựng "Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới"(1).

Ngày 4/6/2010, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020"(2).

Ngày 16/8/2016, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020"(3).

Ngày 27-29/5/2020 Hội nghị toàn quốc hệ thống Văn phòng Điều phối nông thôn mới năm 2020 được tổ chức tại tỉnh Quảng Trị(4) và tại nhiều địa phương khác, thời điểm khác.

Sau 10 năm triển khai, công cuộc xây dựng NTM đã "đạt và vượt các mục tiêu đề ra trước gần 2 năm, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước"(5)(Quang Huy, 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020: kết quả và bài học kinh nghiệm (Báo Dân vận, thứ ba, 12/5/2020 8:57'(GMT+7).

Ở Nghệ An, công tác xây dựng NTM thực sự trở thành sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân; được cả hệ thống chính trị đồng lòng, chung sức thực hiện. Kết quả 10 năm xây dựng NTM, Nghệ An đã tạo ra một diện mạo nông thôn mới, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Với những bước tiến vượt bậc, Nghệ An vươn lên đứng thứ 5 trong cả nước về xây dựng NTM(6).

Một đặc điểm của bộ tiêu chí quy định đạt chuẩn NTM là chú trọng nhiều đến giá trị vật thể của kiến trúc làng - nông thôn. Còn giá trị phi vật thể, trong đó có phong tục, tục lệ,… chỉ được lồng ghép trong các tiêu chí văn hóa, giáo dục, hệ thống tổ chức chính trị và tiếp cận pháp luật,… mà không có tiêu chí riêng.

Đặc điểm đó của bộ tiêu chí dẫn đến sự hạn chế đóng góp của phong tục, tục lệ của làng vào xây dựng NTM và xây dựng NTM có thể ảnh hưởng đến phong tục, tục lệ của làng ở Việt Nam nói chung, ở Nghệ An nói riêng.

Nên chăng, trong tiến trình xây dựng NTM, cần quan tâm đến tiêu chí phi vật thể như phong tục, tục lệ của làng - xã, đồng thời có biện pháp bảo tồn và phát huy vai trò của phong tục, tục lệ của làng vào xây dựng NTM. Một trong những biện pháp đó là thôn bản làng xã cần có hương ước và người dân thực hiện nghiêm hương ước như ông cha ta đã từng làm.

2. Vai trò của phong tục, tục lệ của làng

Phong tục là những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày.

Tục lệ là những quy định có từ lâu đời, đã trở thành thói quen trong đời sống xã hội.

Phong tục, tục lệ có thể phổ biến ở cấp quốc gia hay địa phương. Có phong tục, tục lệ có ý nghĩa tích cực cần gìn giữ (mỹ tục), có phong tục, tục lệ mang tính tiêu cực cần thay đổi, xóa bỏ (hủ tục).

Có ý kiến cho rằng ngày trước, cơ chế làng xã bền chặt với các phong tục, tục lệ của làng được thực hiện nghiêm đã góp phần quan trọng chống lại chính sách đồng hóa của ngoại bang, bảo vệ bản sắc văn hóa Việt và quản lý tổ chức lãnh thổ nông thôn Việt Nam phát triển bền vững.

Ngày nay, trong tiến trình xây dựng NTM, phong tục, tục lệ của làng vẫn có những đóng góp nhất định. Xây dựng NTM cũng có nhiệm vụ bảo tồn, sửa đổi phong tục, tục lệ của làng cho phù hợp với pháp luật của Nhà nước, phương hướng, nhiệm vụ của cuộc vận động, đặc điểm của địa phương. Các nội dung này cần đưa vào hương ước thôn bản làng xã.

2.1. Phong tục, tục lệ của làng góp phần chống lại chính sách đồng hóa của ngoại bang

Thời cổ, nền văn hóa Hán ngữ của Trung Quốc từng có sức đồng hóa rất mạnh. Dân tộc Hồi ngày xưa dùng chữ A Rập, sau khi giao lưu với người Hán đã dùng chữ Hán và nói tiếng Hán. Dân tộc Mãn sau khi chiếm Trung Quốc, lập ra nhà Thanh đã kiên quyết đồng hóa dân tộc Hán, trong đó có việc bắt bỏ chữ Hán, chỉ dùng chữ Mãn,… Tuy nhiên, chưa đến giữa đời Thanh thì tiếng Mãn, chữ Mãn đều biến mất. Người Mãn chỉ dùng tiếng Hán và chữ Hán. Họ bị đồng hóa ngược bởi chính nền văn hóa Hán.

Thế nhưng sau hơn ngàn năm bị bọn phong kiến người Hán thống trị và cưỡng bức đồng hóa, dân tộc Việt Nam vẫn không bị Hán hóa.

Nhiều quốc gia trên thế giới, sau khi bị các đế quốc châu Âu chiếm làm thuộc địa, đã bị đồng hóa ngôn ngữ. Thường thì sau 5 - 6 thế hệ (mỗi thế hệ khoảng 25 năm), ngôn ngữ của người bản xứ bị thay bằng ngôn ngữ của nước cai trị. Các nước châu Mỹ La tinh nói tiếng Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Nhiều quốc gia châu Phi (Benin, Togo, Senegan…) nói tiếng Pháp. Hoa Kỳ, New Zeeland, Australia,… dùng tiếng Anh.

Ở Việt Nam, từ năm 1918, bắt đầu dạy tiếng Pháp ở lớp cuối Tiểu học. Sau đó học sinh Trung học cơ sở trở lên đến trường chỉ nói tiếng Pháp, giáo viên chỉ dạy bằng tiếng Pháp… Vậy nhưng, Việt Nam chỉ nằm trong Cộng đồng Pháp ngữ mà không lấy tiếng Pháp làm quốc ngữ. Không nhiều dân tộc trên thế giới làm được điều này.

Để có được kỳ tích đó, ngoài yếu tố nhân dân ta giàu lòng yêu nước, tính tự lực tự cường và tinh thần dân tộc cao,… thì một nguyên nhân rất quan trọng là: xã hội Việt Nam từ xưa đã có cơ chế làng xã bền chặt, được quản lý không chỉ "phép vua" mà còn có cả "lệ làng" bao gồm cả phong tục, tục lệ,… của làng được ghi rõ trong hương ước.

2.2. Vai trò của phong tục, tục lệ của làng trong việc quản lý tổ chức lãnh thổ nông thôn

Nông thôn là vùng lãnh thổ (thôn/làng) của cộng đồng dân cư sinh sống chủ yếu bằng một nghề (nông). Nông thôn là địa bàn phát triển sản xuất của ngành nông nghiệp, là môi trường sống của người nông dân trong các làng.

Làng ở Việt Nam được hình thành rất sớm, từ khi mới lập nhà nước Âu Lạc, suốt thời đại Hùng Vương, các triều đại phong kiến, chế độ thực dân… cho đến tận ngày nay.

Ở nông thôn Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng, người trong làng có mối quan hệ với nhau về tình là dựa theo huyết thống (một giọt máu đào hơn ao nước lã) và láng giềng (bán anh em xa mua láng giềng gần); về lý là dựa vào phong tục, tục lệ - hương ước hay lưu chiếu văn (lệ làng được ghi bằng văn bản) và luật tục (lệ làng được quy định bằng lời nói) quy định cách ứng xử của các thành viên trong làng.

Quá trình hình thành và phát triển của văn hoá pháp lý Việt Nam, "phép vua/luật nước và lệ làng/hương ước luôn là hành trang pháp lý song hành trong mọi thăng trầm của đất nước. Các vương triều Việt Nam đã xây dựng và thực thi nhiều bộ luật lớn (Hình thư triều Lý, Hình thư triều Trần, Quốc triều Hình luật triều Lê, Hoàng triều luật lệ triều Nguyễn) vẫn duy trì, tôn trọng lệ làng, coi đó là công cụ điều chỉnh - duy trì quan hệ giữa quốc gia và cộng đồng làng xã.

2.3. Phong tục, tục lệ của làng trong xây dựng nông thôn mới

2.3.1. Phong tục, tục lệ của làng chưa được thể hiện đầy đủ trong bộ Tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

Làng ở nông thôn Việt Nam từng được coi như một quốc gia thu nhỏ với một "luật pháp riêng". Mỗi làng như là một "triều đình riêng" với hội đồng kỳ mục là cơ quan lập pháp, lý dịch là cơ quan hành pháp,... Sự can thiệp của nhà nước phong kiến, và sau này của chế độ thực dân không làm ảnh hưởng nhiều đến tổ chức làng xã, thậm chí có khi "phép vua thua lệ làng".

Trong cuộc vận động xây dựng NTM, phép vua chính là chủ trương/bộ tiêu chí xây dựng NTM, lệ làng bao gồm phong tục, tục lệ, tập quán,… của làng, có mối quan hệ mật thiết với công cuộc xây dựng NTM.

Tuy nhiên, "phép vua" với 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới(7) (mỗi tiêu chí lại được các địa phương cụ thể hóa thành nhiều tiêu chí nhỏ hơn: Quảng Bình: 39; Bến Tre 49; Miền núi Nghệ An 15 tiêu chí lớn, 39 tiêu chí cụ thể(8)) và 8 giải pháp Hướng dẫn tiếp tục thực hiện cuộc vận động(9), thì không có tiêu chí nào liên quan trực tiếp đến "lệ làng". Vì vậy, các báo cáo kết quả thực hiện xây dựng NTM của các địa phương không thể hiện rõ vai trò/đóng góp của "lệ làng".

Việc bổ sung, điều chỉnh bộ tiêu chí xây dựng NTM là rất khó khăn, phức tạp. Tuy nhiên, có thể bổ sung một số biện pháp liên quan đến "lệ làng" nhằm thực hiện hiệu quả hơn công cuộc xây dựng NTM.

2.3.2. Biện pháp nâng cao hiệu quả xây dựng NTM liên quan đến phong tục, tục lệ của làng ở Nghệ An

Đối với một nước nông nghiệp, làng là gốc của đất nước. Hoạt động xây dựng NTM với bộ tiêu chí quốc gia về NTM ban hành chủ yếu là cho các làng và thực hiện ở các làng.

Ở Nghệ An, làng ở đồng bằng, bản ở miền núi là môi trường văn hoá pháp lý để phát huy hiệu lực của bộ tiêu chí về NTM trong mối quan hệ bảo lưu các nét đặc trưng lối sống cộng đồng dân cư nông thôn của một tỉnh có nền kinh tế thiên về nông nghiệp. Phong tục, tục lệ của làng bản cần được vận dụng như là phương tiện hỗ trợ chuyển tải các tiêu chí xây dựng NTM vào cụ thể từng thôn bản làng xã. Nói cách khác, để cuộc vận động xây dựng NTM đi vào thực tiễn, các tiêu chí phải tìm cách hoá thân vào các quy định của lệ làng/hương ước, thông qua phong tục, tục lệ,… của làng bản.

Theo cố PGS Ninh Viết Giao, các hương ước ở Nghệ An (còn giữ lại được) về cơ bản đều thể hiện ý thức hệ Nho giáo. Đó là các quy định về "tam cương, ngũ thường", về "tôn ti trật tự" trong các quan hệ có tính thứ bậc trong làng xã.

"Thứ bậc" trong hương ước mới, về cơ cấu có thể vận dụng thành các tổ chức đoàn thể Đảng, Đoàn, kể cả Phụ lão, Thiếu niên, Nhi đồng, Nhi ấu; các hội Phụ nữ, Cựu chiến binh, Khuyến học, Hội đồng gia tộc trong các họ, Trưởng thôn ở khu vực đồng bằng; Già làng, Trưởng bản ở khu vực miền núi.

Một trong những biện pháp có thể bổ cứu, cụ thể hóa tiêu chí xây dựng NTM chung cho các địa bàn ở Nghệ An (ven biển, đồng bằng, miền núi) là hoàn thiện bộ hương ước (đối với những nơi còn giữ được hương ước của tổ tiên) hoặc xây dựng hương ước mới (đối với những nơi bị mất hương ước).

Hương ước là một phần lệ làng được văn bản hóa, phản ánh trung thực, cụ thể và sinh động những quy định mang nét đặc trưng của làng. Sự phát triển ổn định hàng ngàn năm nay của nông thôn Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng không thể tách rời vai trò của hương ước và sự thực thi hương ước nghiêm minh của người xưa. Nếu xây dựng NTM có yếu tố hương ước thì hiệu quả sẽ rất cao. Ví dụ:

Trong bộ tiêu chí NTM, tiêu chí 17. Môi trường, có 2 mục nhỏ luôn có trong hương ước làng xã trước đây:

- Mục 17.3. Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường... Trong các hương ước luôn có khoản "không ai được vi phạm cây cối của làng". Thực tế là ngày xưa không ai dám động đến cây đa hay bất cứ cái cây nào của làng (Ngày nay cây "quốc cấm" như cây sưa ngay giữa thủ đô Hà Nội cũng bị chặt). Nếu có hương ước, trong đó có điều khoản "cấm vi phạm cây xanh của làng" thì tất cả các làng đều nghiễm nhiên đạt tiêu chí này.

- Mục 17.5. Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định. Tiêu chí này hiện nay rất khó thực hiện ở phạm vi làng xã. Ngày trước trong hương ước có điều khoản "cấm vi phạm nguồn nước" được dân làng bản thực hiện rất nghiêm. Thậm chí phụ nữ ngày kinh nguyệt cũng tự biết mà không đến nơi có nguồn nước của làng bản (Ngày nay người dân sẵn sàng vứt cả gia súc, gia cầm chết vì dịch bệnh ra mương máng, ao hồ trong làng). Nếu có hương ước, trong đó có điều khoản "cấm xả các loại chất thải chưa được xử lý theo tiêu chuẩn ra môi trường" thì tất cả các làng đều nghiễm nhiên đạt tiêu chí này.

Người dân nông thôn Nghệ An trước đây ít được học hành so với ngày nay nhưng thực hiện "luật nước" nghiêm hơn ngày nay vì họ đã quen với việc chấp hành các điều khoản trong hương ước. Khi người dân chưa kịp quen với "luật nước" thì trước hết nên để họ thực thi hương ước (Chưa kể nhiều bộ luật của Việt Nam còn chưa thật hoàn thiện. Từ nhiều năm nay, mỗi năm Quốc hội họp 2 kỳ, mỗi kỳ họp trên dưới 1 tháng, kỳ nào cũng có nội dung bổ sung, sửa đổi luật).

Ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, rất nhiều làng còn giữ được đầy đủ hương ước của tổ tiên (như hương ước làng Thổ Khối, tổng Cự Linh, huyện Gia Lâm, Hà Nội; hương ước làng Phú Cốc (Hà Tây cũ) còn có cả bản gốc(10). Trong tác phẩm "Hương ước trong làng xã đồng bằng Bắc bộ nửa đầu thế kỷ XX" của Vũ Duy Mền và Trịnh Thị Hà, có tham khảo hương ước của 25 làng(11).

Ở Nghệ An hiếm làng còn giữ được hương ước xưa của tổ tiên. 

Xây dựng và/hoặc hoàn thiện hương ước là rất cần thiết. Các chi tiết trong hương ước sẽ khác xưa nhưng điều khoản thi hành thì phải nghiêm như ngày xưa. Nội dung hương ước nằm trong khuôn khổ pháp luật và mang đặc điểm riêng của mỗi bản làng.

Nếu hương ước có lồng tiêu chí xây dựng NTM thì hiệu quả thực hiện của làng xã sẽ cao và công tác theo dõi, đánh giá, nghiệm thu của chính quyền sẽ nhanh chóng, chính xác hơn. Nhưng quan trọng hơn cả là hạn chế được các hiện tượng, hành vi sai trái của người dân.

Cần lưu ý là: để hương ước được thực thi hiệu quả, cần tăng thêm trách nhiệm, quyền hạn và quyền lợi cho trưởng thôn.

Thời phong kiến, lý trưởng (tương đương trưởng thôn ngày nay) có quyền cấp đất (ngang quyền hạn của chủ tịch huyện ngày nay), có quyền ra lệnh trói, đánh, làm nhục người có tội (bất cứ chức vụ gì hiện nay cũng không được làm). Quyền của trưởng thôn và ban cán sự thôn ngày nay không thể như quyền của lý trưởng và hội đồng kỳ mục thời phong kiến. Nhưng nếu trưởng thôn ngày nay gần như không có quyền hạn gì thì hương ước của làng sẽ giảm hiệu lực; tác dụng của hương ước sẽ không cao.

3. Kết luận

Ngày trước, cơ chế làng xã bền chặt và toàn dân thực hiện nghiêm hương ước đã góp phần tạo nên thành tựu vĩ đại rất đáng tự hào của dân tộc ta là không bị ngoại bang đồng hóa mà hoàn cảnh nào cũng giữ được bản sắc văn hóa Việt.

Sự phát triển bền vững hàng ngàn năm qua của dân tộc Việt Nam, một phần cũng nhờ vào sự quản lý lãnh thổ nông thôn bằng hương ước, phong tục, tục lệ.

Để công cuộc xây dựng NTM được thực thi thuận lợi (phía nông dân) và việc giám sát, đánh giá được nhanh chóng, chính xác (phía cơ quan quản lý), các làng bản ở Nghệ An, còn giữ được hay đã mất hương ước, cần xây dựng, hoàn thiện hương ước, công cụ hữu ích cho nhiều mục đích, trong đó có công cuộc xây dựng NTM.

 

Chú thích

1. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.

2. Cổng thông tin điện tử nước CHXHCNVN ngày 4/6/2010. Quyết định số 800/QĐ-TTg.

3. Thư viện pháp luật 10/11/2017. Quyết định số 1760/QĐ-TTg.

4. Cổng thông tin điện tử Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới. 30/5/2020).

5. Quang Huy, 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020: kết quả và bài học kinh nghiệm (Báo Dân vận. Thứ Ba, 12/5/2020 8:57'(GMT+7).

6. Đ.A. Một số kết quả nổi bật sau 10 năm xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An. nghean.dcs.vn. 22/10/2019.

7. 19 tiêu chí: 1. Quy hoạch và thực hiện quy hoạch; 2. Giao thông; 3. Thủy lợi; 4. Điện; 5. Trường học; 6. Cơ sở vật chất văn hóa; 7. Chợ nông thôn; 8. Bưu điện; 9. Nhà ở dân cư; 10. Thu nhập; 11. Hộ nghèo; 12. Cơ cấu lao động; 13. Hình thức tổ chức sản xuất; 14. Giáo dục; 15. Y tế; 16. Văn hóa; 17. Môi trường; 18. Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh; 19. An ninh, trật tự xã hội.

8. UBND tỉnh Nghệ An, Bộ tiêu chí thôn, bản miền núi đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2017 - 2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số: 2337/QĐ-UBND ngày 01/6/2017).

9. 8 giải pháp là: 1. Tiếp tục thực hiện cuộc vận động xã hội sâu rộng về xây dựng nông thôn mới; 2. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách; 3. Đa dạng hóa các nguồn vốn huy động để thực hiện Chương trình; 4. Cơ chế phân bổ, giám sát và theo dõi các nguồn vốn thực hiện Chương trình; 5. Cơ chế hỗ trợ; 6. Cơ chế đầu tư; 7. Hợp tác quốc tế trong xây dựng nông thôn mới; 8. Điều hành, quản lý Chương trình.

10. Bùi Xuân Đính, Hương ước về quản lý làng xã, NXB Khoa học Xã hội, H. 1998 (Dẫn theo Lê Minh Thông. Luật nước và hương ước lệ làng trong đời sống pháp lý của các cộng đồng làng xã Việt Nam. VNH3.TB7.851).

11. Vietnam Citation Gateway (V-CitationGate). Truy cập tháng 6/2020.

 

Tài liệu tham khảo

1. Bùi Xuân Đính, Hương ước về quản lý làng xã, NXB Khoa học Xã hội, H. 1998,

2. Đ.A, Một số kết quả nổi bật sau 10 năm xây dựng nông thôn mới ở Nghệ An. nghean.dcs.vn. 22/10/2019.

3. Cao Xuân Huy: Tư tưởng phương Đông - Gợi những tầm nhìn tham chiếu, Nxb Văn học, Hà Nội 1995.

4. Quang Huy, 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020: kết quả và bài học kinh nghiệm (Báo Dân vận. Thứ Ba, 12/5/2020).

5. Lê Minh Thông, Luật nước và hương ước lệ làng trong đời sống pháp lý của các cộng đồng làng xã Việt Nam. VNH3.TB7.851. UBND tỉnh Nghệ An. Bộ tiêu chí thôn, bản miền núi đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2017 - 2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số: 2337/QĐ-UBND ngày 01/6/2017).

Nguyễn Hồ Lâm

Cùng với sự phát triển chung của làng nghề cả nước, các làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An cũng đang có sự chuyển mình mạnh mẽ, phù hợp xu thế hội nhập kinh tế, tạo động lực mới phát triển kinh tế nông thôn, góp phần quan trọng nâng cao thu nhập cho người dân, đẩy mạnh hiệu quả phong trào xây dựng nông thôn mới trên toàn tỉnh.

Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sự tồn tại và phát triển của các làng nghề, làng nghề truyền thống là tất yếu khách quan, xuất phát từ nhu cầu, đòi hỏi của đời sống và sản xuất. Thực tế phát triển các làng nghề ngày càng cho thấy những lợi thế, tiềm năng, vai trò và ý nghĩa tích cực của nó, bởi lẽ các làng nghề là nơi lưu trữ và thể hiện những nét riêng biệt của một nền văn hoá, giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc; góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, tăng thu nhập, giảm bớt tình trạng nghèo đói cho người dân địa phương; tạo ra sự phát triển hài hòa giữa sản xuất và bảo vệ môi trường; là một trong những yếu tố quan trọng thu hút sự tìm hiểu và khám phá của du khách trong và ngoài nước; ở mức độ rộng hơn, góp phần khẳng định vị thế của một quốc gia trong xu thế hội nhập toàn cầu, mà không mất đi bản sắc văn hóa của dân tộc.  

Sự tồn tại và phát triển của các làng nghề đã khẳng định vị thế và vai trò của nó trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội tại địa phương, là một trong những mục tiêu quan trọng để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, góp phần phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, đời sống của nhân dân và thực hiện hiệu quả nhóm tiêu chí "Kinh tế và tổ chức sản xuất" trong xây dựng nông thôn mới.

Sau 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, cũng như các chủ trương, chính sách về phát triển ngành nghề nông thôn, hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa,… và hơn 01 năm thực hiện chương trình OCOP "Mỗi xã một sản phẩm". Nhờ sự vào cuộc quyết liệt của toàn hệ thống chính trị, sự nỗ lực của các sở, ngành, địa phương, đặc biệt là sự đồng thuận hưởng ứng của nhân dân trong toàn tỉnh, ngành nghề nông thôn, HTX, doanh nghiệp nhỏ và vừa của tỉnh đã có bước phát triển đáng kể cả về quy mô và giá trị sản xuất. Đến nay, toàn tỉnh có 33.271 cơ sở ngành nghề nông thôn và 562 HTX nông nghiệp, thu hút 662.250 lao động tham gia, có 164 làng nghề  được công nhận giải quyết việc làm cho gần 25.000 lao động, thu nhập bình quân 4 - 4,5 triệu đồng/lao động/tháng; hiện có 182 sản phẩm của 156 tổ chức, cá nhân có thế mạnh để phát triển thành các sản phẩm OCOP; Giá trị sản xuất hàng năm mang lại khoảng 2.430 tỷ đồng. Năm 2019 qua đánh giá phân hạng sản phẩm OCOP toàn tỉnh có 48 sản phẩm đạt 3 sao trở lên, trong đó có 15 sản phẩm đạt 4 sao, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 45.000 lao động, với mức thu nhập bình quân 4,5-5 triệu đồng/tháng nhiều làng nghề chiếm 30% - 40% tỷ trọng giá trị sản xuất của thôn (bản), tiêu biểu như: Làng nghề Nước mắm hạ thổ Vạn phần, Hương trầm Liên Đức; Dệt thổ cẩm Châu Tiến, Làng nghề sản xuất Muối Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Thuận, An Hòa; Làng nghề chế biến hải sản Ngọc Văn... Đời sống của người dân làng nghề đã được nâng lên. Qua đó, đã góp phần quan trọng vào kết quả xây dựng nông thôn mới ở các địa phương, đến nay toàn tỉnh đã có 4 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn Nông thôn mới (Thái Hòa, Thành phố Vinh, Nam Đàn, Yên Thành), có 332/431 xã đạt tiêu chí số 10 về thu nhập, chiếm 77%; 356/431 xã đạt tiêu chí về tổ chức sản xuất chiếm 82,9%; có 318/431 xã đạt tiêu chí về hộ nghèo (chiếm 73,7%); có 395/431 xã đạt tiêu chí về lao động có việc làm (tiêu chí 12, chiếm 91,65%) góp phần từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần tích cực vào mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, đến nay toàn tỉnh có 265/431 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 61,5%.

Tuy nhiên, nhìn nhận một cách tổng thể cho thấy thời gian qua sự phát triển các làng nghề nói chung làng nghề truyền thống nói riêng của tỉnh Nghệ An vẫn chưa phát huy được tiềm năng và lợi thế của nó, thể hiện rõ nhất là sự mai một và thậm chí biến mất của một số ngành nghề đã được cha ông gìn giữ từ hàng nghìn đời nay. Song song với đó là tình trạng manh mún, nhỏ lẻ, tự phát và lạc hậu trong hoạt động sản xuất; hậu quả là chất lượng của sản phẩm truyền thống chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, chưa hấp dẫn khách du lịch, khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường kém, tính ổn định của sản phẩm chưa cao và đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường của các làng nghề do một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất: Nhận thức của một số bộ phận cán bộ và nhân dân về phát triển ngành nghề nông thôn chưa toàn diện, mới thuần túy về phát triển kinh tế còn vai trò vị trí của làng nghề, làng nghề truyền thống trong việc bảo tồn và phát triển các làng nghề nhằm giữ gìn các giá trị văn hoá, khẳng định vị thế của địa phương, tạo việc làm, nâng cao mức sống, cải thiện môi trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhưng chưa được quan tâm đúng mức, nên thiếu tính đồng bộ trong quá trình thực hiện.

Thứ hai: Hiện nay chưa có các chính sách đủ mạnh để giữ gìn và phát triển các làng nghề nhất là chính sách cho đầu tư phát triển, chính sách đãi ngộ cho các nghệ nhân, lao động có tay nghề cao trong các làng nghề bởi: Nghệ nhân và lao động có tay nghề cao là tài sản quý của từng địa phương và của cả tỉnh mà ông cha để lại như: Tương Nam Đàn; Nhút Thanh chương; Dệt thổ cẩm; Nghề đan lát của người Khơ mú, Nghề chế biến dầu lạc Hưng Nguyên, Nghề chế biến bánh đa Đô Lương, Nghề chế biến nước mắm Quỳnh Dị…

Thứ ba: Việc đào tạo lao động có tay nghề cao, bảo vệ môi trường, ổn định đầu ra là ba vấn đề cốt lõi và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của từng cơ sở và người dân làng nghề để duy trì, phát triển bền vững làng nghề ở tỉnh ta, tạo ra bộ mặt đô thị hóa mới cho nông thôn, để nông dân "ly nông nhưng không ly hương" và làm giàu trên quê hương mình, cả trong hiện tại, cũng như trong tương lai. Tuy nhiên hiện nay chưa được quan tâm đúng mức nhất là đào tạo lao động có tay nghề cao, bảo vệ môi trường, ổn định đầu ra cho sản phẩm do vậy có sự mai một và thậm chí biến mất của một số ngành nghề truyền thống đã được cha ông gìn giữ từ hàng nghìn đời nay như: Nghề chạm khắc; Nghề trồng cói; Trồng dâu nuôi tằm; Trồng đay; Nghề đúc đồng; Nghề chế biến bánh đúc; Nghề nấu cao cỏ đị; Nghề sản xuất thuốc lào ….

Thứ tư: Thiếu sự liên kết chuỗi giá trị trong sản xuất để mở cửa và phát triển thị trường phù hợp, chưa chuyển từ sản xuất cho mình thành sản xuất hàng hóa bán cho thị trường, từ tự cung tự cấp sang sản xuất để bán. Bởi hiện nay hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu là hộ gia đình mang tính tự phát, thiếu quy hoạch, thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa người sản xuất với các nhà khoa học, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp và thị trường; chưa nắm bắt kịp nhu cầu thị trường; thị hiếu người tiêu dùng trong và ngoài nước, công tác xây dựng thương hiệu sản phẩm chưa được chú trọng...; hệ thống thông tin, quảng bá sản phẩm chưa đáp ứng nhu cầu phát triển nên xảy ra tình trạng manh mún, nhỏ lẻ, tự phát và lạc hậu trong hoạt động sản xuất. Hậu quả là chất lượng của sản phẩm truyền thống chưa đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng, chưa hấp dẫn khách du lịch, khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường kém.

Thứ năm: Sản phẩm làng nghề chưa chú trọng về chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng, và các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng sản phẩm, còn nặng về sản xuất theo số lượng chưa quan tâm đến chất lượng sản phẩm; Các sản phẩm ngành nghề nông thôn chưa gắn kết với du lịch và dịch vụ. Tính ổn định của sản phẩm chưa cao.

Thứ sáu: Thiếu mặt bằng để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường của các làng nghề, trong quy hoạch xây dựng nông thôn mới một số địa phương chưa dành quỹ đất để di dời một số làng nghề gây ô nhiễm ra khỏi khu vực dân cư. Bên cạnh đó nếu có mặt bằng thì vấn đề thủ tục hành chính và nguồn lực để di dời là một nội dung cần quan tâm.

Thứ bảy: Việc áp dụng và đổi mới công nghệ tại các cơ sở sản xuất còn chậm, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và giá thành, cũng như tính cạnh tranh của sản phẩm. Mối liên kết giữa các cơ sở sản xuất ngành nghề nông thôn với các nhà khoa học, nhà đầu tư và thị trường còn lỏng lẻo, chưa gắn bó chặt chẽ. Bên cạnh đó một số nguồn nguyên liệu đang dần cạn kiệt như (mây, nứa, lùng, gỗ...) nên sản phẩm của làng nghề truyền thống thường có giá thành cao.

Thứ tám: Việc huy động vốn để sản xuất chủ yếu là vốn tự có của các hộ làm nghề là chủ yếu, vốn vay tín dụng từ các ngân hàng thương mại hoặc hỗ trợ từ nhà nước còn hạn chế. Các hộ gia đình, HTX và doanh nghiệp về ngành nghề nông thôn vẫn còn gặp nhiều trở ngại trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng, chủ yếu cơ chế tín dụng và thủ tục vay.

Thứ chín: Thị trường tiêu thụ sản phẩm còn quá nhỏ hẹp, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc và quảng bá sản phẩm, hệ thống các ngành sản xuất hỗ trợ, nhất là trong các khâu sản xuất, khai thác và xử lý nguyên vật liệu phục vụ cho các loại ngành nghề dù đã được tăng cường vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển.

Thứ mười: Nguồn vốn đầu tư để mở rộng sản xuất kinh doanh còn hạn chế. Khả năng huy động vốn từ các tổ chức tín dụng để phát triển làng nghề còn thấp. Cơ chế quản lý và hoạt động sản xuất cũng theo kiểu tự phát nên các hộ làm nghề trong làng nghề chưa có sự gắn kết, dẫn đến kết quả sản xuất kinh doanh hiệu quả chưa cao.

Để làng nghề "cất cánh" cũng như đạt được các mục tiêu của chương trình xây dựng nông thôn mới, thì việc phát triển, nhân rộng các làng nghề, ngành nghề nông thôn hiện nay cần sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị, theo tôi các địa phương cần làm tốt một số nội dung sau đây:

- Chúng ta phải thống nhất nhận thức rằng việc phát triển làng nghề là chiến lược mang tính lâu dài nên không cần phải thúc ép thực hiện vấn đề, quan trọng hơn hết phải đặt ra lúc này là làm gì để phát triển các làng nghề truyền thống đúng hướng, thực chất và đảm bảo chất lượng, tránh tình trạng vàng thau lẫn lộn, hay cách làm hình thức.

- Các địa phương cần lựa chọn, xác định được ngành nghề có tiềm năng lợi thế để tập trung phát triển. Chú trọng công tác đào tạo, truyền nghề cho người lao động. Đặc biệt, cần khuyến khích thành lập các doanh nghiệp đầu mối, đảm nhận khâu tiêu thụ sản phẩm cho các hộ sản xuất.

- Tập trung giải quyết các vướng mắc khó khăn của các làng nghề hiện nay chính là mặt bằng sản xuất, đất chật người đông, làng nghề và các hộ làm nghề hầu hết là nằm đan xen trong khu dân cư nên mặt bằng sản xuất chật hẹp, không có điểm tập kết nguyên vật liệu phục vụ sản xuất. Chính khó khăn này đã khiến cho vấn đề môi trường của làng nghề khó được cải thiện làm ảnh hưởng đến thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới. Vì vậy cần được quy hoạch và xây dựng riêng một khu hoặc cụm tiểu thủ công nghiệp dành riêng cho các hộ làm nghề sản xuất hàng hóa, tạo thuận lợi cho công tác quản lý, xử lý ô nhiễm môi trường cũng như giao dịch thương mại sản phẩm hàng hóa.

- Quan tâm thị trường tiêu thụ sản phẩm, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc và quảng bá sản phẩm, hệ thống các ngành sản xuất hỗ trợ, nhất là trong các khâu sản xuất, khai thác và xử lý nguyên vật liệu phục vụ cho các loại ngành nghề dù đã được tăng cường vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển.

- Nguồn vốn đầu tư để mở rộng sản xuất kinh doanh cho các chủ thể. Khả năng huy động vốn từ các tổ chức tín dụng để phát triển làng nghề.

- Tăng cường hỗ trợ các làng nghề hoạt động sản xuất kinh doanh nhất là liên kết chuỗi giá trị để kết quả sản xuất kinh doanh hiệu quả cao.

Hy vọng rằng, với tiềm năng thế mạnh sẵn có của các làng nghề cùng sự đầu tư đúng hướng, những chính sách phù hợp sát thực tiễn, các làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An sẽ vượt qua được khó khăn thách thức hiện nay góp phần đưa Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới về đích theo đúng kế hoạch đề ra.

Trần Quốc Thành

Phát triển nông nghiệp là một định hướng lớn của Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng nhằm phát huy lợi thế của đất nước có truyền thống nông nghiệp và đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, đa dạng sinh học.

Trong những năm qua, Việt Nam cũng như Nghệ An đã xác định cây con chủ lực trên địa bàn để có chính sách khuyến khích phát triển và đã có những bước phát triển đáng kể góp phần vào tăng trưởng kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Nhất là góp phần tái cơ cấu nội ngành nông nghiệp nhằm nâng cao giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích đất. Một số sản phẩm đã có bước phát triển nhanh, có thương hiệu như bò sữa, cam…

Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn lại, chúng ta thấy việc phát triển sản phẩm chủ lực của Nghệ An trong lĩnh vực nông nghiệp kết quả còn  hạn chế. Sự đóng góp của các sản phẩm chủ lực được xác định chưa thực sự bứt phá, chưa góp phần xây dựng thương hiệu Nghệ An, thị trường còn hạn chế, nhiều sản phẩm khó đạt mục tiêu, chưa thúc đẩy mạnh mẽ tái cơ cấu ngành nông nghiệp; sản phẩm có giá trị gia tăng ít.

Vậy nguyên nhân từ đâu?

Trước hết, việc xác định cây chủ lực để khuyến khích, hỗ trợ đầu tư phát triển còn quá nhiều đối tượng. Nghệ An năm 2014 xác định 12 cây, 8 con với 21 chỉ tiêu là quá rộng. Trong khi đó Lâm Đồng xác định 4 đối tượng chủ lực (rau hoa, cà phê, chè và bò sữa); Quảng Trị xác định 8 đối tượng; Bắc Giang chọn 8 sản phẩm,… Vì xác định nhiều, trong khi nguồn lực yếu cho nên đầu tư và hỗ trợ đầu tư dàn trải, thiếu tập trung, thiếu kết nối giữa các nguồn lực (trong đó có nguồn lực khoa học), khó thu hút doanh nghiệp. Cũng vì khó thu hút doanh nghiệp nên khó kết nối chuỗi, chưa có nhiều sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm đầu ra giá thấp, bấp bênh, chất lượng không đồng đều, khó kiểm soát, năng lực cạnh tranh thấp.

Đất đai phần lớn do nông dân được cấp quyền sử dụng, diện tích nhỏ lẻ, khó đầu tư cơ giới, khó áp dụng kỹ thuật công nghệ mới, khó kết nối với doanh nghiệp. Nông lâm trường thì chưa phát huy được hiệu quả so với tiềm năng, lợi thế. Doanh nghiệp tiếp cận đất đai khó khăn.

Thị trường bị cạnh tranh không chỉ thế giới mà ngay cả trong nước, thông tin thị trường người dân chưa được tiếp cận thường xuyên. Hợp tác giữa doanh nghiệp và nông dân lỏng lẻo, thiếu tin cậy.

Cơ sở hạ tầng còn chưa đồng bộ, nhất là điện, logistic trong nông nghiệp. Tài chính trong nông nghiệp cũng gặp khó khăn, trong khi chính sách hỗ trợ phát triển còn nặng hỗ trợ đầu vào, ít hỗ trợ đầu ra (áp dụng tiêu chuẩn, hỗ trợ doanh nghiệp, xúc tiến thương mại...), thậm chí có chính sách nhưng thiếu nguồn lực thực hiện. hoặc quy trình thủ tục phức tạp không hấp dẫn doanh nghiệp tham gia.

Quản lý nhà nước về phân bón, giống, chất lượng,... còn hạn chế.

Chất lượng lao động trong ngành nông nghiệp chất lượng thấp. Thiếu nguồn nhân lực trẻ ở nông thôn. Trong khi hệ thống đào tạo chủ yếu là Đại học Vinh, còn hệ thống cao đẳng trung cấp cũng có đào tạo nhưng ít và nặng lý thuyết không hề có thực hành mà đào tạo nông nghiệp rất cần thực hành trên thực địa.

Từ những vấn đề trên chúng tôi xin đưa ra một số đề xuất như sau:

Thứ nhất: Trước hết cần rà soát lại danh mục các đối tượng sản phẩm chủ lực. Tiêu chí lựa chọn tập trung ưu tiên hai vấn đề chính là: Lợi thế so sánh và Cơ hội thị trường.

Cần thống nhất tiêu chí cơ bản để chọn:

+ Điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp để phát triển tốt, năng suất chất lượng cao (nếu có khác biệt càng tốt, thậm chí chỉ có thể sản xuất ở Nghệ An hoặc ít tỉnh).

+ Thuận lợi để phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển.

+ Có diện tích có thể mở rộng và sản lượng chiếm tỷ lệ đáng kể trong toàn quốc.

+ Có thể sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng.

+ Có cơ hội cao thâm nhập thị trường rộng cả trong và ngoài nước. Thậm chí có thể xác định được thị trường chủ đạo.

+ Có lợi thế cạnh tranh với các tỉnh bạn và các nước cùng sản xuất sản phẩm.

 Hiện nay trên cơ sở lợi thế so sánh và cơ hội thị trường, Bộ NN&PTNT xác định 13 đối tượng chủ lực quốc gia. Vậy trước hết, Nghệ An trên cơ sở xem xét thực tế về lợi thế của mình để tham gia vào chuỗi sản phẩm chủ lực quốc gia.

Do vậy, theo chúng tôi, hãy chọn các sản phẩm Nghệ An có ưu thế và có thể tham gia 6 đối tượng, đó là: cây ăn quả (gồm cây có múi, bơ); Cây chè các loại (bao gồm cả chè Shan, Olong và chè Hoa vàng); Thịt và trứng gia cầm (tập trung con gà); Tôm các loại; Thịt lợn; Gỗ và sản phẩm từ gỗ (bao gồm cả tre).

 Đồng thời cần xác định một số đối tượng là chủ lực của tỉnh mà chưa phải là sản phẩm chủ lực quốc gia gồm 3 đối tượng: Bò sữa và bò thịt; Mía và sản phẩm từ mía; Cây dược liệu và sản phẩm dược.

Bên cạnh đó, các huyện thành thị, trên cở sở sản phẩm chủ lực của tỉnh để chọn sản phẩm tham gia chuỗi, đồng thời cần xác định cây con đặc sản đặc trưng của mình để tham gia chương trình OCOP.

Từ đề xuất lựa chọn trên, cần có chiến lược so sánh lợi thế và cơ hội thị trường trên cơ sở dự báo để xác định thứ tự ưu tiên đối tượng hỗ trợ phát triển trước sau cho từng giai đoạn ngắn.

Thứ hai: Trên cơ sở đối tượng đã chọn, định hình vùng sản xuất tập trung cho từng đối tượng, quy định diện tích tối thiểu tham gia chuỗi để thuận lợi áp dụng khoa học kỹ thuật và chuyên môn hóa, cơ giới hóa. Ví dụ: bò sữa tập trung ở vùng Tây Bắc, bò thịt ở vùng Tây Nam; Cây ăn quả tập trung vùng trung du; dược liệu tập trung vùng núi thấp, núi cao, vv. Mỗi vùng, mỗi đối tượng cần có chủ trương chuyên môn hóa các khâu: giống, phân, canh tác, thu hoạch và chế biến sau thu hoạch, dịch vụ v..v. Hỗ trợ phát triển hạ tầng kỹ thuật, nhất là điện, giao thông và sơ chế, bảo quản... Và đặc biệt cần có doanh nghiệp chủ lực nhằm dẫn dắt cả vùng cho từng sản phẩm.

Thứ ba: Rà soát lại quỹ đất từng vùng đã xác định đối tượng để xây dựng vùng tập trung, tiến hành chuyển đổi đất khi có người dân trong vùng không có nhu cầu canh tác đối tượng chọn. Hỗ trợ mô hình hợp tác giữa doanh nghiệp với nông dân thông qua hợp tác xã chuyên ngành với sự phân công trách nhiệm và phân chia lợi ích hợp lý. Ưu tiên một phần diện tích quy hoạch của vùng cho doanh nghiệp chủ lực thông qua tích tụ đất. Cần kiến nghị Chính phủ thực hiện thuế đất nông nghiệp nhằm hỗ trợ tích tụ ruộng đất tránh lãng phí nguồn lực.

Thứ tư: Mỗi sản phẩm cần xác định rõ thị trường chiến lược dù đó là thị trường trong hay ngoài nước để có giải pháp xúc tiến thương mại, chiến lược sản phẩm phù hợp.

Thứ năm: Ngành NN&PTNT cần phân tích chuỗi giá trị từng đối tượng sản phẩm để từ đó tham mưu xây dựng chiến lược tác động khoa học kỹ thuật hay chính sách hỗ trợ, tham mưu điều phối các nguồn lực từ chính sách, kinh phí sự nghiệp khoa học, khuyến nông, thương mại và kinh phí sự nghiệp của các chương trình mục tiêu, đầu tư công… nhằm tập trung ưu tiên cho các sản phẩm chủ lực và hỗ trợ các doanh nghiệp nòng cốt đầu tư vào một số khâu của sản xuất sản phẩm chủ lực. Ưu tiên các giải pháp kỹ thuật tiên tiến và phù hợp để đổi mới công nghệ và sản xuất sản phẩm sáng tạo. Hình thành một số trung tâm R&D ở các doanh nghiệp chủ lực.

Thứ sáu: Đào tạo nhằm nâng cao chất lượng, kỹ năng, hiểu biết của nông dân và công nhân nông nghiệp và cán bộ nông nghiệp cơ sở. Cần có cơ chế đặt hàng đào tạo tập huấn theo chuyên đề và ưu tiên đào tạo thực hành. Tăng cường kết nối để đào tạo nhân lực nòng cốt thông qua gửi thực tập sinh sang Nhật trong chương trình hợp tác với JICA, cũng như một số nước có kỹ thuật cao mà tỉnh hợp tác. Thường xuyên cập nhật quy trình kỹ thuật, công nghệ, thị trường nông sản cho nông dân trên hệ thống truyền thông đại chúng, trên      internet, mạng xã hội… Khuyến khích hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực nông nghiệp, du lịch sinh thái...

Thứ bảy: Nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong vai trò khởi động, dẫn dắt, hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân tiếp nhận và triển khai đường hướng đề ra của chính quyền. Thực hiện quản lý nhà nước đồng bộ cả ba khâu: Đầu vào, sản xuất và đầu ra sản phẩm nhằm giúp cam kết chất lượng sản phẩm và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

 

Định Thị Hải Đường

Cương Quốc công Nguyễn Xí, một người con ưu tú, tài giỏi của quê hương Cửa Lò, đã được vinh danh trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XV với những công lao trong sự nghiệp cứu nước đầu thế kỷ và trong sự nghiệp dựng nước thời Lê sơ. Đối với người dân Cửa Lò, công lao to lớn của ông còn gắn liền với công cuộc khai phá, mở mang vùng đất quê hương. Cho đến ngày nay, công ơn khẩn hoang, lập làng của ông và các con cháu vẫn được khắc sâu trong đời sống văn hóa - tín ngưỡng của nhân dân Cửa Lò cũng như trong những dấu tích vật chất còn lưu giữ trên đôi bờ sông Xá và vùng quanh Thượng Xá xưa.

1. Vùng đất Cửa Lò trước thế kỷ XV

Vùng Cửa Lò trên đất Nghệ An là khu vực miền duyên hải trải dài từ cửa sông Cấm (Cửa Lò) đến cửa sông Lam (Cửa Hội). Cho đến đầu thế kỷ XV, vùng đất Cửa Lò ngày nay, biển còn ăn sâu vào đất liền với nhiều đầm phá ven biển, dân cư thưa thớt, đất đai còn hoang vắng, chưa được khai khẩn nhiều(1). Theo Nghệ An ký, Cửa Lò ngày trước có tên là Cửa Xá. Sông Cấm đổ ra biển ở địa phận xã Thượng Xá (thuộc huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang, quận Hoan Châu thời Lê sơ; ngày nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) nên cửa biển nơi đây được gọi là Cửa Xá hay Tấn Xá. Biển lùi, cùng với thời gian, dòng sông Cấm chảy xuống tận dãy núi Lò (tên chữ là Lô Sơn; bên kia xã Vạn Lộc ngày nay), cửa sông Cấm khi đó mới gọi là Cửa Lò. Cửa Hội là cửa của dòng sông Lam đổ ra biển ở địa phận xã Hội Thống cũ (ngày nay là xã Xuân Hội, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh), nên gọi là Cửa Hội(2).

Tại vùng Cửa Lò, Nguyễn Hợp (ông nội của Cương Quốc công Nguyễn Xí) vốn quê ở làng Cương Giản (nay là xã Xuân Song, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) đã dời nhà ra ở Thượng Xá, vừa khai hoang cày ruộng, vừa làm nghề muối, trở thành ông tổ thứ nhất của dòng họ Nguyễn ở Thượng Xá. Nguyễn Hợp cùng với xóm làng khẩn hoang hai bên bờ sông Xá, lập ra làng Trung (đình làng Trung ngày nay là sân kho đội I hợp tác xã Nghi Hợp) và phát triển nghề làm muối. Tiếp nối Nguyễn Hợp, con trai ông là Nguyễn Hội tiếp tục nghề làm muối và công cuộc khẩn hoang vùng Cửa Lò, mở mang xóm làng, nhất là khai phá các đầm phá ven biển. Nguyễn Hội đã có công trong khai khẩn vùng đồng Hang, đồng Đìa, Cồn Thông và mở rộng vùng Nại Muối. Nhờ đó, ở Thượng Xá, từ làng Trung dần dần phát triển thêm làng Thượng(3).

Nguyễn Xí (1379 - 1465) thuộc đời thứ 3 của dòng họ Nguyễn trên đất Thượng Xá. Ông là con của Nguyễn Hội và bà Vũ Thị Hạch, được sinh ra tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc (thuộc xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An ngày nay). Nguyễn Xí cùng các con cháu tiếp tục công cuộc khẩn hoang, lập làng của ông cha, mở mang, phát triển quê hương Thượng Xá cũng như vùng đất Cửa Lò.

2. Chính sách "lộc điền" và khẩn hoang thời Lê sơ (1428 - 1527)

Sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, vương triều Lê được thành lập. Trước yêu cầu của việc khôi phục nền kinh tế sau một thời gian dài chiến tranh, nhà Lê đã nhanh chóng thực hiện chính sách khuyến khích nhân dân khẩn hoang, lập làng và cho các công thần khai quốc được khai khẩn đất hoang. Cùng với đó, nhà Lê cũng đưa nhiều tù binh người Minh, người Chăm đi khai phá các nơi, lập xóm làng. Nhiều công thần được cấp tù binh để khai khẩn các vùng đất hoang.

Đối với các công thần, cùng với việc định công phong tước, ngay từ triều vua Lê Thái Tổ, nhà vua đã ban thưởng ruộng đất (lộc điền), nhưng chưa thành chế độ với qui định rõ ràng. Cho đến năm 1477, vua Lê Thánh Tông ban hành thành chế độ lộc điền. Chế độ lộc điền chỉ dành riêng cho tầng lớp quý tộc và quan lại cao cấp từ Tòng Tứ phẩm trở lên. Lộc điền gồm ruộng đất thế nghiệp (đời đời hưởng lộc và truyền lại cho con cháu); tứ điền (ruộng ân tứ), ao đầm, bãi dâu (chỉ cho hưởng dụng suốt đời, sau khi chết ba năm phải trả lại cho Nhà nước), tự điền (ruộng tế; truyền lại con cháu lo việc thờ cúng).

Là một trong những công thần đứng đầu của triều Lê, Nguyễn Xí cũng được vua Lê ban cấp nhiều lộc điền. Thực hiện chính sách mở mang kinh tế, phục hưng đất nước của nhà Lê sơ, trên cơ sở lộc điền được ban cấp và ruộng đất, đất hoang, đầm phá mua thêm, Nguyễn Xí và các con cháu của ông đã tích cực chiêu dân khai phá đất hoang, lập thành xóm làng, phát triển kinh tế. Quê hương Cửa Lò cũng được mở mang, khai phá rộng lớn thêm vào thế kỷ XV gắn liền với công lao to lớn của Nguyễn Xí và các con cháu.

3. Nguyễn Xí với công cuộc khẩn hoang, lập làng và khai thác biển vùng Cửa Lò

Nguyễn Xí (1396 - 1465) sinh ra tại quê hương Thượng Xá, trong một gia đình "mấy đời sống ở vùng biển với nghề nấu muối". Từ nhỏ, ông đã cùng với anh cả là Nguyễn Biện theo cha đem muối ra vùng thượng du Thanh Hóa bán. Sau đó, ông ra Lam Sơn làm gia thần cho Lê Lợi và tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với nhiều công lao, đóng góp to lớn cho thắng lợi của cuộc khởi nghĩa. Khi nhà Lê được thành lập, Nguyễn Xí được phong quan tước, bổng lộc và được ban quốc tính là Lê Xí. Ông cũng là người đóng góp công lao hàng đầu trong việc đưa Lê Tư Thành lên ngôi vua, lập nên triều vua Lê Thánh Tông. Do đó, ông không chỉ được vua Lê Thánh Tông đặc phong quan tước đứng đầu hàng văn võ đại thần mà còn được ban cấp 350 mẫu ruộng thế nghiệp vào năm Canh Thìn (1460). Khi qua đời, ông được vua Lê Thánh Tông cho quan quân đưa linh cữu về an táng tại quê hương Thượng Xá, truy tặng tước Thái sư Cương Quốc công và cho xây dựng "Cương Quốc Công từ" ở Thượng Xá vào năm Đinh Hợi (1467)(4).

Theo tài liệu của một văn bia tại Nghệ An, các khu ruộng của Nguyễn Xí trải trên địa phận 93 xã thuộc 25 huyện với tổng diện tích 5.135 mẫu(5). Tại Nghệ An, số lộc điền và ruộng đất ao đầm Nguyễn Xí mua thêm là hơn 1.377 mẫu, trải trên địa bàn của các phủ Diễn Châu, Anh Đô, Đức Quang và các huyện Chân Lộc, Yên Thành, Nam Đường, Thanh Chương. Trong số đó, ngoài 618 mẫu tại các nơi ở huyện Đông Thành, huyện Nam Đàn, huyện Thanh Chương thì có đến hơn 759 mẫu chủ yếu tập trung ở vùng Cửa Lò.

Nguyễn Xí đã mua 300 mẫu ruộng ở Đồng Sô (tức làng Phú Ích thuộc xã Nghi Phong, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An ngày nay) và 200 mẫu ruộng ở Bàu Ổ (thuộc phường Nghi Hương, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An ngày nay). Ở Đồng Sô, ông dùng các tù binh người Minh (bị bắt từ thời chống quân Minh) được vua Lê ban cấp, cùng nhân dân địa phương khẩn hoang, lập ra làng Phú Ích. Những tù binh này được truyền đời cho con cháu những ruộng đất Nguyễn Xí dành cho họ, để lo việc hương khói tại xứ Đồng Sô. Cùng thời gian đó, Nguyễn Xí cũng tâu xin vua Lê cho được lập "Long thị" (Chợ Sơn, tại làng Long Trảo, xóm Kỳ Sơn, xã Nghi Khánh, huyện Nghi Lộc ngày nay) làm trung tâm giao lưu hàng hóa trong vùng và phát triển cuộc sống của người dân nơi đây(6).

Tháng 6 năm Ất Sửu (1445), Nguyễn Xí cùng Bình chương Tư đồ Lê Thận đưa quân đánh dẹp quân Chiêm Thành lấn chiếm biên giới phía Nam của Đại Việt, giành thắng lợi, bắt được hàng trăm tù binh về giam ở xứ Bàu Ổ (thuộc phường Nghi Hương, thị xã Cửa Lò ngày nay). Ông đã dùng số tù binh người Chăm vào việc khai khẩn đất đai ở Bàu Ổ. Theo gia phả họ Nguyễn Đình ở xã Nghi Hợp (huyện Nghi Lộc) và họ Chế Đình ở phường Nghi Hương (thị xã Cửa Lò), công cuộc khẩn hoang xứ Bàu Ổ đã đưa đến sự ra đời của các làng Kim Ổ (thuộc địa bàn phường Nghi Hương), Thu Lũng (thuộc địa bàn phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò). Những hàng binh này được Nguyễn Xí đối xử như con cháu và cho đổi từ họ Chế thành Chế Đình. Chế Lạc, Chế Du là những người Chăm được Nguyễn Xí cho đứng đầu trông coi các làng xã mới được khai khẩn. Trước những công đức của Nguyễn Xí, dân làng về sau tự nhận là con nuôi (dưỡng tử) của ông. Vì vậy, trong số các chi họ là con cháu của Nguyễn Xí sau này, có 3 chi họ dưỡng tử (con nuôi) là con cháu những tù binh người Minh, người Chăm năm xưa(7).

Trong cuộc đời 37 năm làm quan của mình, Nguyễn Xí đã phụng sự 4 triều vua Lê tại thành Đông Kinh ở Thăng Long và không tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý, khai thác ruộng đất của mình, trong đó có vùng đất Cửa Lò. Tuy vậy, tấm lòng của ông vẫn luôn hướng về quê hương, chăm lo đến việc tổ chức khai khẩn, mở mang, xây dựng vùng quê Cửa Lò với việc giao cho các con trai quản lý khẩn hoang, lập làng, khai thác ruộng đất và thu hoa lợi, xây dựng và phát triển xóm làng ở nơi đây.

4. Nguyễn Sư Hồi, Nguyễn Kế Sài, Nguyễn Trọng Đạt, Nguyễn Nhân Thực tiếp nối công cuộc khẩn hoang, lập làng trên vùng đất Cửa Lò

Trong số 16 người con trai của Cương Quốc công Nguyễn Xí thì Nguyễn Sư Hồi, Nguyễn Kế Sài, Nguyễn Trọng Đạt, Nguyễn Nhân Thực là những người tiếp nối công cuộc khẩn hoang, lập làng, mở mang, phát triển vùng đất Cửa Lò của ông cha.

- Nguyễn Sư Hồi

Nguyễn Sư Hồi (1444 - 1506) là con trai trưởng của Cương Quốc công Nguyễn Xí, được vua Lê Thánh Tông thăng quan đến chức Nhập nội Thiếu úy, Phò mã Đô úy, ban quốc tính là Lê Sư Hồi và giao trọng trách trấn thủ, bố phòng 12 cửa biển của Đại Việt, trong đó có vùng biển Cửa Xá. Vào năm Canh Thìn (1460), Nguyễn Sư Hồi được vua ban cấp 150 mẫu ruộng thế nghiệp(8).

Trong thời gian trấn trị tại vùng Cửa Xá, ông đã lấy Cửa Xá làm trung tâm để tập hợp và chiêu mộ những người dân chài ven biển, nông dân nghèo ven sông Xá và các nơi đến khai phá, phát triển nghề đánh cá và làm ruộng. Năm 1493, Nguyễn Sư Hồi đã lập ra xã Hải Giang, bao gồm Vạn Lộc và Tân Lộc (nay thuộc phường Nghi Tân, thị xã Cửa Lò)(9). Theo ghi chép của Hippolyte Le Breton trong An Tĩnh cổ lục thì Nguyễn Sư Hồi được ban cấp đầm phá Cây Bằng. Trên miền đất đai mới bồi đắp này, các làng Vạn Lộc, Tân Lộc từ đó mà hình thành(10). Cư dân Vạn Lộc một nửa làm nghề đánh cá, một nửa làm ruộng và từ nhiều nơi tụ tập lại nên thường gọi là "dân góp"(11).

Thần phả đền Vạn Lộc cũng cho biết, Nguyễn Sư Hồi là người có công đầu trong việc mở mang đất đai, tạo cơ sở ban đầu cho làng Vạn Lộc - tiền thân của phường Nghi Tân (thuộc thị xã Cửa Lò) ngày nay. Con đê đá dài khoảng năm cây số, cao hàng mét, chạy từ núi Tượng Sơn (núi Voi) vòng đến phía Đông Bắc núi Mũi Gươm, theo dọc bờ Đông Nam sông Cấm ra đến sát biển Cửa Lò hiện nay là dấu tích công cuộc khai phá vùng đất này của ông. Theo tương truyền, chợ Lò của làng Vạn Lộc cũng được hình thành từ khi có làng. Cùng với đó, việc tổ chức hội bơi thuyền ở làng Vạn Lộc (và làng Trung Kiên bên kia sông) là nhằm tái hiện lại những chiến tích oai hùng trên sông nước của thủy quân Nguyễn Sư Hồi và ghi nhớ việc ông từng dạy cho dân trong vùng cách đóng thuyền đi sông, đi biển(12).

Thực hiện công cuộc khẩn hoang của cha, Nguyễn Sư Hồi giao hàng trăm mẫu lộc điền của Nguyễn Xí cho tù binh người Minh, người Chăm khai khẩn, sản xuất, ổn định và phát triển cuộc sống. Từ đó lập thành các làng Kim Ổ, Thu Lũng Lộc Kén (phường Nghi Thu)(13). Tưởng nhớ công ơn to lớn của ông, sau khi qua đời, Nguyễn Sư Hồi được dựng đền thờ và phong Thượng đẳng phúc thần. Dân làng Vạn Lộc đã tôn ông làm Thành hoàng làng. Cho đến nay, ở Vạn Lộc vẫn còn đền thờ Nguyễn Sư Hồi và di tích một đoạn lũy bảo vệ mặt biển do ông xây dựng tại cánh đồng Lũy(14).

- Nguyễn Kế Sài

Nguyễn Kế Sài là con trai thứ 5 của Cương Quốc công Nguyễn Xí. Dưới triều Lê sơ, ông làm quan đến chức Hành Thuận Hóa đạo tam phụ quốc quân đồng tri, Đô tổng binh sứ Ty Đô tổng binh sứ, được tặng Thái Bảo - Thượng trụ quốc. Cũng giống như Nguyễn Sư Hồi, Nguyễn Kế Sài sinh trưởng và lập gia đình tại thành Đông Kinh. Ông đã sát cánh cùng anh trưởng Nguyễn Sư Hồi, mở mang, khai phá thêm cho vùng Thượng Xá, Vạn Lộc. Nguyễn Kế Sài chiêu dân khai khẩn vùng đồng Biển Trên, đồng Biển Dưới, trọt Nhà Trần ở phía Tây làng và vùng Đập Hách, trọt Miếu ở phía Đông làng. Lăng mộ của ông và phu nhân Phạm Thị Ngọc Ất đặt tại xã Thượng Xá(15).

- Nguyễn Trọng Đạt

Nguyễn Trọng Đạt là con trai thứ 10 của Cương Quốc công Nguyễn Xí, làm quan chức Đạt tín đại phu. Năm Ất Sửu (1445), ông theo cha đưa quân đánh dẹp quân Chiêm Thành lấn chiếm biên giới phía Nam của Đại Việt, giành được thắng lợi. Với công lao đó, ông được vua ban phong Tín đạt đại phu xuất thân, tán trị công thần, Bắc quân đô đốc, lịch trung dinh thượng tướng quân Linh quận công.

Nguyễn Đạt được cha giao quản lý việc khai phá ở khu vực làng Kim Ổ và làng Phú Ích. Gia phả họ Nguyễn Đình ở xã Nghi Hợp (huyện Nghi Lộc) và họ Chế Đình ở phường Nghi Hương (thị xã Cửa Lò) cho biết, Nguyễn Trọng Đạt được cha giao cai quản và tổ chức lực lượng hàng binh Chăm (các tướng Chế Đình Đá, Chế Đình Lân, Chế Đình Hiệp) khai khẩn vùng bãi ngang phía Đông Nam huyện Chân Lộc tại Bàu Ổ. Cuộc khẩn hoang này đã lập nên các làng Kim Ổ, Thu Lũng. Khi qua đời, ông được táng tại nơi đây. Dân làng sau này đã lập đền thờ ông trên mộ và tự nhận mình là con nuôi, mang họ Nguyễn Đình, sau đổi là Chế Đình, rồi lại đổi là Nguyễn Chế tại phường Nghi Thu(16).

- Nguyễn Nhân Thực

Nguyễn Nhân Thực là con trai thứ 14 của Nguyễn Xí, giữ chức Nghiêm dũng vệ tiền sở quản lĩnh. Ông khai khẩn vùng Đồng Nổi, Cửa Ngoài ở phía Tây Nam làng. Theo tác giả Phan Huy Lê, công việc mở mang vùng Thượng Xá được Nguyễn Xí giao cho con trai thứ 5 là Nguyễn Kế Sài và con trai thứ 14 là Nguyễn Nhân Thực(17).

* Một vài nhận xét

Như vậy, sinh ra trên quê hương Thượng Xá, trong một gia đình có truyền thống khai thác biển vùng Thượng Xá từ thời ông cha, Nguyễn Xí có tuổi ấu thơ gắn bó với vùng đất Cửa  Lò của những ngày theo cha và anh cày ruộng, làm muối và bán muối. Sau 10 năm tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Xí có những năm tháng "tột đỉnh vinh quang" chốn quan trường và những công lao, đóng góp to lớn của ông cho công cuộc khai phá, mở mang, phát triển vùng đất Cửa Lò. Những lộc điền và ruộng đất ao đầm mua thêm của ông tại Cửa Lò là tiền đề vật chất cho công cuộc khẩn hoang, hình thành và phát triển những xóm làng mới trên quê hương Cửa Lò.

Tiếp nối công cuộc khẩn hoang của ông cha, những người con của Nguyễn Xí là Nguyễn Sư Hồi, Nguyễn Kế Sài, Nguyễn Trọng Đạt, Nguyễn Nhân Thực đã cùng nhân dân địa phương tiếp tục đẩy mạnh công cuộc khai khẩn, lập làng, phát triển kinh tế (nông nghiệp, khai thác biển), biến Cửa Lò thành vùng xóm làng trù phú với các nghề chính là cày ruộng, đánh cá và làm muối. Ghi nhớ những công lao, đóng góp to lớn của Cương Quốc công Nguyễn Xí và con cháu trên đất Nghệ An, trong đó có vùng Cửa Lò, nhân dân đã lập đền thờ ở nhiều nơi, thờ làm phúc thần. Một loạt di tích trên đôi bờ sông Xá và cả vùng quanh Thượng Xá xưa vẫn còn được lưu giữ đến ngày nay, gắn liền với công cuộc khẩn hoang của Nguyễn Xí và các con cháu năm xưa.

 

Chú thích

1. Hippolyte Le Breton, An Tĩnh cổ lục, Nxb. Văn hóa Thông tin - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2014, tr.89.

2. Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký, Quyển 1 và 2, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, tr.207, 170; Ninh Viết Giao, Nghệ An đất phát nhân tài, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2006, tr. 75-76, 79.

3. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2011, tr.1144.

4. Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, Ngô Thế Long dịch, Văn Tân hiệu đính và giới thiệu, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.218; Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập 1, Nxb. Giáo dục, 1998, tr.990; Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr. 1130-1131, 1143, 1144; Cương Quốc công di huấn, in trong Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Nxb. Nghệ An, 2013, tr.227.

5. Trương Hữu Quýnh, Chế độ ruộng và một số vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2009, tr.246.

6. Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr. 233, 146.

7. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, Nhân vật chí, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr.378; Hippolyte Le Breton, An Tĩnh cổ lục, Sđd, tr.89-90; Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr.147, 233, 304, 26

8. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr.391; Lê Thánh Tông ngự tứ thạch bi, in trong Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr.41.

9. Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Lịch sử Nghệ An, Tập 1 (Từ nguyên thủy đến Cách mạng tháng Tám 1945), Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2012,tr.375-377.

10. Hippolyte Le Breton, An Tĩnh cổ lục, Sđd, tr.89.

11. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr.1145.

12. Nguyễn Quang Hồng, Thành phố Vinh - quá trình hình thành và phát triển, tr.24, dẫn theo Hoàng Anh Tài, Vai trò của Nguyễn Xí với việc hình thành các làng xã ở Nghệ An trong thế kỷ XV, in trong Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr.306; Hoàng Anh Tài, Đền thờ Nguyễn Sư Hồi và lễ hội làng Vạn Lộc, Tạp chí Khoa học Công nghệ Nghệ An, số 2 năm 2017, tr.30.

13. Nguyễn Thị Liễu, Những đóng góp của gia đình Nguyễn Xí với sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước và công cuộc xây dựng đất nước ở thế kỷ XV, in trong Trung tâm khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí, quê hương, con người, sự nghiệp, Sở Văn hóa Thông tin Nghệ An, Nghệ An, 1997, tr.74.

14. Hoàng Anh Tài, Đền thờ Nguyễn Sư Hồi và lễ hội làng Vạn Lộc, Sđd, tr.30.

15. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr.1145; Nguyễn Đình Nhàn, Phả hệ dòng họ Nguyễn Đình và di duệ của Nguyễn Xí hiện nay trên đất Nghệ Tĩnh và Bùi Ngọc Tam, Truyền thống thượng võ của gia tộc Nguyễn Xí, đều in trong Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia - Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí, quê hương, con người, sự nghiệp, Sđd, tr.40, 75; Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr.32, 187.

16. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr.1145; Nguyễn Đình Chú (Chủ biên), Nguyễn Đình Triển (Đồng chủ biên), Nguyễn Thanh Tiên, Cương Quốc công Nguyễn Xí: Tộc phả - Di huấn - Phụ lục, Sđd, tr. 304, 206-207.

17. Phan Huy Lê, Tìm về cội nguồn, Sđd, tr.1145.

 

* Tổ chức Cuộc thi Hackathon Nghệ An lần thứ Nhất

Vừa qua, Cuộc thi Hackathon Nghệ An lần thứ Nhất đã diễn ra trong 3 ngày tại Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ và Tin học Nghệ An.

Hackathon là cuộc thi phát triển phần mềm do Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với Công ty Cổ phần Công nghệ Gostream tổ chức. Có 14 đội với 55 thành viên chia thành 2 khối: Khối Ươm mầm dành cho lứa tuổi từ 12-18 tuổi và khối Ứng dụng dành cho lứa tuổi từ 18 - 25 tuổi. Trải qua các vòng thi từ trình bày ý tưởng; Phân chia nhiệm vụ các thành viên trong đội; Tập hợp các ý tưởng từ các thành viên và chọn ra ý tưởng tốt nhất để thực hiện. Đến vòng thuyết trình Hackathon còn 11 đội tham gia với 43 thành viên. Đây là sân chơi cho các bạn trẻ bên cạnh phương pháp học Steam.

Trải qua các phần thi đầy cam go, Ban tổ chức đã lựa chọn và trao giải cho các đội xuất sắc, gồm: Khối Ươm mầm, giải Nhất được trao cho nhóm KC-RED với chủ đề Ứng dụng giáo dục Learn to Earn; 3 giải Nhì đều thuộc về chủ đề Du lịch của 3 nhóm: Hết thời; KC-GRAY và KC-PINK; Khối Ứng dụng, giải Nhất thuộc về nhóm TĐH với chủ đề Ứng dụng quản lý sự kiện tình nguyện; giải Nhì thuộc về nhóm BETA với chủ đề Tiết kiệm chi phí bằng tòa soạn hội tụ.

Hackathon không chỉ dừng lại ở cuộc thi mà sẽ là tiền đề cho Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong thời gian tới. Sở Khoa học và Công nghệ sẽ phối hợp cùng Công ty Cổ phần Công nghệ GoStream tạo điều kiện để truyền thông, hỗ trợ cho các dự án tiềm năng có cơ hội phát triển các ứng dụng đưa vào áp dụng trong thực tế đời sống.

Hoàng Anh

* Hội thảo khoa học: Đánh giá kết quả công tác bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014-2020 và xây dựng định hướng giai đoạn 2021-2025

Sáng 29/6, UBND tỉnh Nghệ An tổ chức hội thảo khoa học "Đánh giá kết quả công tác bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2014-2020 và xây dựng định hướng giai đoạn 2021-2025".

Hội thảo đã được nghe 4 báo cáo chuyên đề: Tổng hợp đánh giá kết quả thực hiện đề án khung quỹ gen cấp Bộ, cấp tỉnh (2013-2019) và chia sẻ nguồn gen; Kết quả và giải pháp nghiên cứu bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen dược liệu; Kết quả công tác bảo tồn và khai thác nguồn gen cây trồng giai đoạn 2015-2020 và định hướng nghiên cứu giai đoạn 2021-2025; Kết quả duy trì, đánh giá và phát triển nguồn gen cây lương thực, cây ăn quả và 7 ý kiến phát biểu của các đại biểu tham dự hội thảo.

Các báo cáo và ý kiến phát biểu thảo luận đều đánh giá cao kết quả triển khai Đề án khung quỹ gen của tỉnh và đề nghị cần phải triển khai quy mô rộng và đồng bộ hơn; chú trọng, nâng cấp hơn trong công tác lưu giữ, bảo tồn nguồn gen;  đưa đề án vào từng địa phương cụ thể; lồng ghép cac chương trình huấn luyện giúp cho người dân sàng lọc nguồn gen quý của các loại giống cây, con, vật nuôi,…

Hồng Bắc

* Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu niên nhi đồng tỉnh Nghệ An năm 2020

Ngày 2/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Nghệ An đã tổ chức Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh Nghệ An năm 2020.

Năm nay, cuộc thi đã quy tụ 125 mô hình/sản phẩm, là những sản phẩm xuất sắc được tuyển chọn từ vòng sơ khảo, nhiều mô hình/sản phẩm từng đạt giải các cuộc thi KHKT cấp quốc gia. Các mô hình sản phẩm dự thi năm nay đều là những đề tài có tính thực tiễn cao, thể hiện năng lực sáng tạo và niềm đam mê khoa học của đông đảo học sinh.

Kết thúc cuộc thi, Ban tổ chức đã trao 1 giải Đặc biệt, 3 giải Nhất, 5 giải Nhì, 10 giải Ba, 30 giải Khuyến khích và giải tập thể cho các dự án đạt giải. Những dự án xuất sắc đạt giải Ba trở lên cũng sẽ được lựa chọn để tham dự Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng toàn quốc dự kiến sẽ được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10/2020.

Nhân dịp Kỷ niệm 15 năm tổ chức cuộc thi, UBND tỉnh đã tặng Bằng khen cho 5 cá nhân có nhiều thành tích hướng dẫn học viên đạt giải cao trong Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng toàn quốc lần thứ XV năm 2019. Ngoài ra, nhiều tập thể và cá nhân khác cũng được khen thưởng vì có nhiều cống hiến trong 15 năm tham dự cuộc thi. 

H.B (tổng hợp)

* Ra mắt quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo VSV Nghệ An

Chiều ngày 5/7, Sở KH&CN phối hợp với Công ty CP Viet Nam Silicon Valley Accelerator và các Nhà đầu tư đã tổ chức buổi hội thảo chia sẻ thông tin và lễ ký kết ra mắt Quỹ hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tỉnh Nghệ An.

Qũy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo góp phần tạo cộng đồng khởi nghiệp, là nơi kết nối quỹ khác trong và ngoài tỉnh, coi đây là kênh thu hút đầu tư. Tại buổi lễ diễn ra lễ ký kết chính thức ra măt Quỹ đầu tư VSV - Nghệ An với tổng số tiền là 8,8 tỷ đồng của 17 nhà đầu tư cá nhân và doanh nghiệp tham gia, trong đó có 3-5 doanh nghiệp đón góp 500-1500 tỉ đồng. Với sự ra mắt của Quỹ VSV - Nghệ An, đây là dấu mốc không chỉ của VSV mà còn là của cộng đồng khởi nghiệp, là quỹ đầu tiên của các doanh nhân của tỉnh theo mô hình đầu tư quốc tế…

VSV và Sở KH&CN Nghệ An cam kết sẽ cùng các nhà đầu tư cũng như các Startup trong các hoạt động đào tạo, marketing, SHTT cũng như cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ cho khát vọng khởi nghiệp. Tỉnh luôn đồng hành, hỗ trợ thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo của tỉnh.

Minh Tú - Hồng Bắc

* Sở Khoa học và Công nghệ: Tập huấn về dịch vụ du lịch nông nghiệp

Trong tháng 7 năm 2020, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ phối hợp với Ủy ban nhân dân các huyện Nam Đàn, thị xã Cửa Lò, Ủy ban nhân dân xã Kim Liên và phường Nghi Hải tổ chức các lớp tập huấn về dịch vụ du lịch nông nghiệp. 

Tham dự lớp tập huấn có đại diện lãnh đạo UBND huyện Nam Đàn, Thị xã Cửa Lò; Phòng Văn hóa, Phòng Kinh tế - Hạ tầng, Phòng Nông nghiệp của huyện Nam Đàn và Thị xã Cửa Lò; Đại diện lãnh đạo và công chức văn hóa các xã Kim Liên, Nam Giang, Nam Nghĩa, Nghi Hải; Thành viên HTX Sen Quê Bác và thành viên liên kết với HTX Sen Quê Bác; Thành viên HTX Chanh Thiên Nhẫn; Hộ dân Làng nghề nước mắm Hải Giang 1; Thành viên Hội sản xuất và kinh doanh cá thu nướng Cửa Lò; Doanh nghiệp làm du lịch trên địa bàn huyện Nam Đàn, Thị xã Cửa Lò. Trung tâm Văn hóa Thông tin Truyền thông huyện Nam Đàn, Thị xã Cửa Lò; Một số tổ chức đang xây dựng mô hình du lịch nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Các lớp tập huấn đã trang bị cho các học viên, nhất là thành viên Hợp tác xã Sen Quê Bác, Hộ dân Làng nghề chế biến nước mắm Hải Giang 1 và Hội sản xuất và kinh doanh cá thu nướng Cửa Lò những kiến thức, kỹ năng cơ bản về du lịch nông nghiệp, tiếp cận các phương pháp nắm bắt tâm lý khách hàng, kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong hoạt động kinh doanh du lịch tại địa phương. Nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, chất lượng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực du lịch. Qua đó, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi ngành nghề cho lực lượng lao động tại các điểm có tiềm năng phát triển du lịch theo hình thức du lịch cộng đồng, nâng cao thu nhập đời sống cho nhân dân.

Nguyễn Nhung

 




Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây