Kết quả thực hiện chương trình phát triển 100 sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương giai đoạn 2015-2019 tại Nghệ An

 

Nghệ An là vùng đất có lịch sử định cư lâu đời, có diện tích lớn nhất Việt Nam, đa dạng về địa hình và khí hậu nên phong phú về sinh vật và sản vật. Điều này, tạo nên cho tỉnh ta nhiều sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương có danh tiếng trong khắp cả nước. Tuy nhiên, giai đoạn trước đây, các sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương chưa được quan tâm nên chưa có nhiều sản phẩm phát triển thành hàng hóa.

Nhằm mục tiêu hướng đến sản phẩm cụ thể, dựa trên định hướng phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An, Sở Khoa học và Công nghệ đã xây dựng Chương phát triển 100 sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương giai đoạn 2015 - 2020. Qua gần 5 năm triển khai thực hiện Chương trình, bước đầu đã đạt được những kết quả hết sức khả quan. Tuy nhiên, để phát triển sản phẩm truyền thống và đặc sản của địa phương thành hàng hóa có giá trị và sức cạnh tranh cao trên thị trường thì cần tiếp tục có định hướng và giải pháp phù hợp cho các giai đoạn tiếp theo.

I. Kết quả đạt được

- Công tác xác định và lựa chọn sản phẩm: Sở KH&CN đã hướng dẫn các huyện, thành, thị xã đăng ký, đề xuất các sản phẩm. Trên cơ sở đề xuất và bổ sung hàng năm của các địa phương đến nay đã xác định trên địa bàn Nghệ An có 159 sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương có thể phát triển thành sản phẩm hàng hóa. Trong số này, có 84 sản phẩm chế biến và 75 sản phẩm cây trồng, vật nuôi.

Sở KH&CN cũng đã hỗ trợ thực hiện 2 dự án phát triển gà Thanh Chương

Sở KH&CN cũng đã hỗ trợ thực hiện trên 10 đề tài, dự án để sản xuất (nuôi, trồng), chế biến và phát triển sảm phẩm (2 dự án cho quả trám đen, 2 dự án cho cây rễ hương, 1 dự án cho cây trà hoa vàng, 1 dự án cho xoài bản địa Tương Dương, 1 dự án cho hồng Nam Đàn, 1 dự án cho bưởi hồng Quang Tiến, 2 dự án phát triển gà Thanh Chương,...); 22 mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất và đời sống (thuộc Nhiệm vụ quản lý hoạt động KH&CN các huyện hàng năm) và 9 dự án KH&CN để xây dựng nhãn hiệu,  quản lý, khai thác và phát triển thương hiệu của các sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương; Tổ chức trên 50 lớp tập huấn về sở hữu trí tuệ, quản lý chất lượng sản phẩm.

Qua thực hiện chương trình 100 sản phẩm, ý thức của người dân và chính quyền được đổi mới và nâng lên, đặc biệt là tư duy phát triển sản phẩm hàng hóa. Chính quyền có ý thức trong việc thành lập, hỗ trợ hoạt động của các mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh (hợp tác xã, các hội, doanh nghiệp); quan tâm nhiều đến quản lý chất lượng sản phẩm, xây dựng và phát triển nhãn hiệu; người dân có ý thức trong việc tham gia các tổ chức sản xuất kinh doanh; xây dựng bảo vệ chất lượng, thương hiệu sản phẩm; phối hợp giúp đỡ nhau để cùng sản xuất kinh doanh tốt hơn, có hiệu quả cao hơn. Trong giai đoạn này, một số huyện đã đầu tư kinh phí để phát triển sản phẩm như: huyện Anh Sơn (hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu chứng nhận chè Gay Anh Sơn), thị xã Thái Hòa (hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu tập thể tinh bột Thái Hòa, chế biến mật mía Nam Cường), huyện Tân Kỳ (hỗ trợ xây dựng và phát triển nhãn hiệu và sản phẩm dê Tân Kỳ), thị xã Hoàng Mai (hỗ trợ phát triển sản phẩm tinh bột nghệ, cá thu Hoàng Mai), huyện Con Cuông (xây dựng nhãn hiệu chứng nhận rượu men lá, nhãn hiệu tập thể cam)...

Mô hình doanh nghiệp Dược liệu ở Con Cuông hoạt động rất hiệu quả

Bằng việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương, hiện toàn tỉnh Nghệ An có trên 30 mô hình tổ chức sản xuất được hình thành, trong đó hợp tác xã chiếm chủ yếu. Một số hợp tác xã hoạt động có quy củ và hiệu quả như: tinh bột Thái Hòa, gà Phủ Diễn, rượu nếp truyền thống Hưng Tân, miến gạo bánh đa Quy Chính, bưởi Hồng Quang Tiến... Bên cạnh đó, còn hình thành các Hội (sản xuất và kinh doanh gà Thanh Chương, mực khô Quỳnh Lưu...). Cũng trong giai đoạn này, còn có mô hình liên kết của các hộ sản xuất kinh doanh cá thể của sản phẩm cá thu nướng Cửa Lò, tôm nõn Diễn Châu; mô doanh nghiệp (Công ty CP dược liệu Pù Mát) nằm trong hợp tác xã; mô hình liên kết cả nông dân, trang trại và doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh trà hoa vàng Quế Phong...

 

Mực khô Quỳnh Lưu - sản phẩm được chứng nhẫn nhãn hiệu tập thể

 

Xây dựng nhãn hiệu cho hơn 40 sản phẩm, trong đó có 22 nhãn hiệu tập thể; 9 nhãn hiệu chứng nhận, 1 chỉ dẫn địa lý (gừng Kỳ Sơn) và trên 10 nhãn hiệu hàng hóa của sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương. Chế biến được một số sản phẩm như: trà nhân trần Quang Phong (Quế Phong), quả Cọ, trám đen (Thanh Chương), trà gạo thảo dược (Yên Thành), hương trầm Quỳ Châu, một số sản phẩm từ quả cam (Quỳ Hợp), sản xuất tinh dầu rễ hương, quế (Quỳ Châu), dầu lạc (Nam Đàn)... Thông qua hoạt động chế biến, nhiều sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương đã phát triển trở thành hàng hóa lưu thông trên thị trường. Ngoài ra, còn tạo ra nhiều sản phẩm có nhãn hiệu, có phân tích công bố chất lượng, có truy xuất nguồn gốc đảm bảo lưu thông có sức cạnh tranh cao trên thị trường. Điển hình như: gà Phủ Diễn, gà Thanh Chương, trà hoa vàng Quế Phong, trám đen Thanh Chương, rượu men lá Con Cuông,...

Một số sản phẩm được tác động theo chuỗi bằng các nhiệm vụ KH&CN đã tạo ra hàng hóa có quy mô lớn, đảm bảo chất lượng, có nhãn hiệu, thương hiệu được tổ chức sản xuất kinh doanh tốt có lợi nhuận lớn, đã tiêu thụ ở nhiều địa phương trong nước, điển hình như: gà Thanh Chương đã tiêu thụ trên 70.000 kg với doanh thu trên 7,5 tỷ đồng/năm, tăng lợi nhuận lên từ 15 - 20%; hương trầm Quỳ Châu đạt trên 64 triệu que với doanh thu gần 30 tỷ đồng, tăng lợi nhuận 20 - 25%; doanh thu từ các sản phẩm chế biến từ quả trám đen trong năm đầu tiên đạt gần 1,0 tỷ, năm thứ 2 trên 2,0 tỷ đồng, lợi nhuận 25 - 30%; doanh thu từ các sản phẩm của trà hoa vàng Quế Phong đạt trên 2,0 tỷ đồng/năm, lợi nhuận trên 30%.

Trong giai đoạn 2015 - 2019, KH&CN đã tác động tạo ra nhiều sản phẩm trong số 35 sản phẩm trọng điểm để phục vụ khách du lịch, cụ thể: tinh bột Nghệ (Thái Hòa, Tương Dương, Hoàng Mai), bột sắn dây (Nam Đàn), hương Trầm (Quỳ Châu), nước mắm (Vạn Phần - Diễn Châu; Tân An - Hoàng Mai; Làng nghề chế biến hải sản khối 7 Nghi Thủy - thị xã Cửa Lò); mật ong Tây Hiếu; trà hoa vàng Quế Phong; rượu men lá Con Cuông, cá gai leo, dây thìa canh, giảo cổ lam (Con Cuông); dầu lạc (Nam Đàn, Hưng Nguyên), tôm nõn (Diễn Châu), mực khô (Quỳnh Lưu), cá thu nướng (Cửa Lò).

II. Một số hạn chế và nguyên nhân

- Nhận thức chưa đồng bộ: Trong thời gian qua, việc phát triển sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương được nâng lên ở một số bộ phận người dân và các cấp chính quyền, tuy nhiên việc lựa chọn sản phẩm, định hướng xây dựng và phát triển sản phẩm nhìn chung chưa đồng bộ. Có thể nói, hầu hết các huyện chưa đặt được mục tiêu cụ thể phát triển cho một vài sản phẩm cốt lõi, phần lớn các địa phương đều thực hiện dàn trải, phân tán. Việc đầu tư, hỗ trợ xây dựng nhiều mô hình nhưng cho nhiều sản phẩm chứ không ưu tiên thực hiện nhiều mô hình cho một sản phẩm cụ thể theo nhiều hướng khác nhau để có sự tác động đồng bộ nhằm tạo ra sản phẩm cuối cùng; một số khâu, nội dung trong xây dựng và phát triển sản phẩm được thực hiện bởi ý chí chủ quan của các Cơ quan Quản lý nhà nước chứ chưa xuất phát từ  yêu cầu thực tiễn nên dù đạt kết quả tốt nhưng không được áp dụng và nhân rộng.

Năng lực của các tổ chức sản xuất và kinh doanh còn hạn chế: tuy nhiều hợp tác xã, hội và doanh nghiệp được thành lập nhưng phần lớn để hợp thức hóa các thủ tục đăng ký về sở hữu trí tuệ hoặc thủ tục sản xuất kinh doanh chứ chưa đóng vai trò thực chất nòng cốt trong tổ chức sản xuất và kinh doanh. Năng lực để tổ chức sản xuất, kết nối, phát triển thị trường còn hạn chế. Điều này cũng có nguyên nhân từ năng lực tài chính, con người, KH&CN của các tổ chức này còn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn sản xuất và kinh doanh.

Tác động chưa đồng bộ: Các sản phẩm tác động chưa đồng bộ đến các khâu. Vấn đề này, có nguyên nhân chính là kinh phí hạn chế, chưa có tổ chức dẫn dắc phát triển. Trong giai đoạn vừa qua, mặc dù đã có nhiều địa phương quan tâm hỗ trợ kinh phí để phát triển sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương nhưng nhìn chung nguồn lực còn chưa nhiều. Ngân sách KH&CN dành cho xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN trên địa bàn các huyện chỉ 60 - 90 triệu đồng/ mô hình, bởi vậy nhiều sản phẩm tác động đơn lẻ, từng năm một, không tác động mang tính đồng bộ để tạo ra sản phẩm cuối cùng.

- Chưa có nhiều sản phẩm lớn có thương hiệu và giá trị: Cũng trong giai đoạn này, có ít sản phẩm được chế biến, sản phẩm còn đơn điệu, chưa đa dạng và quy mô nhìn chung còn nhỏ lẻ. Một số có thể sản xuất quy mô lớn nhưng do chưa có năng lực quản lý, khai thác nhãn hiệu, xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm, tạo lập thị trường nên hạn chế chưa phát triển được.

III. Định hướng và giải pháp

- Tiếp tục xây dựng phát triển sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương và nhân rộng mô hình theo chương trình OCOP: Có thể nói, trong thời gian qua, KH&CN đã có tác động cần thiết, dần lựa chọn sản phẩm, các hướng tác dộng phù hợp nhằm tạo ra sản phẩm có thể sản xuất và kinh doanh. Tuy nhiên, để tiếp tục duy trì, nhân rộng và phát triển thì các huyện cần đưa vào nhân rộng trong chương trình OCOP. Để thực hiện có hiệu quả cần căn cứ theo kế hoạch cũng như khả năng của địa phương xây dựng lộ trình và hướng đi phù hợp.

- Phát triển đặc sản vùng miền: Trong 1 giai đoạn 3 - 5 năm chỉ lựa chọn, tập trung phát triển một số sản phẩm (3 - 7 sản phẩm) có thế mạnh của địa phương. Cần tập trung và kiên trì thực hiện nhiều mô hình theo chuỗi giá trị cho một số sản phẩm ưu tiên; có các chính sách cụ thể cho từng sản phẩm. Các huyện cần ưu tiên và huy động, tập trung nguồn lực hơn nữa trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu để phát triển một số sản phẩm cho "ra tấm, ra miếng" nhằm phát huy tối đa thế mạnh của địa phương.

- Các khâu tác động theo nhóm đối tượng:

+ Đối tượng chưa được biết đến: cần có tiếp tục điều tra, khảo sát nhằm phát hiện, lựa chọn thêm các sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương để nghiên cứu đánh giá đặc điểm, đặc tính; bảo tồn, khoanh nuôi bảo vệ, khai thác hợp lý. Sau đó, tiếp tục nghiên cứu các hướng tác động, hỗ trợ phù hợp để sản xuất thành hàng hóa.

+ Đối với sản phẩm đã được tác động để nuôi, trồng: tiếp tục mở rộng sản xuất đủ quy mô để chế biến, hỗ trợ trong khâu chế biến để sản phẩm trở thành hàng hóa.

+ Các sản phẩm đã được sản xuất, chế biến: cần hỗ trợ trong phân tích chất lượng, xây dựng nhãn hiệu. Sau đó, có các hỗ trợ để quản lý chất lượng, nhãn hiệu và phát triển thương hiệu sản phẩm.

+ Các sản phẩm có thị trường: cần ưu tiên các doanh nghiệp, hợp tác xã trong việc thực hiện các nhiệm vụ để các tổ chức cung ứng đầu vào và bao tiêu đầu ra, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm. Trong đó, ưu tiên hỗ trợ chế biến để đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng và phát triển thương hiệu sản phẩm.

- Tác động theo chuỗi: một số sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương có tiềm năng phát triển thành hàng hóa có giá trị cao thì cần tác động theo chuỗi để ra sản phẩm cuối cùng. Hướng tác động chủ yếu từ khâu nghiên cứu bảo tồn, đánh giá đặc điểm - đặc tính, hỗ trợ nhân giống, nuôi trồng, chế biến, phân tích chất lượng, xây dựng nhãn hiệu, quản lý và phát triển thương hiệu sản phẩm bằng các đề tài, dự án, mô hình để hỗ trợ xây dựng phát triển các sản phẩm. Tuy nhiên, không phải tất cả các sản phẩm đều thực hiện đầy đủ các khâu mà trong quá trình thực hiện cần căn cứ theo từng đối tượng cụ thể để tác động theo từng khâu cần thiết và còn yếu kém.

- Tăng cường công tác quảng bá sản phẩm: Tăng cường tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại; đầu tư kinh phí cho việc giới thiệu về chất lượng, tác dụng của sản phẩm; quảng bá, giới thiệu sản phẩm thông qua website, các trang mạng xã hội; làm tờ rơi, pano tấm lớn giới thiệu về các sản phẩm của hợp tác xã, doanh nghiệp, làng nghề,.. Đồng thời, ứng dụng mạnh mẽ thương mại điện tử vào hoạt động sản xuất, áp dụng các phương thức kinh doanh tiên tiến,... 

- Xây dựng kế hoạch, quy hoạch và chính sách: Căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, kế hoạch của chương trình OCOP, các huyện cần có kế hoạch để xây dựng và phát triển một số cụ thể. Bên cạnh đó, cũng cần có quy hoạch trong phát triển nguyên liệu, sản phẩm; chính sách hỗ trợ một số khâu nhất định (như giống, chế biến, xây dựng nhãn hiệu) nhằm khuyến khích tổ chức sản xuất và kinh doanh các sản phẩm truyền thống và đặc sản địa phương./.

                                             TS. Lê Văn Khánh, Phó phòng

Quản lý KH&CN cơ sở, Sở KH&CN Nghệ An

 

 

 

 

 

Tin khác

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.