Tổng quan về đánh giá thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển các cây con chủ lực tỉnh Nghệ An đến năm 2025, định hướng đến năm 2030

Ngành Nông nghiệp và PTNT Nghệ An triển khai Đề án phát triển cây con chủ lực của tỉnh giai đoạn 2014 - 2020, trong điều kiện có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức như: Tình hình dịch bệnh, đặc biệt là một số dịch bệnh như: Dịch tả lợn châu Phi, Cúm A/H5N1, H5N7, các loại dịch bệnh trên cây trồng, thủy sản diễn biến phức tạp; Tác động của biến đổi khí hậu dẫn đến các hình thái thời tiết cực đoan xảy ra bất thường, như hạn hán, lũ lụt, cháy rừng, sạt lở,... mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn; Thị trường nhiều mặt hàng nông sản không ổn định, có xu hướng giảm giá mạnh và chịu tác động của thương mại toàn cầu, nhất là đối với một số mặt hàng nông sản chủ lực của tỉnh và đặc biệt đại dịch Covid 19 đang diễn ra từ đầu năm 2020.

Trong bối cảnh đó, Ngành đã luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Bộ Nông nghiệp và PTNT, các Bộ Ngành Trung ương; Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, sự hỗ trợ của các cấp, các ngành và địa phương; sự chung sức, vượt khó, sáng tạo của cộng đồng doanh nghiệp và bà con nông dân; sự đồng hành của các cơ quan truyền thông đã tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong toàn ngành, nỗ lực bám sát thực tiễn, vượt qua khó khăn, thách thức, triển khai quyết liệt các giải pháp, các cơ chế chính sách; đặc biệt là triển khai thực hiện Đề án cơ cấu lại ngành Nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, củng cố và thành lập mới các Hợp tác xã đã tạo ra thời cơ lợi thế cho việc phát triển các cây con chủ lực của tỉnh.

Ngành Nông nghiệp và PTNT cũng như đề án cây, con chủ lực của tỉnh đã đạt được trong giai đoạn 2014 - 2019 và ước đạt đến năm 2020 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân đạt gần 4,8%; dự kiến năm 2020 đạt 4,5 %; Cơ cấu kinh tế nội ngành tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, dự kiến đến cuối năm 2020: Nông nghiệp: 77,07%, Lâm nghiệp: 8,64%; Thủy sản: 14,29%. Trong nông nghiệp thuần tỷ trọng trồng trọt giảm dần, tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ tăng khá: Trồng trọt 47,99%, chăn nuôi 47,55% và dịch vụ 4,46%; Đến nay đã có 4 đơn vị cấp huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và 265 xã đạt chuẩn nông thôn mới; Trong 21 chỉ tiêu của đề án, có 11 chỉ tiêu đạt và vượt là sản lượng lúa, sản lượng ngô, sắn, mía, cam quýt, cây thức ăn chăn nuôi, sản lượng thịt trâu, sản lượng thịt bò, sản lượng thịt gia cầm, sản lượng cá nước ngọt và diện tích rừng nguyên liệu. Và 10 chỉ tiêu khó đạt, gồm: Sản lượng lạc, chanh leo, chè búp tươi, cao su mủ khô, dược liệu, tổng đàn hươu, tổng đàn bò bê sữa, sản lượng sữa tươi, thịt lợn và sản lượng tôm.

Để đạt được kết quả trên ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh nhà đã tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ và giải pháp đó là: Phối hợp với các cơ quan truyền thông, các sở ngành, huyện, thành, thị đã làm tốt công tác tuyên truyền, quán triệt sâu rộng trong các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức đoàn thể và nhân dân về chủ trương, định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và các cơ chế chính sách tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động trong triển khai kế hoạch phát triển Ngành, cũng như đề án. Xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện tốt kế hàng năm, Đề án sản xuất hàng vụ (vụ Xuân, Hè thu - Mùa và vụ Đông), các quy trình sản xuất, công tác phòng chống dịch bệnh, thiên tai bảo vệ sản xuất. Đẩy nhanh việc nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ, quy trình sản xuất an toàn, thực hành nông nghiệp tốt (GAP) vào sản xuất.

Thu hút các doanh nghiệp vào đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là các dự án ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, như: Tập đoàn TH, Vinamilk, Tổng Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Nghệ An, Công ty trách nhiệm hữu hạn Khoa học Công nghệ Vĩnh Hòa, Lâm nghiệp tháng 5, Nasu; ... đây là những doanh nghiệp đi đầu, tạo sức lan tỏa trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của tỉnh. Công tác thu hút vốn đầu tư để triển khai nâng cấp và xây dựng mới các công trình hạ tầng trong nông nghiệp phục vụ sản xuất đảm bảo thích ứng với biến đổi khí hậu. Các chủ trương, chính sách của Trung ương, của tỉnh được tổ chức thực hiện, điều chỉnh bổ sung kịp thời một số nội dung hỗ trợ phù hợp với yêu cầu sản xuất hàng năm, trong đó có các cây con chủ yếu theo đề án được phê duyệt.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, quá trình thực hiện đề án cây, con chủ lực của chúng ta vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: Mục tiêu đề án sẽ còn 10 chỉ tiêu khó đạt; Việc chỉ đạo chuyển đổi diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây khác có hiệu quả kinh tế hơn tuy đã có những kết quả quan trọng nhưng nhìn chung vẫn còn chưa đáp ứng kỳ vọng. Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, bảo quản sau thu hoạch đối với một số cây, con chủ yếu chậm phát triển, thiếu đồng bộ, chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương; Kinh tế hộ nhỏ lẻ vẫn là đơn vị sản xuất; ruộng đất sản xuất manh mún; gây khó khăn cho ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa;…, làm cản trở sản xuất quy mô lớn phát triển; Việc đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu về hợp tác, liên kết sản xuất, gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị. Kế hoạch thực hiện đề án chưa thật cụ thể đối với từng mục tiêu, còn mang tính lồng ghép nhiều chương trình, đề án của ngành; Công tác nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ tuy đã đạt được nhiều kết quả quan trọng nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất; Một số mô hình sản xuất cây, con đã xây dựng thành công, có hiệu quả, nhưng việc nhân ra diện rộng còn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở các huyện miền núi. Đặc biệt, nguồn lực còn khó khăn, chưa có chính sách hỗ trợ đầu tư, khuyến khích phát các số cây, con chủ lực đủ mạnh.

Qua triển khai thực hiện đề án đã cơ bản hoàn thành việc rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển các cây, con chủ yếu; khuyến khích tích tụ ruộng đất, thuê đất để xây dựng các trang trại, gia trại sản xuất hàng hóa tập trung; củng cố và phát triển Hợp tác xã, tích cực mở rộng hợp tác, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng cánh đồng lớn, nâng cao hiệu quả, tăng thu nhập cho người dân; đưa nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất, góp phần làm tăng năng suất, sản lượng, chất lượng sản phẩm, tăng giá trị trên đơn vị diện tích; hình thành được nhiều vùng nguyên liệu tập trung cho chế biến, xuất khẩu; Cơ sở hạ tầng các vùng nguyên liệu được quan tâm đầu tư...

Theo nhiều dự báo trong năm 2020 và những năm tiếp theo, diễn biến về chính trị, kinh tế thế giới còn nhiều phúc tạp, khó lường, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt. Sản xuất nông nghiệp thế giới có xu thế tăng; thương mại, giá cả nông sản toàn cầu diễn biến khó lường và cạnh tranh gay gắt; yêu cầu chất lượng nông sản ngày càng cao, người tiêu dùng ngày càng yêu cầu các sản phẩm nông sản an toàn thực phẩm, sản phẩm sạch, hữu cơ,…

Để phát triển các cây, con chủ lực trong gia đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030, Ngành Nông nghiệp và PTNT xác định mục tiêu, phương hướng nhiệm vụ và đề xuất một số giải pháp cụ thể. Xác định lại các sản phẩm chủ lực trong phát triển nông nghiệp tỉnh Nghệ An, xây dựng kế hoạch tập trung đầu tư phát triển các sản phẩm này gắn liền với tái cơ cấu ngành nông nghiệp nhằm tạo giá trị gia tăng cao, đẩy nhanh tốc độ chất lượng tăng trưởng, phát triển nông nghiệp bền vững, góp phần đẩy mạnh việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới để đóng góp chung vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

Ngành nông nghiệp và PTNT đề xuất một số nội dung về tiêu chí xác định các sản phẩm nông nghiệp chủ lực (cây, con chủ lực), để các đồng chí lãnh đạo, các đại biểu thảo luận đó là: Có lợi thế so sánh, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất; có nhu cầu thị trường trong và ngoài nước hiện tại và đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Có khả năng cung cấp sản lượng lớn, an toàn, ổn định lâu dài; gắn kết được giữa sản xuất với các cơ sở chế biến hiện của tỉnh, của khu vực. Chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản phẩm nông nghiệp, có ý nghĩa làm động lực thúc đẩy nông nghiệp của tỉnh phát triển cao và bền vững. Có tính đặc hữu, đặc sản của địa phương, trở thành sản phẩm hàng hóa riêng mang đặc trưng của Nghệ An. Đối với những sản phẩm đặc sản quy mô nhỏ, vùng miền, mang đặc trưng riêng của địa phương, của các xã áp dụng các cơ chế chính sách theo chương trình Quốc gia mỗi xã một sản phẩm. Có khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất để tạo ra sản phẩm có năng suất, chất lượng cao. Có khả năng kết nối với sản phẩm cùng loại của các tỉnh trong vùng và trong nước để tham gia xuất khẩu.

 

Toàn cảnh hội thảo

 

Từ những kết quả đã đạt được trong giai đoạn 2014-2020 và tiêu chí nêu trên; Ngành Nông nghiệp và PTNT đề xuất các sản phẩm nông nghiệp chủ lực (để định hướng các cây, con chủ lực) của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2030, với 11 sản phẩm, nhóm sản phẩm, cụ thể:

1. Nhóm cây lương thực:

- Cây lúa: Diện tích gieo trồng hàng năm đạt khoảng 185.000-187.000ha, sản lượng hàng năm đạt khoảng 1 triệu tấn; giá trị sản xuất năm 2019 đạt khoảng 5.100 tỷ đồng, đóng góp khoảng 14,2 % vào giá trị sản xuất của ngành (đang là sản phẩm chủ lực của tỉnh), thuộc danh mục loài cây trồng chính và sản phẩm nông nghiệp chủ lực Quốc gia.

 

Giống lúa Hương thuần 8 tại Nghệ An sinh trưởng phát triển tốt, bông to, nhiều hạt, gạo thơm ngon

 

- Cây ngô: Diện tích gieo trồng hàng năm đạt khoảng 50.000 - 55.000ha, sản lượng đạt trên 220.000-270.000 tấn, giá trị sản xuất năm 2019 đạt khoảng 900 tỷ đồng, đóng góp khoảng 2,5% vào giá trị sản xuất của ngành (đang là sản phẩm chủ lực của tỉnh), thuộc danh mục loài cây trồng chính của Quốc gia.

2. Nhóm cây rau, củ, quả (rau lấy lá, rau lấy củ và rau lấy quả) và cây dược liệu: Diện tích gieo trồng hàng năm đạt khoảng 35.000 - 40.000 ha, sản lượng hàng năm đạt khoảng 370.000 - 400.000 tấn/năm; giá trị sản xuất năm 2019 đạt khoảng 1.300 tỷ đồng, đóng góp khoảng 3,5% vào giá trị sản xuất của ngành; thuộc danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực Quốc gia.

Các sản phẩm rau, củ, quả đưa vào nhóm cây con chủ lực, hiện nay nhiều vùng sản xuất tập trung quy mô hàng hoá có giá trị đạt 300 - 500 triệu/ha; nhu cầu thực phẩm ngày càng lớn, đặc biệt sản phẩm sạch; gắn với đó để thu hút thêm 1-2 nhà máy chế biến rau, quả;

Diện tích cây dược liệu hiện nay chỉ mới đạt khoảng 1.200 ha, tuy diện tích còn ít, đóng góp vào cơ cấu giá trị sản xuất của ngành chưa nhiều; tuy nhiên tiềm năng phát triển dược liệu của tỉnh Nghệ An rất lớn, đặc biệt dược liệu dưới tán rừng; Cây dược liệu có giá trị kinh tế lớn, gắn sản xuất, chế biến tinh (đang là sản phẩm chủ lực của tỉnh); gắn với đó để thu hút thêm 1 - 2 nhà máy chế biến dược liệu.

3. Nhóm cây nguyên liệu cho nhà máy chế biến

- Cây mía: Quy mô diện tích đạt 25.000 - 28.000 ha/năm, sản lượng đạt 1,5 - 1,6 triệu tấn/năm, giá trị sản xuất năm 2019 đạt khoảng 1.100 tỷ đồng, đóng góp khoảng 3,0 % vào giá trị sản xuất của ngành.

- Cây chè: Diện tích hiện có khoảng 7.500 ha, sản lượng chè búp tươi đạt khoảng 78.000 tấn, chế biến đạt 12.500 tấn chè búp khô; giá trị sản xuất năm 2019 đạt khoảng 290 tỷ đồng, đóng góp khoảng 0,8 % vào giá trị sản xuất của ngành.

Các loại cây trồng này, hiện nay đã có các nhà máy chế biến thu mua nguyên liệu ổn định; có thị trường xuất khẩu ổn định. Do đó, đề xuất đưa nhóm cây nguyên liệu (mía, chè công nghiệp) vào nhóm sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh giai đoạn 2021 - 2025 để tập trung chỉ đạo đảm bảo nguyên liệu cho các nhà máy chế biến (đang là sản phẩm chủ lực của tỉnh); cây chè thuộc danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực Quốc gia.

4. Nhóm cây ăn quả tập trung (cam, quýt, bưởi, chuối, dứa…)

- Cây cam, quýt: Diện tích hiện có khoảng 7.700 ha, sản lượng quả đạt khoảng 74.000 tấn; giá trị sản xuất năm 2019 đạt khoảng 920 tỷ đồng, đóng góp khoảng 2,56 % vào giá trị sản xuất của ngành. Là cây trồng có sản phẩm có thị trường trong nước và có thể xuất khẩu; có chỉ dẫn địa lý Cam Vinh nổi tiếng cần đươc quan tâm nâng cao giá trị (đang là sản phẩm chủ lực của tỉnh).

- Cây chuối: Giai đoạn đến năm 2019, diện tích hiện có khoảng 4.277 ha, sản lượng 72.800 tấn; giá trị sản xuất đạt khoảng 255 tỷ đồng, đóng góp khoảng 0,7 % vào giá trị sản xuất của ngành. Là cây có giá trị kinh tế cao; đang còn nhiều tiềm năng để phát triển

- Cây bưởi: Giai đoạn đến năm 2019, diện tích hiện có khoảng 1.300 ha, sản lượng quả đạt khoảng 9.200 tấn tấn; giá trị sản xuất đạt khoảng 1.000 tỷ đồng, đóng góp khoảng 0,2 % vào giá trị sản xuất của ngành. Là cây có giá trị kinh tế cao; đang còn nhiều tiềm năng để phát triển.

- Cây dứa: Giai đoạn đến năm 2019, diện tích đạt khoảng 1.273 ha, sản lượng 24.956 tấn; là nguyên liệu cho nhà máy chế biến; Là cây có giá trị kinh tế cao; đang còn nhiều tiềm năng để phát triển, cung cấp nguyên liệu cho nhà máy chế biến; tập trung thâm canh gắn với liên kết sản xuất bao tiêu sản phẩm cho nhà máy chế biến.

Cây cam, chuối, bưởi thuộc danh mục loài cây trồng chính Quốc gia.

Các sản phẩm cây ăn quả đưa vào nhóm cây con chủ lực gắn với đó để thu hút thêm 1 -2 nhà máy chế biến hoa quả.

5. Nhóm cây nguyên liệu gỗ

- Diện tích hiện có khoảng 188.000 ha, sản lượng quả đạt khoảng 1,2 triệu m3/năm; giá trị sản xuất năm 2019 đạt khoảng 1.100 tỷ đồng, đóng góp khoảng 3,1 % vào giá trị sản xuất của Ngành.

- Là cây nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy chế chế biến gỗ; đặc biệt cung cấp nguyên liệu cho tổ hợp Khu nông nghiệp ứng dụng CNC trong lĩnh vực lâm nghiệp của Vùng đang được xúc tiến xây dựng (Đang là sản phẩm chủ lực của tỉnh), gỗ và sản phẩm từ gỗ thuộc danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực Quốc gia.

6.  Thịt trâu

Tổng đàn trâu đạt khoảng 280.000 con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt khoảng 15.000 - 16.000 tấn/năm; giá trị sản xuất năm 2019 đạt khoảng 450 tỷ đồng, đóng góp khoảng 1,25 % vào giá trị sản xuất của Ngành (Đang là sản phẩm chủ lực của tỉnh).

7. Nhóm thịt bò và bò sữa

- Đàn bò: Tổng đàn bò đạt khoảng 485.000 con, trong đó có 60.000 con bò sữa; sản lượng hịt hơi xuất chuồng đạt khoảng 22.000 tấn/năm; giá trị sản xuất năm 2019 đạt khoảng 850 tỷ đồng, đóng góp khoảng 2,36 % vào giá trị sản xuất của Ngành.

- Bò sữa và sản phẩm sữa bò:

+ Tổng đàn bò sữa đạt khoảng 60.000 con; sản lượng sữa hàng năm đạt khoảng 250 triệu lít; giá trị sản xuất đạt khoảng 1.900 tỷ đồng, đóng góp khoảng 5,28 % vào giá trị sản xuất của Ngành.

+ Tại Nghệ An có 02 dự án chăn nuôi bò sữa, gắn với nhà máy chế biến hiện đại của 02 thương hiệu sữa nổi tiếng của Việt Nam là TH true Milk và Vinamilk

+ Chăn nuôi bò sữa vẫn còn tiềm năng lớn để phát triển tại Nghệ An. (Đang là sản phẩm chủ lực của tỉnh).

8. Lợn: Tổng đàn lợn đạt khoảng 950.000-1.000.000 con, sản lượng thịt hơi 140.000-160.000 tấn/năm; giá trị sản xuất năm 2019 đạt khoảng 3.700 tỷ đồng, đóng góp khoảng 10,28 % vào giá trị sản xuất của Ngành (Đang là sản phẩm chủ lực của tỉnh), thuộc danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực Quốc gia.

9. Gia cầm: Tổng đàn lợn đạt khoảng 23-25 triệu con, sản lượng thịt hơi 58.000 tấn/năm; giá trị sản xuất năm 2019 đạt khoảng 3.200 tỷ đồng, đóng góp khoảng 8,8 % vào giá trị sản xuất của Ngành (Đang là sản phẩm chủ lực của tỉnh).

10. Tôm nuôi: Diện tích đất nuôi tôm 1.438 ha (nuôi cả hai vụ đạt 2.274ha), sản lượng tôm nuôi đạt khoảng 8.000 tấn/năm, giá trị sản xuất đạt khoảng 730 tỷ đồng, đóng góp khoảng 2,03 % vào giá trị sản xuất của Ngành (Đang là sản phẩm chủ lực của tỉnh), thuộc danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực Quốc gia.

11.Cá nước ngọt: Diện tích nuôi cá nước ngọt đạt khoảng 19.000ha/năm, sản lượng đạt khoảng 43.000 tấn, giá trị sản xuất năm 2019 đạt khoảng 1.400 tỷ đồng, đóng góp khoảng 3,9 % vào giá trị sản xuất của Ngành (Đang là sản phẩm chủ lực của tỉnh).

Để đạt được những mục tiêu đề ra trong giai đoạn tiếp theo Ngành Nông nghiệp và PTNT đề xuất một số giải pháp như sau:

1. Về các sản phẩm cây, con chủ lực: Từ 11 nhóm sản phẩm định hướng cho 04 cây, 03 nhóm cây và 06 con, cụ thể: Cây lúa; Cây ngô. Cây mía. Cây chè. Nhóm cây rau, củ, quả: Rau lấy lá, rau lấy củ và rau lấy quả và cây dược liệu. Nhóm cây ăn quả tập trung: Cam, quýt, bưởi, chuối, dứa… Nhóm cây nguyên liệu gỗ. Con Lợn; Con gia cầm;) Con trâu; Con (bao gồm bò thịt, bò sữa và sản phẩm từ sữa bò). Con tôm. Con cá.

2. Về các giải pháp: Tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp sau:Về giống;Về thạ tầng: về tổ chức sản xuất; Đẩy mạnh áp dụng các quy trình sản xuất an toàn, thực hành nông nghiệp tốt (GAP), hữu cơ,...Đẩy mạnh áp dựng đồng bộ khoa học công nghệ; Khuyến khích phát triển chế biến sản phẩm nông nghiệp để giải quyết đầu ra, bằng cách thu hút các doanh nghiệp, nhà máy chế biến, bảo quản sản phẩm. Có cơ chế, chính sách đủ mạnh và hiệu quả để hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp./.

   Đồng chí Nguyễn Văn Đệ

Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Nghệ An

 

 

 

Tin khác


 

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.