« Quay lại

Đa dạng loài cây Dược liệu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt tỉnh Nghệ An

Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt được phân bố ở dọc biên giới Việt - Lào trên những sườn núi thấp đến núi cao với đỉnh cao nhất là Pù Hoạt 2.457 m. Cánh cung Pù Hoạt được xem như là điểm giao thoa của các luồng thực vật Himalaya – Vân Nam Quý Châu, Ấn Độ - Mianma, Malaisia-Indonesia với Đông Nam Á nên thành phần thực vật phong phú và đa dạng với nhiều loài đặc hữu quý hiếm. Đặc biệt trong khu vực có nhiều loài thực vật được sử dụng để làm dược liệu. Theo kết quả thống kê trong khu BTTN Pù Hoạt, nhóm cây được sử dụng làm dược liệu có 1.103 loài chiếm 45,48% tổng số loài của khu hệ thực vật. Trong đó, các công trình nghiên cứu đã ghi nhận được 412 loài thường được người dân sử dụng để làm chữa các bệnh trên địa bàn. Do đó, việc đánh giá tính đa dạng các loài cây dược liệu phục vụ cho công tác bảo tồn và phát triển tại Khu BTTN Pù Hoạt là điều rất cần thiết.

Khu BTTN Pù Hoạt là một trong 03 vùng lõi của khu Dự trữ Sinh quyển Miền tây Nghệ An; là một trong những khu Bảo tồn Thiên nhiên có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước với tổng diện tích quản lý là 85.761,43 ha rừng và đất lâm nghiệp. Đây là khu vực còn sót lại một diện tích lớn rừng nguyên sinh ít chiụ tác động của con người và được xem như là đại diện của kiểu rừng kính thường xanh mưa ẩm nhiệt đới của khu vực Bắc Trường Sơn. Khu BTTN Pù Hoạt được các nhà khoa học trong nước và quốc tế đánh giá là một trong những khu vực có giá trị dạng sinh học cao của vùng Bắc Trung Bộ cũng như của Việt Nam với thành phần động, thực vật phong phú, đa dạng. Qua các kết quả điều tra nghiên cứu, đến nay hệ thực vật khu BTTN Pù Hoạt đã ghi nhận được 2.425 loài và dưới loài thuộc 885 chi, 208 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó có 129 loài có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau chiếm 5,32% tổng số loài của khu hệ.

1. Đa dạng các taxon trong ngành.

Từ các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học tại Khu BTTN Pù Hoạt đã công bố từ trước đến nay cho thấy, số loài cây dược liệu thường được người dân trong khu vực sử dụng làm thuốc đã thống kê được tại Khu BTTN Pù Hoạt gồm 412 loài, 296 chi và 115 họ thuộc 5 ngành thực vật bậc cao có mạch.

Cây dược liệu thường được sử dụng của Khu BTTN Pù Hoạt khá phong phú và đa dạng với sự xuất hiện của 5/6 ngành chính của thực vật bậc cao có mạnh. Sự phân bố của các taxon trong các ngành không đồng đều, chủ yếu tập trung trong nghành hạt kín (Magnoliophyta) với 390 loài (chiếm 94,66%), 283 chi (chiếm 95,61%) và 104 họ (chiếm 90,43%) tổng số các loài, chi và họ của toàn hệ. Ngành Thông đất (Lycopodiophyta) là ngành chiếm vị trí tương đối với 12 loài (chiếm 2,91%), 4 chi (chiếm 1,35%), 04 họ (chiếm 1,35%) tổng số các loài, chi và họ toàn khu hệ. Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) là ngành chiếm ưu thế về số loài, chi, họ so với các ngành còn lại và phù hợp với quy luật tiến hóa của thực vật.

Các ngành còn lại chiếm tỷ lệ không đáng kể về số họ, chi và loài. Đặc biệt chúng ta thấy, ngành Equisetophyta chỉ có duy nhất 01 họ, 01 chi và 01 loài. Đây là ngành có ý nghĩa rất lớn đối với công tác bảo tồn và cần phải có những ưu tiên để bảo vệ.

Chè hoa vàng Pù Hoạt (Camellia puhoatensis)

2. Đa dạng về phân loại các taxon dưới ngành

Có 10 họ đa dạng nhất chỉ chiếm 8,70% tổng số họ trong khu hệ, nhưng có 162 loài cây dược liệu chiếm tới 39,32% tổng số loài cây dược liệu được người dân ở vùng đệm Khu BTTN Pù Hoạt ghi nhận và sử dụng. Các họ đa dạng gồm: Ô rô (Acanthaceae) với 25 loài chiếm 6,07%; Cà phê (Rubiaceae) với 22 loài chiếm 5,43%; Cúc (Asteraceae) với 20 loài chiếm 4,85%. Các họ còn lại có từ 11 đến 19 loài chiếm từ 2,67%-4,61%..

Với 10 chi đa dạng nhất có từ 4 - 7 loài chiếm 2,38% tổng số chi của các cây dược liệu và chiếm 11,65% tổng số loài cây dược liệu được người dân vùng đệm Khu BTTN Pù Hoạt ghi nhận và sử dụng. Điều này chứng tỏ thực vật được sử dụng làm dược liệu ở Pù Hoạt khá đa dạng và phong phú cả về số lượng các taxon bậc họ, chi và loài. Các chi đa dạng gồm Ficus với 7 loài chiếm 1,70%; Selaginella và Litsea cùng với 6 loài chiếm 1,46%; Senna với 5 loài chiếm 1,21%. Các chi Ardisia, Tabernamontana, Schefflera, Blumea, Polygonum, Camellia cùng với 4 loài chiếm 0,97% tổng số loài làm thuốc.

Để đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện về giá trị đa dạng hệ thực vật sử dụng làm dược liệu ở Khu BTTN Pù Hoạt, Nghệ An, so với diện tích cả nước Việt Nam thì diện tích của Khu BTTN Pù Hoạt và vùng đệm chỉ chiếm tỉ lệ 0,05% nhưng số họ thực vật sử dụng làm dược liệu chiếm tới 37,46%, số chi chiếm 14,57%, số loài chiếm 10,70% trong tổng số họ, chi, loài cây dược liệu của cả nước. Từ đó, cho thấy hệ thực vật sử dụng làm dược liệu được người dân tộc Thái ở vùng đệm khu BTTN Pù Hoạt sử dụng cũng khá là đa dạng và phong phú.

3. Đa dạng về dạng thân của loài cây dược liệu

Dựa vào "Tên cây rừng Việt Nam (2000)", đã phân chia các dạng thân của các loài thực vật được người dân sử dụng làm dược liệu ở Khu BTTN Pù Hoạt chia thành 4 nhóm chính là: cây thân thảo, cây thân leo, cây thân bụi và cây thân.

Như vậy, loài cây dược liệu ở Khu BTTN Pù Hoạt có 4 dạng thân chính, trong đó nhóm cây thân thảo có số lượng lớn nhất với 150 loài, chiếm 36,41% so với tổng số loài cây thuốc điều tra được. Những loài này thường sống trong rừng, dưới tán rừng, ven rừng, ven đường, ven suối, vườn nhà. Các họ cây dược liệu có nhiều loài thân thảo như Asteraceae, Lamiaceae, Poaceae, Zingiberaceae, …; tiếp đến là các loài thuộc nhóm cây bụi với 122 loài, chiếm 29,61% tổng số loài tập trung ở các họ Fabaceae, Rutaceae, Rubiaceae, Malvaceae, Araliaceae, Verbenaceae,... Nhóm cây thân gỗ có 75 loài, chiếm 18,20% tổng số loài chủ yếu thuộc các họ Lauraceae, Fabaceae, Moraceae,…; nhóm cây thân leo với 65 loài, chiếm 15,78% tổng số loài, các họ điển hình là Menispermaceae, Cucurbitaceae, Fabaceae, Polygonaceae,...

4. Đa dạng về số bộ phận được sử dụng của loài cây dược liệu

Trong việc sử dụng cây dược liệu theo kinh nghiệm của người dân trong khu vực vùng đệm Khu BTTN Pù Hoạt, tùy theo cách sử dụng ở các bài thuốc khác nhau để chữa bệnh của các ông lang, bà mế mà có sự phối trộn các loài cây dược liệu. Có loài cây dược liệu được sử dụng toàn cây (rễ, thân, lá, quả, hạt...), 3 bộ phận, 2 bộ phận hoặc 1 bộ phận trong cây.

Khi sử dụng các bộ phận làm thuốc thì người dân ở vùng đệm Khu BTTN Pù Hoạt thường lấy 1 bộ phận là nhiều nhất với 189 loài, chiếm 45,87% tổng số loài cây dược liệu; cả cây với 105 loài, chiếm 25,49 %; 2 bộ phận với 95 loài, chiếm 23,06%; 3 bộ phận với 23 loài, chiếm 5,58%.

5. Đa dạng về bộ phận được sử dụng của loài cây dược liệu

Trong sử dụng cây dược liệu của đồng bào dân tộc Thái ở vùng đệm Khu BTTN Pù Hoạt, thì người dân đã sử dụng các bộ phận khác nhau của các loài thực vật để chế biến thành các bài thuốc khác nhau dùng chữa bệnh. Từ kết quả khảo sát cho thấy, trong các bộ phận được người dân ở vùng đệm Khu BTTN Pù Hoạt sử dụng thì Lá được sử dụng nhiều nhất với 158 loài chiếm 38,35%; tiếp đến là Thân với 117 loài chiếm 28,40%; Cả cây với 105 loài chiếm 25,49%; Rễ với 84 loài chiếm 20,39%; Vỏ 20 loài chiếm 4,85%; Quả với 14 loài chiếm 3,40%; Hạt với 11 loài chiếm 2,67%; Hoa với 10 loài chiếm 2,43%; ngọn với 5 loài chiếm 1,21% và nhựa với 4 loài chiếm 0,97%. Như vậy, người dân ở vùng đệm Khu BTTN Pù Hoạt sử dụng các bộ phận của các loài thực vật vào mục đích chữa các bệnh khác nhau cũng rất là đa dạng và phong phú. Có thể do tập quán cũng như đặc thu của điều kiện tự nhiên là ở vùng núi cao, tiếp cận với cơ sở y tế khó khăn,…

Cây đẳng sâm (Codonopsis javanica (Blume)

 

 6. Các loài cây dược liệu có nguy cơ tuyệt chủng ở Khu BTTN Pù Hoạt

Kết quả nghiên cứu cây dược liệu ở Khu BTTN Pù Hoạt theo Sách Đỏ Việt Nam (2007), có 10 loài cây dược liệu có nguy cơ tuyệt chủng. Trong 10 loài cây dược liệu nguy cấp thì ở mức Nguy cấp (EN) có 2 loài là Ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus (L.) Voss.) và Lan kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume) đây là các loài cây thuốc hiện bị khai thác quá mức không chỉ ở khu vực mà hầu như khắp các vùng trên cả nước. Mức sẽ nguy cấp (VU) có 8 loài là: Khôi tía (Ardisia sylvestris Pitard), Đẳng sâm (Codonopsis javanica (Blume) Hook.f.), Hoàng tinh cách (Disporopsis longifolia Craib), Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson), Du sam núi đất (Keteleeria evelyniana Mast.), Ba gạc vòng (Rauvolfia verticillata (Lour.) Baill.), Ba gạc cam bốt (Rauvolfia cambodiana Pierre ex Pitard) và Hồi nước (Limnophila rugosa (Roth) Merr.). Đây cũng là các loài cây thuốc quý hiện đang bị người dân khai thác mạnh. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở cho huyện Quế Phong nói chung và Khu BTTN Pù Hoạt cần có chiến lược, chính sách để bảo tồn, khai thác các loài thực vật làm thuốc này một cách hợp lý./.

HY tổng hợp

  

 

                       

 

 

Tin khác


 

 

Tiện ích - Download Tiện ích - Download


Tiện ích - download hết hạn.

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.