Làng Yên Lưu và lễ hội hạ điền thuở xưa

Từ cầu Bến Thủy theo nhịp mái chèo xuôi dòng sông Lam vài cây số, vượt qua các làng xóm ven sông sẽ bắt gặp một làng quê trù phú, trải tròn như chiếc lá sen duyên dáng ẩn mình dưới bóng tre xanh. Đó là làng Yên Lưu thuộc xã Hưng Hòa, thành phố Vinh, Nghệ An - mảnh đất địa thế ngoài sông, sau hói, kề núi, gần biển từng được tự hào ca ngợi: "Gái thanh tân lịch sự/ Trai quân tử có tài/ Nhờ địa mạch ai khai/ Được ngoài sông sau hói/ Được ngoài rào trong hói/ Ngong lên nhìn bốn cõi/ Từ Rú Quyết kéo về/ Sông bể giao kề/ Đất hồi lồng thủy tụ/ Đất thì cận thủy/ Nhì lại cận sơn/ Họa địa đồ cũng nỏ nơi mô hơn" (Phong cảnh Yên Lưu).

Lật lại sử sách, làng Yên Lưu được thành lập từ thời nhà Đinh. Theo gia phả họ Đinh ở Yên Lưu năm 979, ông Đinh Văn Lĩnh từ kinh đô Hoa Lư được vua Đinh cử vào trấn thủ đất Hoan Châu đã cho con cháu xuống khai khẩn vùng đất Yên Lưu. Về sau, các họ tộc khắp mọi vùng đất nước xuống khai hoang. Họ Vương chiếm vùng Kiều Thái, họ Hồ chiếm vùng Cẩm Mỹ, họ Nguyễn, họ Đinh, họ Trần chiếm xứ Đồng ngoài. Các họ đến lập trang trại trồng lúa, trồng cói, đánh cá, săn chim... đặt tên gọi là ấp Phù Lưu. Dân số tăng dần lên, ấp được chuyển lên thành xã đặt tên là Yên Lưu với ý nghĩa (bình yên, phong lưu) gồm có 7 xóm: xóm Mưng, xóm Đông, xóm Đông Mạ, xóm Múc, xóm Mốc, xóm Yên, xóm Cấm.

Đến thời nhà Lý, Lý Nhật Quang được cử vào làm Tri châu Nghệ An, chú trọng phát triển kinh tế nông nghiệp, đưa công việc khẩn hoang, giao thông thủy lợi lên hàng đầu. Ông chủ trương đắp đê theo tả ngạn sông Lam kéo dài từ Nam Đàn xuống tận vùng Yên Lưu, góp phần ngăn lũ lụt, bảo vệ xóm ấp mùa màng, giúp cho đời sống của bà con Yên Lưu ổn định cuộc sống.

Đền Bà Cô

Hương ước của làng Yên Lưu xây dựng vào năm nào chưa rõ, nhưng được sửa chữa thêm bớt nhiều lần vào thời Nguyễn, là bản hương ước xây dựng đầy đủ nhất gồm 85 điều, đề cập quản lý trên nhiều phương diện từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội còn lưu lại đến hôm nay. Trong đó, làng rất coi trọng việc học hành, thi cử và đậu đạt: "Khi trong xã có người trúng khoa bảng (văn hay võ) thì chọn ngày, lấy dân làng, có nghi lễ tử tế đi đón rước về làng, yết văn miếu nếu là văn khoa, yết võ miếu nếu là võ khoa"; "Thi Hương đậu tú tài thì xã mừng 30 quan, 1 đôi câu đối; đậu cử nhân văn thì xã mừng 50 quan; đậu cử nhân võ thì xã mừng 30 quan, câu đối đều 1 đôi; thi Hội trúng đại khoa văn thì mừng 100 quan, võ thì mừng 50 quan. Một bức trướng lụa cho cả 2 loại".

Không những thế, làng còn trích ra một số ruộng đất công làm "ruộng học điền" để trợ cấp cho những người nghèo chăm lo việc học và trích thưởng cho con em thi đỗ, tuỳ mức độ cao thấp mà thưởng nhiều hay ít. Chính vì thế mà nhiều gia đình dù rất nghèo phải ăn rau, cháo vẫn chung nhau góp tiền gạo để nuôi thầy dạy cho con "vài ba chữ thánh hiền" chỉ với một mong muốn đơn giản rằng con em mình biết chữ để khấn giỗ, viết văn tự, khế ước, văn cúng tổ tiên… Theo sách "Khoa bảng Nghệ An", vào thời Nguyễn, làng Yên Lưu có ông Đỗ Mẫn thi đỗ Cử nhân khoa Tân Tỵ, Minh Mệnh 2 (1821), làm quan đến Tri huyện; ông Trịnh Ngữ Văn thi đỗ Cử nhân khoa Mậu Dần, Tự Đức 21 (1868) làm quan đến Bình Tu Sử quán; khoa thi cuối cùng của Triều Nguyễn có ông Trần Bờn thi đỗ Tú Tài được phong chức Hàn lâm cung phụng, là niềm tự hào của cư dân làng Yên Lưu. Đạt được thành tích trên không phải do đất cát, hướng đình, cồn bút, cồn nghiên soi bóng mà do sự rèn luyện phấn đấu trong hiếu học, khổ học của một làng quê nghèo khó, nhưng chăm thi cử, học hành.

Làng có một hệ thống đền, đình, chùa dày đặc gồm: đền Cả, đền Nhà Nam, đền Long Triều, đền Văn Thánh, đền Bà Cô và 5 chùa thờ Phật là chùa Lậm, chùa Mốc, chùa Phu, chùa Nghè, chùa Cẩm Mỹ. Theo các cụ, xưa kia các tòa đền được chạm trổ công phu với nhiều chi tiết tỉ mỉ, đề tài sinh hoạt dân gian phong phú ở làng quê sông nước như cá vượt vũ môn, cá chép hóa rồng, lưỡng long triều nguyệt, mai hóa long ly, ông nghè vinh quy bái tổ, cảnh đơm cá vớt rươi, chài lưới trên sông, săn bắt chim thú, đua thuyền trên sông Lam. Mảng chạm khắc cảnh làm nông khá đậm nét gồm: phong cảnh đồng ruộng có cây đa, miếu thờ, nông dân cày cấy, vừa mải miết với công việc, vừa cất cao điệu hát ví, hát dặm của phường cấy. Xa xa hơn nữa có cảnh người đầu chít khăn đang thắp hương khấn vái mong cho trời đất mưa thuận gió hòa, mùa màng phong nậm. Các bức chạm đều là những bức tranh nghệ thuật sinh động, được khắc trên gỗ ván treo ở đình, đền với những đường nét lưu loát, tinh xảo, trong đó tập trung mang tính chất trọng nghề nông, thể hiện đặc sắc nhất trong lễ hội hạ điền.

Lễ hội hạ điền

Ngày lễ hội hạ điền của làng Yên Lưu diễn ra như ngày hội lớn trọng đại, thu hút mọi người tham gia. Công việc chuẩn bị cho lễ hội được tiến hành trước đó nhiều ngày. Ban làng gồm Lý trưởng và các vị Ngũ hương tập trung tất cả đàn ông từ 18 tuổi trở lên đến dọn dẹp tại khu vực đình làng và bãi xã tắc, sửa sang đường sá đi lại chuẩn bị cho đám rước, chuẩn bị bãi nương, dụng cụ cày bừa, chọn trâu đực mộng... Ở các gia đình đều chuẩn bị hương khói bàn thờ tổ tiên, dụng cụ cày kéo, trâu bò, ruộng nương để tiến hành lễ cho chu đáo. Người dân Yên Lưu vẫn tin rằng việc làm này sẽ được thần nông phù hộ mùa màng phong nậm, yên ấm. Kinh phí cho lễ hội Hạ điền được làng quy định: "Làng dành 3 mẫu ruộng ở xứ Tà Bạn giao 4 thôn chia cày. Mỗi lễ thu tiền 20 quan giao cho người biện lễ biện xôi thịt cáo thử, tế ở đình, đền". Hương ước của làng điều 43 quy định thêm: "Một ngày trước khi tế hạ điền, sẵn sàng trầu rượu cáo yết thần linh ở 3 miếu. Đến sáng, đem lợn, 3 con gà và xôi đến nền xã tắc, mời viên chức tới hành lễ. Lễ xong, trừ thủ, nọng, lưng, tim cật và 4 giò dùng để biếu. Ngoài ra, lấy một phần thịt lợn, xôi biếu những người làm lễ hạ điền. Còn bao nhiêu thì phân chia theo lệ định".

Đêm trước ngày lễ hội, dân làng hầu như không ngủ, hồi hộp chờ lệnh. Rạng sáng ngày 7 tháng giêng, trống chiêng nổi 3 hồi báo hiệu lễ hội hạ điền đã đến. Các nam phụ lão ấu đã tề tựu kín sân đình. Sau khi các lễ vật tế khí đã chuẩn bị, một hồi trống vang lên, theo sự điều hành của người xướng lễ, bồi tế và chủ tế lần lượt vào chiếu. Tiếp đến là các thủ tục tấu nhạc, dâng hương rượu do ban hành lễ tiến hành. Hai hàng chấp sự bê hương, hoa, trầu, rượu trịnh trọng đặt lên bàn thờ trong tiếng nhạc đăng trình trang nghiêm, giục dã. Chủ tế khấn vái và gieo hai đồng tiền Cảnh Hưng, Cảnh Thịnh xuống chiếc mâm sơn son thiếp vàng xin phép thần linh cho làng tiến hành làm lễ, các quan viên cúi đầu bái lạy.

Lễ khai quy kết thúc, ngoài sân đình bỗng nhộn nhịp khác thường. Trai làng vận áo the quần trắng, đầu khăn lượt chữ nhân. Hương trầm ngào ngạt quyện trong tiếng nhạc phát ra từ chiêng đồng não bạt. Hai chiếc kiệu phương du và long đình, mỗi chiếc có 8 đòn rồng chồng tiếp lên nhau, tất cả sơn son thiếp vàng rực rỡ trong nắng xuân. Lá cờ to nhất có chữ lệnh gọi là cờ tổng, quanh sân đình là cờ nhỏ, cùng đội bát âm chuẩn bị cho đám rước thần từ đình làng đến nền xã tắc để hành lễ. Một hồi trống điểm vang lên, ban hành lễ dẫn các quan viên chấp sự tiến ra sân đình. Hai cụ đi đầu bưng hai bát hương được lót nhiễu đỏ, trịnh trọng đặt vào hai chiếc kiệu. Thủ chỉ châm lửa vào băng pháo treo ở lá cờ đại, tiếng pháo nổ vừa dứt, có tiếng hô: Bơ phu cờ, phu kiệu, thì giờ rước bắt đầu. Khoảng vài chục chiếc cờ nhỏ được trai tráng giương cao chạy vòng trôn ốc trên sân, cùng lúc trống to trống nhỏ, não bạt, chiêng khánh đồng loạt nổi lên như biển động sóng cồn. Hai hàng trai tráng nâng cao hai cỗ kiệu cùng 16 đòn rồng lên vai chuyển động trong tiếng nhạc vang trời, răm rắp rời khỏi sân đình giữa tiếng reo vui tiền hô hậu hoán của mọi người trong vùng chờ sẵn.

Đám rước vừa đi vừa hát có đoạn: "Con nhà khốn khó/ Chăm chỉ cày bừa/ Dựng nên cơ đồ/ Xây làng lập ấp/ Phong vân nay gặp/ Hội mở đầu năm/ Thượng hạ chiềng dân/ Sắm cày, sắm cuốc/ Lão nông đi trước/ Trai làng theo sau/ Ai nấy mau mau/ Ra mà làm lễ".

Từ lễ tại đình đã thành hội rước đi qua các xóm, các nhà, đến đâu dân tình cũng đốt pháo dâng hương bái tạ. Khi đám rước đến đàn xã tắc, một hồi trống điểm, các đồ tế khí đã được đặt vào nơi quy định. Rồi theo sự điều hành của người xướng lễ, bồi tế và chủ tế lần lượt vào chiếu hoa tiến hành làm lễ. Văn cúng do một vài người có bằng cấp biên soạn. 

Chủ tế mặc áo dài nâu, đầu chít khăn thủ rìu, ngang lưng thắt khăn điều cùng các quan viên trong làng khấn lễ: "Kính lạy: Ông thần nông/ Dậy dân cày bừa/ Khỏi đói, khỏi khổ/ Nay dâng một cỗ/ Xin người hưởng cho/ Xin người giúp cho/ Giúp cho lúa tốt/ Lúa tốt khắp đồng/ Nhiều hột nhiều bông/ Đầy cót đầy bồ/ Thái bình no ấm/ Dân sự cậy nhờ...".

Khấn xong, làng dắt một con trâu béo khỏe, rất luyện đường cày, đến một đám ruộng đã định sẵn gần nền xã tắc. Lý trưởng của làng lấy bàn tay xoa xoa trên lưng trâu, mông trâu âu yếm, rồi cho trâu ăn vài ba chiếc bánh chưng. Xong đâu đấy, ông khoan thai mắc ách trâu, từ từ mở đường cày thẳng tắp theo hướng đã định, trống chiêng điểm khoan thai theo bước trâu đi. Dân làng đứng bốn bên bờ ruộng vui mừng phấn khởi nhìn theo đường cày, cùng với lá cờ ngũ hành lộng gió xuân cắm xung quanh bờ ruộng. Tiếp theo, trai làng xuống cày mỗi người một đường theo nhịp trống. Ai cày thẳng thì nhịp trống đánh đều đều ba nhịp một. Ai mở đường cong thì lập tức người đánh trống gõ cắc cắc bên thành trống và phải mở đường cày lại cho thẳng mới thôi. Theo quan niệm của người Yên Lưu, ai cày mở đường cong thì năm đó mùa màng sẽ thất bát, lắm dịch bệnh, đói nghèo. Cuối lễ khai canh của làng, ông tuần đinh cầm chai rượu rót mời các cụ lão nông cùng trai làng uống mỗi người một chén dưới sự chứng kiến của dân làng.

Sau đó, nhà nào về nhà nấy, dắt trâu ra vườn mở đường cày đầu năm. Họ nghe tiếng trống điều khiển từ đình làng để lần lượt làm các động tác: vỗ lưng trâu, mắc ách..., đến khi từ đình làng một hồi trống giòn dã vang lên thì các gia đình cho trâu nghỉ ngơi. Trưa hôm đó, có tính chất như bữa ăn liên hoan giữa trâu và người. Trâu được ăn bánh chưng, cỏ non, uống nước ấm. Người ngồi bên cạnh vuốt ve tai trâu, quạt xua đuổi ruồi muỗi cho trâu, tỏ thái độ ân cần, chăm sóc. Ngày hôm đó không nhốt trâu vào chuồng mà cho trâu nằm nghỉ dưới gốc cây xanh. Gió đầu xuân thoảng qua, con trâu nằm thanh thản nhai cỏ, gọi không khí thanh bình.

Lễ hạ điền là một hình thức sinh hoạt văn hóa cổ truyền có ý nghĩa trọng nông của bà con Yên Lưu thủa xưa, thể hiện tình cảm thương yêu gia súc, nhất là trâu bò, người bạn cùng chịu dầm mưa dãi nắng, vất vả sớm hôm để làm nên thóc gạo nuôi sống mình. Sự cảm thông sâu sắc đó đã giáo dục thế hệ mai sau yêu thương, coi trọng súc vật cày kéo bởi "con trâu là đầu cơ nghiệp" của nhà nông. Lễ hạ điền còn có ý nghĩa như lời nhắc nhở bà con dân làng chớ quá vui xuân mà quên việc cày cấy. Thông thường, sau lễ hạ điền, bà con mới ra đồng cày cấy hay mở cửa hiệu buôn bán, các tốp thợ mới đi làm ăn xa, khai búa, khai đe..../.

Trần Hữu Đức

Tiện ích - Download Tiện ích - Download


Tiện ích - download hết hạn.

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.