« Quay lại

Họ Nguyễn Nhân xã Hồng Long Nam Đàn

Họ Nguyễn Nhân nguyên gốc cư trú tại thôn Đông Thịnh, xã Lâm Thịnh, sau đổi là xã Hoa Lâm, nay thuộc xã Hồng Long, huyện Nam Đàn, là một dòng họ nối đời có đóng góp công sức về lịch sử, văn hóa cho địa phương và đất nước.

1. Họ Nguyễn Nhân và các nhân vật tiêu biểu các đời

Theo gia phả dòng họ Nguyễn Nhân được cụ Như Hoa chép vào năm Quý Dậu, Tự Đức (1873) và con cháu sao lại vào niên hiệu Khải Định thứ 2 (1917) thì các đời có các nhân vật tiêu biểu như sau:

Nguyễn Nhân Nhượng là tiên tổ khảo Đô tổng binh đồng tri xứ Tuyên Quang, định cư ở xã Hoa Lâm (nay là Xuân Lâm, Nam Đàn). Con trai Nguyễn Nhân Nhượng là Nguyễn Đình Diệu, làm quan được ban phong đến chức tước Trị công thần Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ. Phu nhân ông Diệu, người ở Tuần La, sinh ra 5 người con trai, con trưởng là Điển lạo Tổng binh Nguyễn Hoằng Điển. Ông Điển lấy vợ quê ở thôn Ân Mông, huyện Hưng Nguyên sinh được 2 con trai, con trưởng là Nguyễn Hoằng Thanh. Ông Thanh thi đậu Hiệu sinh, là người có uy tín trong hàng phủ. Phu nhân ông Thanh, người họ Lý ở thôn Vệ Môn, sinh ra Vạn Thắng hầu Nguyễn Hoằng Thưởng. Nguyễn Hoằng Thưởng làm quan đến Kiệt tiết tuyên lực công thần, Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm y vệ Đô chỉ huy ty Đô chỉ huy sứ thự vệ, tước Vạn Thắng hầu. Ông được triều đình cho lập đền thờ thần và ban sắc phong là Thụy túc Dực bảo Trung hưng Trung đẳng thần. Phu nhân Vạn Thắng hầu là Nguyễn Thị Đào sinh ra Nguyễn Hoằng Trí. Hoằng Trí nối tiếp cha ông làm quan đến Đặc tiến phụ quốc thuộc Tả trung quân doanh câu khể tuấn kiệt dũng. Ông cùng bà vợ ba là Nguyễn Thị Đế sinh ra Nguyễn Văn Phú, làm quan đến Quang tiến Thận lộc đại phu, Lâm Chu tri phủ, tước Nhân Lãnh tử. Người con trai khác của ông bà là Nguyễn Văn Nhiễu làm quan Thị hiên, chức Tham ty thuộc Y viện trong triều. Con trai ông là Nguyễn Văn Tường thi đậu Hiệu sinh. Từ đây lại phân chi ra từ Hương ấp Nguyễn Văn Dịch ở Giáp Trung và Chức Tùy thuộc sứ thần Hạnh Nhân, tước Nhân Lĩnh nam.

Cao tổ khảo là con trai của Nhân Lĩnh nam, tên chữ là Thận Tính phủ quân. Ông có hai vợ sinh được 4 con trai: Nguyễn Sĩ Đôn, Nguyễn Sĩ Thuần, Nguyễn Trọng Túc, Nguyễn Công Mỹ. Từ đây lại chia ra 4 chi, con cháu thay đổi tên lót là Nguyễn Doãn, Nguyễn Văn, Nguyễn Đăng, Nguyễn Sĩ, Nguyễn Trọng, Nguyễn Đình. Đến chi thứ 4 có hai chú cháu Nguyễn Hoằng và Nguyễn Lan cùng vào Quảng Nam và không quay về.

Đời thứ 2 của chi thứ 3, trưởng nam là Nghị, tên chữ Đạt Lý, tước Thập Lí hầu. Đời thứ 3 có Nguyễn Mạnh Thiệm, tên chữ là Văn Thiêm, làm quan Thí tướng sĩ lang, Phó sở sứ ở đồn điền Vĩnh Hưng. Đời thứ 4 có Nguyễn Trọng Lượng là Thủ chỉ trong làng và được tôn vinh Tri miếu an tứ thọ dân. Đời thứ 5 có ông Lâm Đình thất thập thọ ông, húy là Hước, làm Thủ chỉ kiêm chức Dự Sinh đồ; ông Tiền Thập Lí hầu, tên chữ là Trọng Thiệu.

Tổ đời thứ 6 của chi 3, trưởng nam húy là Trịnh (hay Trĩnh), tên chữ Hoa Như (hay Cẩm) giữ chức Cửu phẩm Bách hộ vệ. Vợ là Nguyễn Thị Tiến, gọi theo chức chồng là hậu duệ của Tiến sĩ Nguyễn Trọng Thường ở làng Trung Cần, huyện Nam Đàn.

Tổ đời thứ 7 chi 3, đến đời thứ 6, ông thứ 2 là Hiển tổ khảo Lâm Đình, giữ chức Tổng mục, kiêm Dự Hương trung, Thủ chỉ Chánh lí, Sinh đồ Nguyễn Trọng Khanh, tên chữ Cổ Xúy (Sênh), tên thụy là Chất Trực phủ quân. Thứ nam Nguyễn Mạnh Tuyên, tên chữ Huyền Thông, tên thụy là Chất Trực phủ quân, đậu Sinh đồ, giữ chức Cai xã. Ông thứ 3 là Nguyễn Trọng Thạc, tên chữ là Kì Đình, thụy là Chất Trực phủ quân, nhiều lần là Khóa sinh, rồi đậu Sinh đồ…

2. Vị Thần tổ Vạn Thắng hầu Nguyễn Hoằng Thưởng

Nguyễn Hoằng Thưởng được sinh ra trong một dòng họ có truyền thống hiếu học và làm võ quan, nên từ nhỏ đã được gia đình rèn cặp cho học hành theo nề nếp đó. Bản tính ông thông minh, ham học, tiếp thu nhanh tri thức Nho học, sách binh pháp và thuần thục các bài thực hành võ thuật dân tộc. Ông lại được cha chú ý bày vẽ cho các chiến thuật cầm quân đánh giặc nên mới trẻ tuổi đã nổi tiếng là người giỏi võ thuật và có tài về binh pháp. Dòng họ ông vốn nổi tiếng có nhiều người tham gia cầm quân đánh giặc giúp cho sự nghiệp Trung hưng của nhà Lê. Vua Lê Trang Tông từng được nhiều trung thần nhà Lê, trong đó có các tướng sĩ người xứ Nghệ tôn lập lên ngôi và lập căn cứ ở Nghệ An chống lại nhà Mạc. Các danh nhân tướng tài người Nghệ có công lớn trong sự nghiệp đó như Tấn Quốc công Nguyễn Cảnh Hoan - Trịnh Mô ở Đô Lương; Lai Quận công Phan Công Tích ở Yên Thành; Đoan Quận công Bùi Thế Đạt ở Diễn Châu; Khê Quận công Đinh Bạt Tụy ở Hưng Nguyên và rất nhiều gia đình, dòng họ có con cháu nối đời phù giúp cho các triều vua thời Lê Trung hưng. Dòng họ Nguyễn Nhân ở Hồng Long cũng có các nhân vật tiêu biểu trong công cuộc này như Nguyễn Nhân Nhượng, Nguyễn Đình Diệu, Nguyễn Hoằng Điển, Nguyễn Hoằng Thưởng… Họ đều có chiến công xuất sắc và được ban cho các chức tước trọng, là tướng chỉ huy các vệ quân bảo vệ nhà vua và triều đình. Riêng Nguyễn Hoằng Thưởng lập được nhiều công tích, nên được triều đình ban cho là Kiệt tiết tuyên lực công thần, Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Vạn Thắng hầu. Có lẽ Nguyễn Hoằng Thưởng là tướng chỉ huy xuất chúng, tham gia nhiều chiến trận và đánh đâu thắng đó, nên được triều đình ban cho tước Vạn Thắng hầu để ghi nhớ người có nhiều công tích. Sau khi mất, ông lại được triều đình và nhân dân lập đền thờ thần ở quê hương. Ông được các triều ban cho nhiều sắc phong, với các mỹ tự và là vị Trung đẳng thần. Hiện dòng họ Nguyễn Nhân còn lưu giữ nhiều sắc phong từ thời Lê Cảnh Hưng cho đến triều Nguyễn Khải Định.

Xin được ghi lại một số sắc phong tiêu biểu cho thần Vạn Thắng hầu như sau:  

* Sắc phong thời Thành Thái:

敕乂安省南壇縣林盛社東盛村奉事竭節宣力功臣特進輔國上將軍萬勝侯阮相公之神護國庇民捻著靈應向來未蒙頒給敕肆今丕承耿命緬念神庥著封為端肅翊保中興之神特準仍舊奉事神其相佑保我黎民欽哉故敕

成泰拾五年拾壹月貳拾剝日

- Phiên âm:

Sắc Nghệ An tỉnh, Nam Đàn huyện, Lâm Thịnh xã, Đông Thịnh thôn phụng sự kiệt tiết tuyên lực công thần, Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Vạn Thắng hầu Nguyễn tướng công chi thần. Hộ quốc tý dân nẫm trứ linh ứng hướng lai vị mông ban cấp sắc văn. Tứ kim phi thừa Cảnh mệnh miến niệm thần hưu trước phong vi đoan túc dực bảo Trung hưng chi thần đặc chuẩn nhưng cựu phụng sực. Thần kỳ tướng hữu bảo ngã lê dân khâm tai. Cố sắc!

Thành Thái thập ngũ niên, thập nhất nguyệt, nhị thập lục nhật.

- Tạm dịch:

Sắc cho thôn Đông Thịnh, xã Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An phụng thờ vị thần: Kiệt tiết tuyên lực công thần, Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Vạn Thắng hầu tướng công họ Nguyễn. Thần có công bảo vệ đất nước, cứu giúp nhân dân rất linh ứng, xứng đáng được ban cấp sắc văn. Nay, Trẫm thừa mệnh trời, xét công lao trước phong là Đoan túc Dực bảo Trung hưng chi thần, đặc chuẩn cho phụng thờ như trước. Thần hãy bảo vệ, che chở cho dân ta. Vậy ban sắc!

Ngày 26, tháng 11, năm Thành Thái năm thứ 15 (1903).

* Sắc thời Khải Định:

- Phiên âm:

Sắc Nghệ An tỉnh, Nam Đàn huyện, Lâm Thịnh xã, Đông Thịnh thôn tòng tiền phụng sự nguyên tặng Đoan túc dực bảo Trung hưng kiệt tiết tuyên lực công thần, Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm y vệ Vạn Thắng hầu Nguyễn tướng công tôn thần. Hộ quốc tý dân nẫm trứ linh ứng tiết mông ban cấp sắc phong chuẩn hứa phụng sự. Tứ kim chính trực, Trẫm tứ tuần đại khánh tiết kinh ban bảo chiếu đàm ân lễ long đăng trật, trước gia tặng Quang ý Trung đẳng thần, đặc chuẩn phụng sự dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển khâm tai.

Khải Định cửu niên, thất nguyệt, nhị thập ngũ nhật.

- Tạm dịch:

Sắc cho thôn Đông Thịnh, xã Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An từ trước đã phụng thờ thần: Nguyên tặng Đoan túc Dực bảo Trung hưng Kiệt tiết tuyên lực công thần, Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân, Cẩm y vệ, Vạn Thắng hầu Nguyễn tướng công tôn thần. Thần có công bảo vệ nước, cứu giúp nhân dân rất linh ứng đã từng được ban cho sắc phong phụng thờ. Nay, nhân dịp Trẫm mừng đại lễ sinh nhật 40 tuổi, ban chiếu ra ơn, long trọng ban tặng Quang ý Trung đẳng thần, chuẩn cho phụng thờ theo điển lễ nhà nước. Vậy ban sắc!

Ngày 25, tháng 7, năm Khải Định thứ 9 (1924).

Qua sắc phong và tài liệu còn được biết Vạn Thắng hầu Nguyễn Hoằng Thưởng là thần được tôn thờ ở đền Thần Trù, xã Hồng Long, huyện Nam Đàn. Nhân dân địa phương thường đến đền để thắp hương cầu xin thần ban phúc lành và phù hộ làm ăn được phồn thịnh. Dòng họ Nguyễn Nhân đã có công lao nhất định, đóng góp cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước. Nhà thờ họ Nguyễn Nhân là một công trình kiến trúc cổ, đẹp và còn lưu giữ được nhiều hiện vật, tài liệu quý, cần được bảo vệ và phát huy trong việc giáo dục truyền thống ở địa phương./.

 

 

Làng Đông Tháp

Trần Hữu Đức

Làng Đông Tháp thuộc xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu là một vùng đất đẹp làm lay động nhiều du khách. Xưa, làng Đông Tháp rộng lớn bao gồm cả Tây Tháp (Diễn Liên) và Xuân Tháp (Diễn Tháp) nên có câu ''Thượng Mồng gà đến hạ Bến Thóc'' (tức từ núi Mồng gà đến Đồng Sác - một vựa thóc của xã Diễn Hồng). Về sau, các làng Xuân Tháp, Tây Tháp thành lập làng riêng và Đông Tháp trở thành ''nhất xã nhất thôn'', có các xóm: Hồ, Họ, Đình, Hoàn, Hồng, Đông, Giáo, Huyện, Trạng, Chợ, Mới, Ốc.

 

 

1. Làng Đông Tháp từ xưa làm nghề nông là chính: ''Canh nông là gốc dân ta/ Phần nhiều giàu có là nhờ ruộng  nương''. Sách xưa như "Vân đài loại ngữ" đã từng chép ở vùng này, lúa, ngô, khoai, kê, đậu được gieo trồng sớm nhất. Tuy nhiên, để làm ra được củ khoai, hạt lúa, người dân ở đây đã phải chịu cảnh "một nắng hai sương" gian nan, vất vả, bởi đồng ruộng không được màu mỡ như các địa phương khác. Trước những năm 30 thế kỷ XX, khi dòng sông đào từ ba ra Đô Lương chưa chảy về đến địa phận, người nông dân chủ yếu phải dựa vào yếu tố thời tiết để cơ cấu mùa vụ cho phù hợp. Vụ năm bắt đầu vào tháng 11, khi thu hoạch xong thì tiến hành lật đất, bừa kỹ, chủ yếu là trồng khoai lang xen đậu, tỉa vãi vừng, trồng ngô, kỹ thuật chính là chăm bón, tuyển chọn giống. Vụ mười là vụ khó làm và hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên. Lúa trồng trên đất pha cát không đơn giản, nhưng con người ở đây không bó tay mà vượt lên thiên nhiên khắc nghiệt, biết sáng tạo khai phá các cánh đồng sâu, be bờ giữ nước, cải tạo đầm lầy… để trồng lúa. Các giống lúa được tuyển chọn qua nhiều thế hệ phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, vừa chịu hạn, vừa chịu gió như: lúa cằn, lúa cút, hẻo dong, lúa ré, nếp cà, nếp rồng... Các giống khoai thường trồng là khoai đỏ vỏ, khoai tía tô, về sau có sản xuất giống Hồng Quảng, khoai chiêm sòi nhiều củ, năng suất cao. Trên sườn vồng khoai, người nông dân tỉa thêm đậu. Đến tháng 3 năm sau, khoai được thu hoạch nhưng năng suất rất thấp, bình quân từ 2-3 tạ/sào, còn lúa chỉ được 60-80kg/sào. Đó là năm được mùa do thời tiết thuận lợi, còn những năm bão lụt, nắng hạn, mùa màng thất bát thì "Ba năm đại hạn khô đồng/ Lúa không, khoai hết còn mong nỗi gì".

Ở Đông Tháp, bên cạnh nghề nông, còn có các nghề thủ công cổ truyền. Nghề vàng mã, vàng vó ở Đông Tháp có từ lâu đời. Theo phong tục cúng tế ở nước ta, ngoài việc làm cỗ bàn còn có hương, hoa, trầm trà và vàng mã. Về vàng mã, có loại là những tờ giấy dó hình vuông, ở giữa quét nhũ vàng hay nhũ bạc cũng hình vuông, gọi là vàng giấy, hiện nay chúng ta vẫn đang còn dùng. Còn vàng vó, làm bằng nan tre hoặc nứa gập lại thành khối vuông, dán giấy vàng hay đỏ ghép xen kẽ nhau. Mỗi khối gọi là một thỏi. Năm mươi thỏi ghép lại thành hình một khối chữ nhật gọi là một thớt. Lễ cúng ít nhất phải năm thớt, mười thớt (gọi là một chục vàng). Nghề này ở Đông Tháp phát triển mạnh, có nhà làm chuyên nghiệp, nguyên liệu mua từ ngoài Bắc về như nứa Bến Dầm, Mễ, giấy Bưởi, mặt gương, giấy tráng kim ở chợ Đồng Xuân (Hà Nội). Lúc bấy giờ có câu ca: "Củi Kẻ Sàng, vàng Đông Tháp" là như vậy.

Nghề đan lừ Đông Tháp được sản xuất thông thường có 3 loại: lừ luôn, lừ lót và lừ lỡ. Lừ luôn là loại lừ đan thân riêng, sau lắp hai đầu hai vững. Lừ lót thân liền chỉ để một đầu lắp vững. Lừ lỡ giống lừ lót nhưng thân to gấp 2, 3 lần. Lừ được đan kích cỡ to nhỏ là tuỳ theo người đặt hoặc tuỳ ý người sản xuất, nhưng thông dụng nhất có đường kính từ 15-20cm. Qua kinh nghiệm sản xuất cho thấy loại này đặt được ở nhiều trộ nước trên khắp các cánh đồng và tiêu thụ được nhiều nhất. Nghề đan lừ nhẹ nhàng nhưng đòi hỏi khéo tay, có kỹ thuật cao, kiên nhẫn, tỉ mỉ, sáng tạo, tận dụng được sức lao động của nhiều người trong thời gian nhàn rỗi khi công việc đồng áng xong xuôi, hay mưa gió bão lụt. Sau khi nan lừ chẻ ra, người ta lấy rợi bó lỏng thành từng bó nhỏ, dùng tay hoặc chân lăn đi lăn lại, đến khi nan tròn bóng. Thời gian đầu đan lừ bằng cật giang, về sau tận dụng luôn cả ruột giang nữa. Để cho tôm cá không phát hiện được dụng cụ lừ, người ta lấy lá sắn dây và lá mướp giã lẫn với nhau tạo thành nước màu giống màu cật giang rồi tẩm vào nan lừ để đan. Lừ một thời đã được bày bán ở chợ Giàn và đem đi tiêu thụ hàng ngày ở nhiều vùng quê khắp xứ Nghệ, bán chạy nhất là vào thời gian mưa lũ tháng 8 hàng năm.

Nghề đóng cối xay lúa ở Đông Tháp được tiếng là chắc bền, lúa xát đều, gạo không nát, khi xay nhẹ nhàng, không mất sức. Thường thợ đóng cối xay hay đi xa ra các vùng trong huyện, từ nhà nọ kéo sang nhà kia, có khi một tháng chưa trở về nhà. Khi chuyển sang cơ chế thị trường, công nghệ phát triển, có máy xay xát thì nghề đóng cối xay lúa không còn nữa. Nhưng đây là sản phẩm văn hóa của làng quê Việt Nam xưa, nhắc lại để trân trọng một thời cha ông ta đã chịu khó sáng tạo.

Nghề dệt vải ở Đông Tháp có từ xưa, nổi tiếng như làng Phương Lịch (Diễn Châu), Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu), Xuân Liễu, Trung Cần (Nam Đàn), Tràng Sơn (Đô Lương)… Đông Tháp ở cạnh chợ Giàn, sông Cổ Hạc là điều kiện để sản phẩm làm ra buôn bán thuận lợi ở chợ, cũng như giao thương đi xa các vùng khác. Đông Tháp cũng ở gần các làng Đông Phái, Trung Hậu, Trường Khê… nên dễ dàng mua vật liệu sợi bông về dệt. Để có được sợi bông dệt thành tấm vải phải qua từng giai đoạn làm sợi như: cán bông, bắn bông, xe con cúi, kéo sợi, giằng sợi, ngâm sợi, đập sợi, phơi sợi, đánh ống sợi. Đánh ống sợi dùng xa quay, quay sợi vào cái ống nứa nhỏ. Sợi quay thành ống to để làm sợi dọc. Đánh sót là đoạn hóp (hay tre) nhỏ bằng ngón tay. Người ta cắm sót vào kim xa rồi quay cho quấn sợi vào. Sót sẽ bỏ vào con thoi làm sợi ngang khi dệt. Quá trình dệt vải phải qua nhiều công đoạn phức tạp, bình quân mỗi người thợ dệt được 20 vuông vải một ngày, người làm nhanh dệt được 30 vuông vải (mỗi vuông vải có cạnh lớn nhỏ khác nhau từ 28-40cm). Sản phẩm có hai loại: vải sợi to và vải sợi nhỏ. Vải sợi nhỏ thì mịn, đều sợi, giá bán sẽ cao hơn. Để cho vải bền, sử dụng được lâu, người ta đem vải về nhuộm nâu trước khi may áo. Nâu là loại củ nâu trên rừng, đem về giã nhỏ, ngâm cho tan trong nước, rồi nhúng vải vào phơi độ 7, 8 lần, làm cho tấm vải đỏ bầm là được. Nghề dệt vải một thời rất thịnh vượng trong làng Đông Tháp và các làng khác khắp mọi miền quê ở Diễn Châu, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nông dân và bộ đội thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Vào những năm 60 của thế kỷ XX, khi các nhà máy dệt hiện đại được xây dựng ở Nam Định, Hà Nội thì dệt vải bằng thủ công tạm thời ngừng hoạt động. Hiện nay, chỉ còn một số gia đình giữ được khung cửi để làm vật kỷ niệm một thời và nghề dệt đã trở thành ký ức của các bà mẹ già xưa.

2. Đền Đông Tháp nằm giữa trung tâm làng, đẹp nổi tiếng, thượng tọa trên nền đất cao ráo tại xóm Xuân Đình hiện nay. Khuôn viên đền chiều rộng 30m, dài 50m, hướng nhìn ra biển, trông rất bề thế, uy nghi. Cổng ngoài xây hai cột nanh cao lớn, trên đỉnh cột đắp hai con nghê to lớn, dữ tợn đang chầu vào nhau. Hai phía cột nanh xây tường lửng đắp hai con ngựa đang tung bờm phi nước đại. Cổng trong gọi là cửa Tam quan có 3 cổng (giữa là cổng chính, hai bên là cổng phụ), xây bằng gạch đá ong cuốn hình vòm. Tiếp đến là sân đền lát gạch rộng rãi, hai phía xây tường bao có nhà gà dùng để các đồ tề lễ như hương, hoa, rượu… Kiến trúc của đền xây dựng theo kiểu tam oai cổ nghé, xây tường lợp ngói mũi hài, ba tòa liền mái nhau. Toà ngoài gọi là hạ điện hay nhà ca vũ dùng làm nơi hát xướng, ca múa, làm trò. Tòa trong là trung điện, hai phía đắp hai ông phỗng cao to, thờ đức thánh cao, hai bên thờ tả tướng và hữu tướng, trước long ngai có hòm đựng sắc phong và ở hai phía dưới có trản thờ bày be, chén, kiếm, dùi đồng, siêu đao. Phía trong là hậu cung (thượng điện). Trên các đường xà hạ đều được chạm trổ tinh vi hình long - ly - quy - phượng, bốn con vật tượng trưng cho uy quyền của chế độ phong kiến. Đền Đông Tháp thờ Cao Sơn Cao Các, tên Hiểu, tự Văn Trường, người thuộc huyện Báu Sơn (Bắc Quốc, Trung Quốc). Thời Lê Cảnh Hưng năm thứ 44 (tức là năm 1738) được vua Hiển Tông sắc phong là "Cao Sơn Cao Các, mộ sơn linh ứng lịch triều tặng phong thượng thượng đẳng thần".

Chùa Bốn cổ kính nằm ở phía Bắc nghĩa trang làng Đông Tháp dưới một lùm cây um tùm, rậm rạp. Hàng ngày, "Trống đền Cuông, chuông chùa Bốn" vang vọng cho cả một vùng Bắc Diễn Châu. Chùa tọa lạc trên một khu đất rộng mỗi chiều dài 40m, hướng về phía Nam. Cổng vào xây bằng gạch uốn hình vòm, hai phía xây tường lửng đắp hình hai ông phổng to lớn. Phía trên cổng có hai con nghê dữ tợn chầu vào nhau. Phía trong là sân chùa rộng rãi, có nhà gà để đặt các lễ vật: xôi, oản, hoa quả… Thượng điện hai bên tả hữu có hai ông phổng tạc bằng đá Thanh quỳ chầu vào nhau. Sau thượng điện là hậu cung. Nhà phật gọi hai tòa là chính tẩm và thiên hương. Chùa thờ phật Thích ca Ngọc Hoàng và Tam thế tế tự vào ngày mồng 1 và rằm hàng tháng, lễ lớn là ngày Phật đản 8/4, rằm tháng 7, lễ cúng có oản, hương hoa. Ngày xưa, sư Vinh và sư Cần (người Thanh Hóa) trụ trì, hàng ngày tiếng gõ mõ đều đều đọng lại trong thôn xóm nhỏ thanh bình.

Theo các cụ, hàng năm ăn tết xong, làng tổ chức tế lễ cầu đảo, cầu cho mưa thuận gió hòa, tế thần nông, thủy thần sông nước hay gọi là cầu ngư ở sông Cổ Hạc. Trong các lễ rước hàng năm thì rước thần được dân làng thành tâm đón nhận nhiều hơn. Đám rước được sắp xếp thứ tự, đi đầu là trai tráng cầm cờ ngũ hành hình vuông; tiếp đó là hội chiêng trống, lưng thắt khăn điều; rồi đến đội hộ tống cầm gươm giáo, bác biển; phu khiêng kiệu thần mặc quần trắng áo dài đen, có lúc mặc áo nỉ đỏ, hai bên kiệu có người cầm lọng, tàn để che nắng mưa cho thần; đội nữ "hát kiệu" ca ngợi công đức của thần. Các quan viên chức sắc y dịch của làng đi hầu hai bên kiệu. Sau tế lễ, làng tổ chức vui chơi ca hát. Vè dân gian mô tả như sau: "Hội xuân không thiếu chơi đu/ Hội thi chẳng thiếu vật cù kéo dây/ Gái đua sắc, trai đua tài/ Ví von hò đối kéo dài canh thâu/ Khăn nhiễu em chít trên đầu/ Váy đen áo đấu trao nhau lược tàu/ Trai làng có kém gì đâu/ Áo the, quần trắng vui câu tâm tình...".

Cách đền chùa không xa, cạnh đường quốc lộ 1A là chợ Giàn. Theo các cụ cao niên, nơi chợ họp đầu tiên là vùng bến sông Cổ Hạc (hiện nay là vùng đất của xóm Hoa Thành). Thời đó, nước sông Cổ Hạc dâng cao, thuyền buôn ra vào thông thương. Chợ Giàn lúc bấy giờ đã sầm uất, cảnh trên bến dưới thuyền tấp nập. Hàng hoá có nhiều chủng loại bày bán như lâm thổ sản từ miền núi đưa xuống, đồ sành sứ từ các làng nghề thủ công quanh vùng, hàng bông vải lụa mỹ nghệ... Ngoài các mặt hàng của địa phương, còn có gạo thơm nếp trắng trong Nam ngoài Bắc đưa về, có mật ngọt, rau thơm từ Phúc Thọ ra, có hàng mây tre đan từ Nghi Phong xuống, có chiếu hoa, chiếu mộc ở Hưng Hòa lên, có đủ hàng công nghiệp từ thành phố Vinh ra. Do thuận lợi giao thông, lại là vùng đất có nhiều nghề thủ công truyền thống, vì thế việc buôn bán ở chợ Giàn rất thịnh hành, hàng hoá nhộn nhịp vào Nam ra Bắc...: "Thuyền chàng xuống chợ bến Giàn/ Nhổ sào răng được khách tình nơi đây/ Vải tơ đò đã sắp đầy/ Giăng buồm ngoái lại hẹn ngày phiên sau". Trong chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, chợ Giàn sơ tán họp tại xóm Giáo, sau về họp ở chùa Yên Tự, hiện nay chuyển về cạnh đường quốc lộ 1A, xây dựng khang trang, buôn bán sầm uất.

3. Đông Tháp là trung tâm khoa bảng của huyện Diễn Châu. Theo thống kê, ở triều Nguyễn, huyện Diễn Châu có 16 tiến sĩ, 7 phó bảng, 79 cử nhân thì Đông Tháp có 1 tiến sĩ, 1 phó bảng và 6 cử nhân.

Thời kỳ cách mạng, vùng đất Đông Tháp cũng lưu giữ nhiều chứng tích lịch sử đấu tranh của người dân nơi đây. Đền Đông Tháp đã chứng kiến nơi hội họp bí mật của Chi bộ Đảng làng Đông Tháp những năm 1930-1931, lãnh đạo nhân dân đứng lên tranh đấu ở cầu Đìa Ngô, diễn thuyết ở Cồn Tranh, rải truyền đơn ở Điếm Cung (chợ Giàn) và treo cờ  búa liềm ở cây gạo Phát lát phía Nam chùa Bốn làm cho bọn lính Tây mất ăn mất ngủ. Trong cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945, đền là nơi thành lập và trở thành trụ sở của Ủy ban hành chính làng Đông Tháp. Những ngày đầu cách mạng, đền chùa được sử dụng làm lớp dạy bình dân học vụ, tổ chức mít tinh, biểu diễn văn nghệ, tiễn lớp lớp thanh niên lên đường nhập ngũ... Mỗi dấu chân thăng trầm trên mảnh đất cách mạng này đều thấm sâu mồ hôi, máu và nước mắt, quyện chặt với không gian dòng chảy của lịch sử văn hóa truyền thống đầy tự hào./.

 

LÀNG TRUNG CẦN

VỚI NHỮNG VỊ QUAN TÀI ĐỨC, THANH LIÊM

TS. Hồ Bá Quỳnh

1. Làng Trung Cần có họ Nguyễn Hữu (Văn) có 3 đời là anh em, cha con, ông cháu đều đậu Trung khoa và Đại khoa. Nguyễn Hữu Dực đỗ Cử nhân năm 1825. Nguyễn Văn Giao (em của Nguyễn Hữu Dực) đậu Giải nguyên năm 1852. Năm Tự Đức thứ 6 (1853), ông thi Hội đậu Đình nguyên đệ nhất giáp cập đệ tam danh (Thám hoa), làm quan tước Quang Lộc Tự Khanh, có nhiều trước tác. Hiện nay, chắt của ông là Nguyễn Thế Đạt cùng với Câu lạc bộ Hán Nôm Nghệ An đã sưu tầm, dịch cuốn "Đạm Như Thi Thảo", Nhà xuất bản Nghệ An in năm 2011 và tiếp tục sưu tầm những trước tác khác của ông. Nguyễn Hữu Lập (con của Nguyễn Hữu Dực, cháu gọi Nguyễn Văn Giao bằng chú) 3 lần đậu Tú tài, năm Tự Đức thứ 3 (1850) đậu Giải nguyên, năm 1862 đậu Hoàng giáp. Ông đã 2 lần làm chính chủ khảo trường thi Hương của đoàn sứ bộ triều đình sang nhà Thanh Trung Quốc, khi về được thăng Tham tri Bộ binh. Nguyễn Hữu Quang (cháu nội của cử nhân Nguyễn Hữu Dực) đậu Cử nhân năm 1906.

Những làng lân cận với Trung Cần như làng Hoành Sơn có Nguyễn Đức Đạt và Nguyễn Đức Quý là cháu họ Nguyễn Văn Giao ở làng Trung Cần. Nguyễn Đức Đạt đậu Đình nguyên Thám nhất; Nguyễn Đức Quý đậu Hội nguyên - Hoàng giáp; Nguyễn Đức Vận đậu Phó bảng; Nguyễn Đức Hiển (cha của Nguyễn Đức Đạt) đậu Cử nhân; Nguyễn Đức Diệu, Nguyễn Đức Dương (con Nguyễn Đức Đạt) đậu Cử nhân; Nguyễn Đức Ký (cha Nguyễn Đức Vân) đậu Cử nhân. Nguyễn Đức Đạt làm quan giữ nhiều chức vụ quan trọng, khi Vua Hàm Nghi xuất binh, ông được giao làm Thượng thư bộ lại kiêm Tổng đốc An Tĩnh. Cả Nguyễn Đức Đạt và Nguyễn Đức Quý đều tham gia chống Pháp dưới triều vua Hàm Nghi.

Có thể khẳng định dòng họ Nguyễn Văn ở làng Trung Cần và Nguyễn Đức ở làng Hoành Sơn là một họ nhưng chưa biết gốc ở Trung Cần sang Hoành Sơn hay Hoành Sơn sang Trung Cần? Vấn đề này cần được các nhà sử học tìm hiểu. Nhưng dòng họ Nguyễn Văn, Nguyễn Hữu, Nguyễn Đức là một dòng họ có nhiều vị quan tài đức thanh liêm, có công lớn với quê hương đất nước, cần phải có một sự đầu tư thời gian nghiên cứu thêm.

2. Họ Lê ở làng Trung Cần cũng có 4 đời cha con, anh em, ông cháu trong đại gia đình liên tiếp thi đậu Trung khoa và Đại khoa, đều có tiếng là những ông quan thanh liêm, tài đức. Đó là: Lê Nguyên Huệ (Nguyên Trung) đậu Cử nhân năm 1813, đã giữ nhiều chức quan, sau làm đến chức Tuần phủ tỉnh Phú Yên, hộ lý Tổng đốc Bình Định. Ông là cha của Lê Nguyên Thứ, Lê Nguyên Khai đậu Cử nhân năm 1841; là ông Lê Bá Đôn đỗ Cử nhân năm 1867;

3. Họ Nguyễn Trọng làng Trung Cần là dòng họ có nhiều mặt nổi trội hơn cả.

- Ba đời cha con ông cháu đều đậu Tiến sỹ. Đời ông là Nguyễn Trọng Thường đậu Tiến sỹ năm 1712 đời vua Lê Dụ Tông, học rộng biết nhiều, làm quan đến Lại bộ thị lang tước Quận công, được cử đi sứ nhà Thanh. Đời cha là Nguyễn Trọng Đương (Đang) đậu Tiến sỹ năm 1769 thời Lê Hiển Tông nối nghiệp cha là Nguyễn Trọng Thường cũng được đi sứ sang nhà Thanh làm Phó sứ, được phong tước Hầu. Đời con là Nguyễn Trọng Đường, là cháu đích tôn của Tiến sỹ Nguyễn Trọng Thường, đậu Tiến sỹ năm 1779 đời Lê Hiển Tông, cũng được nhà vua cử đi sứ nhà Thanh, là người đứng ra xây dựng đình Trung Cần vào năm 1781-1782; Nguyễn Trọng Võ làm quan đến bậc Tham Tri dưới triều Minh Mệnh cũng được nhà vua 2 lần cử đi sứ nhà Thanh.

- Ba đời họ Nguyễn Trọng ở Trung Cần được nhà vua và triều đình cử đi sứ 5 lần: Đời 1: Nguyễn Trọng Thường đi sứ 1 lần; Đời 2: Nguyễn Trọng Đương đi sứ 1 lần; Đời 3: Nguyễn Trọng Đường đi sứ 1 lần, Nguyễn Trọng Võ đi sứ 2 lần.

Hiện nay, trong nhà thờ họ Nguyễn Trọng ở làng Trung Cần đang còn bức hoành phi, tương truyền do vua Thanh đề tặng với nội dung "Tam thế Ngũ Hoàng Hoa", nghĩa là ba đời có năm lần được mặc áo sứ giả có hoa vàng.

Ở làng Thổ Thành, nay là xã Thọ Thành, huyện Yên Thành cũng có ba cha con ông cháu Hồ Tông Thốc, Hồ Tông Đốn, Hồ Tông Thành đều đậu Trạng Nguyên đời Trần cho nên dân gian có câu: "Một nhà ba Trạng nguyên ngồi/ Tấm gương từ mẫu cho đời soi chung". Nhưng chỉ có ông Hồ Tông Thốc được triều đình cử đi sứ một lần. Như vậy, ba đời (cha con, ông cháu) mà được triều đình cử đi sứ năm lần thì ở Nghệ An chỉ có họ Nguyễn Trọng ở Trung Cần. Đó quả là một điều xưa nay hiếm, rất đáng nể trọng./.

Tài liệu tham khảo

 

1. Nam Đàn xưa và nay, nhiều tác giả, Nxb Văn hóa Thông tin, 2000.

2. Nghệ An ký, Bùi Dương Lịch, Nxb Khoa học xã hội, 2004.

3. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nguyễn Quốc Thắng, Nguyễn Bá Thế, Nxb Văn hóa thông tin,1999.

4. Từ điển nhân vật xứ Nghệ, PGS. Ninh Viết Giao, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2008.

5. Khoa bảng Nghệ An, Đào Tam Tĩnh, Nxb Nghệ An, 2005.

6. Đạm Như thi thảo, Thám hoa Nguyễn Văn Giao do Nguyễn Thế Đạt, Nguyễn Hoa Lê, Nguyễn Xuân Lịch, Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Hữu Lý, Nguyễn Hữu Yên - CLB Hán Nôm Nghệ An sưu tầm và dịch, Nxb Nghệ An, 2011.

7. Thi cử, học vị, học hàm dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, Đinh Văn Niêm, Nxb Lao động, 2011.

8. Địa lý các huyện, thành phố thị xã, tỉnh Nghệ An, Trần Kim Đôn, Nxb Nghệ An, 2003.

9. Nghệ An - di tích danh thắng, nhiều tác giả, Sở Thông tin và Truyền thông Nghệ An, 2001.

10. Danh nhân Nghệ An, nhiều tác giả, Nxb Nghệ An, 1998.

11. Tạp chí Xưa và Nay của Hội lịch sử Việt Nam và một số báo, tạp chí có nói đến người họ Nguyễn Trọng, Nguyễn Văn, Nguyễn Hữu, Nguyễn Đức Nam Đàn Nghệ An.

 

 

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ KIẾN TRÚC

VÀ HỆ THỐNG HOA VĂN CHẠM KHẮC ĐÌNH TRUNG CẦN

Thu Vân

1. Đình Trung Cần tọa lạc cạnh đường liên hương, rất thuận tiện cho giao thông đi lại, quy tụ phát triển kinh tế, văn hóa… Đình hướng mặt về phía Nam, có tường cao quá đầu người, bao bọc bốn bề sân vườn, tiện cho mọi người ngồi xem hội hè, đình đám diễn ra trong sân đình. Phía trước cửa đình, cách khoảng 60m là lăng mộ Tiến sĩ Tống Tất Thắng, quê ở Trung Cần, đậu Tiến sĩ khoa Ất Sửu - niên hiệu Đoan Khánh 1 (1505), làm quan đến Hành khiển, Thượng thư, khai đại khoa cho làng Trung Cần, có công lớn trong việc bảo vệ biên cương phía Tây của đất nước. Đối diện lăng là trang "chùa Kẹ" trông như một trang sách được mở ra. Gần đó là cồn đất có hình thù "cây bút", lại có giếng Lối tượng trưng cho "nghiên mực", thật là nơi địa linh và có khí thiêng sông núi một vùng.

Đình được xây dựng vào cuối triều Lê. Hai đường thượng trong đình có khắc ghi niên đại: "Tân Sửu hạ kính thủy/ Nhâm Dần xuân hoàn thành" (Mùa hạ năm Tân Sửu - 1781 khởi công/ Mùa xuân năm Nhâm Dần - 1782 hoàn thành). Đình là một công trình kiến trúc văn hóa nghệ thuật bề thế, cổ kính, tinh tế… biểu hiện nhận thức thẩm mỹ, trình độ kỹ thuật cao của người thợ và nhân dân làng xã trong vùng.

Tiến sĩ Nguyễn Trọng Đường, họ Nguyễn Trọng Trung Cần là người khởi xướng đã cùng nhân dân xây dựng nên đình Trung Cần. Triều đình đã cho phép dân làng được khai thác gỗ lim ở rú Tràm, khe Su và các vật liệu tại chỗ theo bản tấu xin phép của Nguyễn Trọng Đường để làm đình. Các địa danh, dấu tích như "lò Ngói", "lò Gạch", "đồng Cựa" với nhiều giai thoại, thần thoại, ca dao, tục ngữ, hát ví… ngợi ca công việc xây dựng đình còn lưu lại đến ngày nay. Bài vè làm đình Trung Cần có câu: "Được ba ông quan mới/ Xã mừng hơi hởi/ Xã cất đình lên..."(1). "Ba ông quan mới" ở đây là ba Tiến sĩ họ Nguyễn Trọng sinh ra ở đất Trung Cần: Tiến sĩ Nguyễn Trọng Thường đậu khoa Nhâm Thìn (1712); Nguyễn Trọng Đương, con Trọng Thường đậu khoa Kỷ Sửu (1769); Nguyễn Trọng Đường, cháu nội Trọng Thường, gọi Trọng Đương là chú, đậu khoa Kỷ Hợi (1779). Dòng họ Nguyễn Trọng vừa chủ xướng, vừa có đóng góp quan trọng cả về tinh thần và vật chất cho việc xây dựng đình, với ý tưởng làm đình phải có quy mô to đẹp, tương xứng với cả vùng.

Đình Trung Cần và lăng mộ Tiến sĩ Tống Tất Thắng đã được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch cấp Bằng công nhận là Di tích Lịch sử - Kiến trúc - Nghệ thuật cấp Quốc gia (Quyết định ký ngày 12/1/1996).

2. Đình Trung Cần là một công trình kiến trúc nghệ thuật, lịch sử, văn hóa đặc sắc của xứ Nghệ và đất nước. Qua kết cấu, bài trí các họa tiết hoa văn, các bức tranh chạm trổ trong đình đã nói lên tài hoa, tư tưởng thời đại của tác giả khởi xướng và những người tham gia xây dựng đình.

Tam quan (cổng đình) có hai cột nanh cao vút, trên đầu là hai "con nghê" bằng gốm đất nung đối diện nhìn nhau, với hình dáng, văn vây, móng vuốt chi tiết mềm mại, tinh tế, mang đặc thù của linh vật Việt thời Lê Trung Hưng. Mặt ngoài và trong tam quan có các đại tự, câu đối, tiêu biểu như: Càn khai khôn cáp (Trời mở toang, đất khép kín); Nhật chiếu nguyệt lâm (Mặt trời chiếu rạng, mặt trăng soi trong); Vân hành vụ thí (Mây lùa bay, mưa rơi xuống); Hải án hà thanh (Biển lặng, sông trong).

Hay: 笠峰筆陣臨前秀/ 藍水文瀾引後長

Lạp phong bút trận lâm tiền tú/ Lam thủy văn lan dẫn hậu trường

(Tạm dịch: Núi Lạp Phong như bút trận dương lên phía trước thật đẹp/ Dòng Lam Giang tựa bài văn truyền mãi về sau thêm dài).

Vườn đình có diện tích tới 1.750m2. Sân đình rộng bằng ½ vườn đình, mặt bằng phẳng, cỏ xanh mượt mà, có sức chứa tới hàng nghìn người ngồi. Trong vườn có bia ghi sự tích đình và công lao tên tuổi những người góp công, của, ruộng đất cho việc xây đình gọi là "Nghĩa điền bi ký". Hiện nay, tại sân đình còn có các tấm bia đá khác, trong đó có cả bia văn khoa của tổng Nam Kim, ghi tên những người đỗ đạt đại khoa và trung, tiểu khoa của cả vùng.

Ngôi đình oai nghiêm, guột mái cong. Trên nóc có mô hình "Lưỡng long triều nguyệt" (hai rồng chầu mặt trăng). Cũng như những con rồng đúc đất nung, những con nghê, sấu "kỳ lân" đa dạng chạy dài trên các đường lưng chừng, các góc mái đến tận mái, nối tiếp là những "chim phượng" cất cánh như chực bay lên trời. "Long, ly, quy, phượng" là những mô hình tượng trưng bốn con vật linh thiêng, tất cả bằng đất nung, đường nét tinh tế, mang thần sắc sống động, tôn nghiêm, cổ kính. Nền đình lát gạch cỡ vuông gần 1m2, loại gạch nung chín đỏ, các đế cột là những tảng đá thanh xanh bóng.

Cột cửa nanh có các đôi câu đối ca ngợi cảnh đẹp, địa khí linh thiêng một vùng, tiêu biểu như:

遶朝東海南山千今福壽/ 環拱藍江鴻嶺萬古高清

Nhiễu triều Đông Hải, Nam Sơn thiên kim phúc thọ/ Hoàn củng Lam Giang, Hồng Lĩnh vạn cổ cao thanh.

Tạm dịch: Biển Đông, núi Nam vây quanh, quây chầu ngàn đời nay phúc thọ/ Dòng Lam, đỉnh Hồng bao bọc, bủa giăng muôn thuở còn xanh cao.

一方雄鎮地維五花英秀/ 四望屹擎天柱三氣鍾靈

Nhất phương hùng trấn địa duy ngũ hoa anh tú/ Tứ vọng ngật kình thiên trụ tam khí chung linh.

Tạm dịch: Hùng trấn một phương bên đất Ngũ Hoa anh tú/ Cao vời bốn phía trụ trời ba khí linh thiêng.

Đình Trung Cần gồm 5 gian, với 3 gian chính, 2 gian phụ, chiều dài 30m, chiều ngang 16m; 6 vì gồm 24 cột lim, kết cấu kiểu tứ trụ, mỗi cột cao 8m, chu vi 1,5m. Gỗ lim vốn được khai thác từ rú Tràm xưa kia.

Bức hoành phi gian giữa đình chạm nổi khắc ghi 5 chữ Hán, kiểu chữ chân: 聖弓萬萬 "Thánh cung vạn vạn tuế" (Cung Thánh muôn muôn năm).

Một hương án lớn bày giữa đình, có hai "con hạc" đứng trên lưng hai con rùa lớn, chầu hai bên hương án. Hai đầu có hai bục bệ lim hình sân khấu đối nhau.

Nối tiếp sau đình là một đình nhỏ hơn, có biển khắc chạm lộng ba chữ Hán "Đại Thành Miếu" (Miếu thờ Khổng Tử). "Đại Thành Miếu" do Tổng đốc Lê Nguyên Trung khi về hưu cùng dân làng dựng thêm. Khi Tự Đức biết đình Trung Cần rất nguy nga, tráng lệ, đẹp nhất vùng, có ý định bắt thợ Trung Cần dỡ đình về xây cung điện Thái Hòa ở kinh đô Huế, thì Lê Nguyên Trung tâu lên: Trung Cần không có đình, chỉ có "Đại Thành Miếu". Nhà vua vốn rất sùng bái Khổng Tử, nên không dỡ đình Trung Cần nữa. Thợ Trung Cần đều thoát nạn, đình Trung Cần được giữ nguyên. Phần trùng tu có thêm: "Đại Thành Miếu" từ đó.

Trống đình treo trên bục giá gỗ lim, ở chái bên trái, đường kính mặt dài gần 2m, phải dùng cột gỗ và dây dật thay dùi trống để đánh. Ngày hội hè, trống đình vang lên giục giã, rộn ràng trong vùng. Những ngày bắt phu, bắt lính, thu thuế, cứu hỏa, chống lụt, chống giặc cướp…, trống đình nổi lên như sấm rền nên dân gian lưu truyền câu: "Khái ngàn Hống/ Trống Trung Cần" (Hồng Lĩnh hổ nhiều, lớn/ Còn trống Trung Cần to nhất vùng)(2).

Thuở xưa, lúc hạn hán kéo dài vô phương cứu chữa, thì nhân dân 21 xã thôn tổng Nam Kim đã rước thần Thành Hoàng của họ về hội tụ tại đình Trung Cần tế lễ. Lễ cầu đảo (cầu mưa) đã trở thành ngày hội lớn, lễ lớn. 20 kiệu làng đẹp nhất về quây quần bên "kiệu long đình" lớn nhất của Trung Cần và "Đình Trung Cần, thần hàng tổng" đã thành câu đầu cửa miệng, hàng ngàn, hàng vạn lượt người đến xem đình Trung Cần(3).

Tất cả 12 kèo trước và sau hồi đều được chạm trổ tinh tế: Mỗi góc trên xà (đầu dư) đều có một "con rồng ổ". Tám con rồng ổ là 8 đường gỗ tròn được chạm lộng đầu rồng, cuộn tròn thu hình trong góc mái, đầu thò ra khoảng không miệng ngậm ngọc, nanh vút, vẩy vi mềm mại, đường nét kín đáo, uyển chuyển như thực như mơ, đường nét rất thanh thoát mà phức tạp, vừa nổi, vừa chìm. Các đường Hạ, Thượng đều được chạm nổi "mây, mưa, lá đề, cành tùng, cúc, trúc, mai". Tất cả được xếp đặt tạo hình, tạo dáng, tinh tế, hài hòa, thể hiện kỹ thuật chạm mộc đến mức điêu luyện.

Trên nách bốn bề trong khung mái đình có 24 bức tranh khắc gỗ nổi (cỡ 80x60cm), là những kỳ công của điêu khắc cổ. Những mô hình điển tích Trung Hoa được chạm khắc là các cảnh vua Thuấn đi cày ở núi Lịch Sơn, vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn ở Hoàng cung, vượt biển bằng thuyền trong giông bão… Ngoài ra còn có những cảnh sinh hoạt dân gian địa phương rất sinh động như: Tiến sĩ về làng, người đánh đàn, trẻ chăn trâu thổi sáo, mẹ cho con bú, trai gái giã gạo, vui đùa hồn nhiên, tranh người đánh cờ, cảnh đọc sách ngâm thơ, phi ngựa chiến qua làng…

24 bức phù điêu được chạm ở xà nách, tính từ đầu chái bên trái tận đường phía trước là số 1, đi ra sau vòng lại phía trước giáp số 1 là số 24, cụ thể:

* Bức 1: Chạm các bức chữ trích trong sách "Tam tự kinh" lấy tích ông họ Đậu ở Yên Sơn giáo dưỡng cho cả 5 người con trai đều thành đạt, nổi tiếng: "Đậu Yên Sơn, hựu nghĩa phương, giáo ngũ tử danh câu đương". Mong muốn của tác giả khởi xướng xây dựng đình nhằm khuyên mọi nhà chú trọng việc giáo dục con cái, tôn trọng chữ Nho, cũng là tư tưởng Nho học của dòng họ Nguyễn Trọng.

安山五桂

Yên Sơn ngũ quế (5 cây quế núi Yên Sơn).

靈椿一珠老

Linh thung nhất châu lão (Có 1 ông già núi Linh Thung).

丹桂五枝香

Đan quế ngũ chi hương (Giáo dục 5 người con trưởng thành để lại một tiếng thơm).

竇嚴觀天久

Đậu nghiệm quan thiên cửu (Ông già họ Đậu ngẩng mặt trông trời cao).

* Bức 2: Chạm một mâm rượu có 2 người đang ngồi uống và một bàn cờ tướng có 2 người ngồi đánh, có thêm đôi câu đối:

局外乾坤小/ 壺中日月長

Cục ngoại càn khôn tiểu/ Hồ trung nhật nguyệt trường

Tạm dịch: Khi cờ đương cuộc trời đất cũng nhỏ/ Lúc rượu đầy be ngày tháng thêm dài.

* Bức số 3 và 4: Chỉ chạm trúc hóa.

* Bức số 5: Chạm tích Văn vương, Lã Vọng và Y Doãn canh tân, thương sứ xuất cảnh (Ông Y Doãn đang đi cày, sứ giả nhà vua ra tận ruộng mời về cung vua).

Lã Vọng họ Khương, tự Tử Nha, tổ tiên có công được phong ở đất Lã, nên lấy họ là Lã. Ông sống một cuộc đời cùng khốn cho đến lúc già hơn 70 tuổi vẫn phải đi câu cá để sinh sống. Chu Văn Vương đi săn về phương đông và gặp Lã Vọng câu cá ở mé sông Vị, cùng nói chuyện và lấy làm hợp ý lắm, bèn nói: "Từ Thái công tiên quân của ta có nói: Hiện có Thánh nhân đến giúp nhà Chu, nhà Chu sẽ hưng thịnh. Chính ngài là Thánh nhân đó chăng? Vua cha ta trông mong ngài đã lâu lắm rồi đó" vì vậy mà đặt tên hiệu cho ông là Thái Công Vọng (người vua cha trông mong). Văn Vương mời Lã Vọng lên ngồi cùng xe rước về kinh, phong làm thầy. Lã Vọng giúp Văn Vương và con là Vũ Vương dựng nghiệp lớn nhà Chu. Tương truyền ông có soạn bộ binh thư Lục thao.

Y Doãn tướng đời nhà Thương, Trung Quốc, tên Chí, cày ruộng ở đồng Hữu Sằn. Vua Thành Thang nhà Thương ba lần cho người đưa hậu lễ đến mời, Y Doãn mới chịu ra giúp. Ông có công to giúp vua Thang đánh vua Kiệt, diệt nhà Hạ, dựng nghiệp nhà Thương, được tôn giữ chức A hành. Ông luôn luôn tự xem mình có trách nhiệm gánh vác việc thiên hạ. Khi mất được chôn ở cạnh lăng vua Thang(4).

* Bức số 7: Phượng hàm thư (Chim phượng ngậm bao thư) và Trận đồ bát quái, tứ linh.

* Bức số 8: Tam hựu, tùng, trúc, mai (Trong bộ tứ quý: Tùng, cúc, trúc, mai).

* Bức số 9: Chạm chữ Phụng thần linh; bức tranh: đình, hương án, bệ thờ, giá binh khí, hạc, cờ quạt (Trong bộ bát bửu).

* Bức số 10: Chạm Thành Thang sảnh Y Doãn (vua Thành Thang mời ông Y Doãn về sảnh đường nói chuyện); vua Thành Thang cưỡi ngựa, sứ giả cũng cưỡi ngựa.

* Bức số 11 có 2 cảnh:

博舉所  Bác cử sở (Nơi tuyển chọn nhân tài)

商山四皓 Thương Sơn tứ hạo (4 ông già núi Thương lo vận nước nhà Hán suy, ngồi khóc)

* Bức số 12: Trúc hóa

* Bức số 13 có 2 cảnh:

- Sĩ và Vân tụy đường (nhà dạy học), có 5 học trò và thầy đang dạy học.

- Nông: 1 nông dân có 1 cái cày, 1 con trâu, 2 kho lúa và đề chữ: 珍珠 Trân châu (ngọc quý). Lại chạm một đôi trai gái đang giã gạo chày tay, một người phụ nữ vừa sàng gạo, vừa cho con bú.

* Bức số 14 có 2 cảnh:

- Công: chạm 4 người, 2 người thợ đang dựng nhà, 2 người ngồi xem đang uống rượu.

- Thương: chạm 1 chiếc thuyền buồm, buồm căng sóng to, người đứng đầu mũi, người đứng đầu lái.

Cả hai bức 13 và 14 gộp lại mang ý nghĩa là Tứ dân (tức: sỹ, nông, công, thương) - 4 nghề chính trong xã hội lúc bấy giờ.

* Bức số 15: Trúc hóa.

* Bức số 16: Chạm Quần tiên vi cơ (một bầy tiên đang bay), có 5 cô tiên có cánh và một tiểu đồng với 1 ngựa.

* Bức số 17: Chạm Văn Vương nghinh Thái Công (vua Văn Vương đón Thái Công vào cung); hình Thái Công đang ngồi trên phiến đá, đứng sau có lão bộc vác quạt đứng hầu. Vua Văn Vương áo mũ chỉnh tề, xuống xe ngựa có tàn quạt che, đi bộ đến giữa cầu, phía trước có sứ giả đang quỳ tâu trước Thái Công.

* Bức số 18: Tam hựu, tùng, trúc, mai; trúc hóa phượng, phượng đậu trên cành trúc; liên quy (sen rùa); long vân (rồng mây).

* Bức số 19: Tứ linh: long, ly, quy, phượng; phượng hàm thư (phượng ngậm bao thư báo tin vui).

* Bức số 20: Chạm 1 ông tiên cưỡi phượng lên mây; Lưỡng long tranh châu; Long, ly, phượng.

* Bức số 21: Chạm Kỵ xạ ưu trúng (Cưỡi ngựa bắn cung trúng đích). Có ba ông ngồi ở 3 tòa nhà nhỏ đang quan sát một người mang cung chuẩn bị bắn, bên cạnh có 2 người xem, 1 người xuống ngựa; ở xà nách chạm mai hóa long vân.

* Bức số 22: Chạm Hâm bảng liên đăng (Xướng danh khoa bảng). Có một nhà 2 lầu, trên có 4 chữ; có 7 người (3 già, 4 trẻ) ngồi trong nhà, 1 người xem sách, 1 người đứng canh gác và thêm 1 tướng 1 voi.

* Bức số 23 và 24: Chạm trúc hóa, mai hóa.

 Tất cả ở 24 bức chạm và ở các cột bồng nhỏ, các đấu ở xà nách đều chạm nhiều cảnh sinh hoạt, hoa văn tứ quý, tứ linh, như "vinh quy bái tổ", long, ly, voi, ngựa, sen, rùa… Tiêu biểu: 8 ổ rồng 10 con, 3 hóa phượng; 1 lưỡng long triều nguyệt; 6 lèo lá hóa phượng; 2 rồng ở 2 kẻ giữa phía sau; 4 đầu rồng phía sau quân đầu; 1 đầu rồng, 3 long hóa phía phải 4 quân đầu; 3 rồng, 1 rùa ở 4 quân đầu phía trước; 4 xà thượng đều chạm rồng hóa… Toàn bộ các họa tiết hoa văn chạm khắc ở đình Trung Cần gợi lên một quang cảnh làng xã xa xưa, một làng có văn hóa, văn minh, vừa cổ kính, vừa dân dã, gần gũi, thân thiết, được bố cục hài hòa, đường nét điêu luyện, ý cảnh, thần sắc thực và ảo nói lên tài nghệ, tâm hồn nghệ nhân làng xã thuở xa xưa. Kết cấu kiến trúc và các họa tiết hoa văn ở đình mang đậm nét triết lý văn hóa dân gian sâu sắc của thời đại thế kỷ XVII-XVIII, có giao thoa trộn lẫn tư tưởng Nho - Phật - Lão (Tam giáo đồng nguyên).

3. Đình Trung Cần, một công trình văn hóa nghệ thuật bề thế, điêu luyện, một tác phẩm kiến trúc tuyệt xảo nhất vùng, cùng cụm đình Hoành Sơn, Dương Liễu đã có tiếng vang trong xứ Nghệ. Qua đây có thể thấy được năng lực giỏi của người khởi xướng xây dựng đình Trung Cần - Tiến sĩ Nguyễn Trọng Đường còn là một kiến trúc sư đại tài, tác giả của các ý tưởng uyên thâm, độc đáo, vượt lên thời đại.

 Biết bao đội "thợ mộc Trung Cần", "thợ nề Trung Cần" nổi tiếng đã sinh ra sau sự kiện xây đình Trung Cần. Nhiều lớp con em cũng từng sinh ra, lớn lên ở làng xã đã chiêm ngưỡng đình Trung Cần, được nuôi dưỡng, tiếp thu tinh hoa văn hóa nghệ thuật từ đình làng mà trở thành người nổi tiếng, như: Cử nhân, Tổng đốc Lê Nguyên Trung; Đình nguyên, Thám hoa Nguyễn Văn Giao; Giải nguyên, Hoàng giáp Nguyễn Hữu Lập; Tiến sĩ, Tri phủ Lê Bá Hoan; Phó bảng Nguyễn Tư Tái; Họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Trọng Trinh...

Biết bao danh nhân, tao nhân mặc khách trong vùng, khắp nơi đã in dấu chân, đến đây chiêm ngưỡng ngôi đình. Vua Quang Trung trên đường vời La Sơn Phu Tử, dự định lấy đình lập Sùng chính Thư viện nhưng sau lại thôi… Thi hào Tiên Điền Nguyễn Du những lần đến thăm thông gia Nguyễn Hữu đều đến thăm đình. Mùa xuân 1904, Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc cùng hai con Tất Đạt, Tất Thành trên đường thăm thành Lục Niên, đã ghé qua đây thăm đình Trung Cần(5).

Đình Trung Cần với kiến trúc độc đáo, với hệ thống các hoa văn, các bức họa chạm khắc mỹ thuật tinh tế, điêu luyện, là một công trình di sản văn hóa nghệ thuật quý còn lưu lại đến nay. Nó xứng danh là một trong những ngôi đình to đẹp nhất xứ Nghệ, cần được thường xuyên tu dưỡng bảo vệ, phục vụ cho việc giáo dục truyền thống con em các thế hệ trẻ của địa phương và đất nước./.

Chú thích

 

(1) Ninh Viết Giao, Kho tàng vè xứ Nghệ, Nxb Nghệ An, 1999-2000.

(2), (3), (5) Hồ Khải Đại, Hương xã Nam Trung, H. Nxb VH-TT, 1996.

(4) Lưu Lực Sinh, Từ điển điển cố Trung Hoa, H. Nxb VH-TT, 2002.

Và tham khảo bộ hồ sơ di tích đình Trung Cần…

 

 

 

ẨM THỰC XỨ NGHỆ TRONG TÂM THỨC BÁC HỒ

Hoài Thương

Trường Đại học Vinh

 

Món ăn thức uống của quê hương gắn bó với mỗi con người suốt cả cuộc đời. Bác Hồ của chúng ta cũng vậy, tuy xa quê từ nhỏ, nhưng càng sống xa quê thì những món ăn đơn sơ, dân dã của xứ Nghệ luôn ở trong tâm thức của Người. Bác nhớ quê hương qua bữa ăn hàng ngày, từ những món ăn giản dị của xứ Nghệ như: cà dầm tương, cá kho nghệ, nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn… Ẩm thực xứ Nghệ vì thế đã in đậm trong tâm thức của Người, góp phần hun đúc nên tâm hồn, lối sống giản dị và nhân cách cao đẹp Hồ Chí Minh.

 

1. Ẩm thực xứ Nghệ - nôi nuôi dưỡng tâm hồn và nhân cách Bác Hồ

Mặc dù xứ Nghệ hiện nay xét về mặt hành chính gồm hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, song từ xa xưa đã chung một dòng lịch sử, một dòng văn hóa và một dòng hương vị ẩm thực. Đặc điểm này cũng được tìm thấy trong tính cách người Nghệ, trong lối sống, ứng xử giữa con người với con người, và đặc biệt là trong sự sáng tạo các giá trị văn hóa ẩm thực. Các món ăn người Nghệ nói chung đều rất đậm đà, cay và nóng. Đó phải chăng do chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên, của mưa ngàn, lũ quét, của gió Lào, nắng cháy... mà hình thành và định hình nên đặc trưng riêng.

Đặc điểm địa lý tự nhiên của xứ Nghệ là núi rừng và đồng bằng xen kẽ với nhau cho đến sát bờ biển. Thế nên văn hóa ẩm thực xứ Nghệ có sự kết hợp các sản phẩm của núi rừng, đồng bằng và duyên hải, không "xa rừng, nhạt biển" như vùng châu thổ Bắc Bộ. Thiên nhiên xứ Nghệ tạo cho nơi đây có sự đa dạng về chủng loài động thực vật nhưng lại ít về số lượng. Bởi vậy, để đáp ứng đủ nhu cầu ăn uống để tồn tại, con người phải tận dụng hết nguồn nguyên liệu sẵn có và từ một nguyên liệu có thể sáng tạo ra nhiều món ăn khác nhau.

Trong ẩm thực ngày thường, ngày lễ cũng như các món quà đặc sản, ở mỗi không gian văn hóa đều có đặc điểm chung và những nét riêng. Chẳng hạn, bưởi Phúc Trạch (huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh) có chất lượng ngon nhất khi được trồng ở 4 xã Phúc Trạch, Lộc Yên, Hương Đô, Hương Trạch. Khi đưa giống bưởi này sang vùng đất khác thì chất lượng đã giảm rõ nét; cam Xã Đoài nếu đưa ra khỏi vùng đất Xã Đoài (xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An) thì mùi hương đã giảm, có khi bên này sông, bên kia sông đã không trồng được loại cam ngon này rồi (xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên cách Xã Đoài - xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc con sông Nguyễn Trường Tộ)… Đó là do ảnh hưởng tác động từ nhân tố đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu... của mỗi vùng quê quyết định đến chất lượng các đặc sản của địa phương.

Sự phát triển kinh tế - xã hội từ cái nôi của một đô thị Vinh phát triển trong lịch sử cũng là nhân tố quan trọng góp phần giữ gìn, phát triển và nâng cao giá trị các món ăn dân dã, thôn quê thành các món ăn phục vụ tầng lớp thị dân, trở thành món ăn/món quà đặc sản. Trong thời kỳ Pháp thuộc, "cảnh đói khổ của dân nghèo tương phản với cảnh xa hoa, đài các của thực dân Pháp, của quan lại, địa chủ, thương gia, cảnh tan hoang, chết chóc của những vùng bị khủng bố, cùng những chuyển biến ở thị xã Vinh đã giúp Nguyễn Tất Thành rút ra những kết luận bổ ích đầu tiên về xã hội" [1]. Sự phát triển của đô thị Vinh trong lịch sử có tác động đến sự hình thành đặc trưng ẩm thực xứ Nghệ. Từ sự khó khăn, khắc nghiệt do điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử và sự nghèo khổ của đời sống người dân, cho thấy diện mạo ẩm thực xứ Nghệ phát triển đa sắc. Không dừng lại ở các món tương, cà, nhút... của tầng lớp bình dân mà còn có các món đặc sản của tầng lớp thị dân như cháo lươn Vinh, cam Xã Đoài..., được chọn lọc, nâng tầm giá trị bởi vai trò của trung tâm Vinh.

Như vậy, những yếu tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội đã tạo nên bức tranh văn hóa ẩm thực đa dạng, mang đậm bản sắc dân tộc của xứ Nghệ. Bác Hồ - một người con ưu tú, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất xứ Nghệ đã được nuôi dưỡng tâm hồn, nhân cách trong bức tranh văn hóa ẩm thực đặc sắc đó.

Mặt khác, sự phong phú trong hoạt động sản xuất kinh tế và tính cần cù, chịu khó, can trường của người Nghệ đã có tác động và ảnh hưởng rất lớn đến đặc trưng văn hóa ẩm thực nơi đây. Trước thiên nhiên như vậy, người Nghệ từ bình dân cho đến kẻ sĩ đều phải sống cuộc sống chắt chiu, tằn tiện mới có thể duy trì cuộc sống. Và để sống tốt, con người phải lạc quan, yêu đời, tạo cho mình những giá trị văn hóa tinh thần và là bệ đỡ để nâng cao chất lượng cuộc sống. Chính trong nền cảnh đó, từ những món ăn dân dã, tầm thường nơi thôn quê, đã được người Nghệ trau chuốt, nâng cao chất lượng, giá trị tinh thần, trở thành món ăn đặc sản và thể hiện nét đặc thù trong văn hóa ẩm thực mà không địa phương nào có được.

Bữa ăn của người Nghệ ngày trước rất đơn giản, thậm chí kham khổ. Chất bột, chất rau là món chủ thể, các chất khác là để cho có vị mặn dễ nuốt. Chẳng hạn như: "Không có cá lấy rau làm bùi", "Ăn cơm với cà là nhà có phúc, ăn cơm với cá khúc là nhà có tội", hay "Nhà giàu ăn rau trừ bữa, nhà khó cũng đỏ lửa ba lần", "Khoai lang chạc, nác chè trâm (vối)"...

Món ăn thức uống của quê hương gắn với mỗi con người suốt cả cuộc đời. Những người con xứ Nghệ khi phải sống xa quê thì nhớ thương đến những món ăn đơn sơ, dân dã đã thấm vào máu thịt mỗi người từ thuở thiếu thời. Người ta không thèm thịt, cá hay những món cao lương mỹ vị mà thèm quả cà pháo Nghi Lộc muối mặn, miếng nhút chua, hay bát ruốc trỗi mùi ở Phủ Diễn… Trong món ăn đạm bạc có mùi vị ngọt ngào của quê hương, có tình mẹ nghĩa cha, sự đầm ấm đoàn tụ của gia đình, kỷ niệm tuổi thơ… Trong những món ăn là cái nghĩa, cái tình của đạo lý uống nước nhớ nguồn chứ không chỉ vì cái nhu cầu làm thỏa mãn cơn đói.

Văn hóa xứ Nghệ rất riêng, nên hương vị ẩm thực cũng rất riêng. Ẩm thực xứ Nghệ đậm đà, mộc mạc như tính cách người xứ Nghệ. Cái riêng của văn hóa ẩm thực xứ Nghệ nổi bật ở phong cách gia vị rất khác lạ. Người Nghệ kho thịt gà với một nắm hành tăm (một sản vật chỉ có ở các tỉnh Bắc Trung Bộ), vài cái lá chanh. Hay khi kho cá chỉ sử dụng một nắm xơ mít và nửa chén tương… Với sự thông minh và khéo léo, người phụ nữ xứ Nghệ đã biến những thứ tưởng như không thể ăn được thành món ăn lạ miệng, không nơi nào có như nham củ chuối, nhút mùng, nhút mít…

Đối với người dân Nghệ, quan niệm ăn uống của họ rất cần kiệm, dung dị. Sự khắc nghiệt của thời tiết, thiên tai đe dọa, đất đai cằn cỗi, mùa màng bấp bênh, tất cả những rủi ro đó đều làm cho người nông dân phải tằn tiện, chắt bóp. Chính vì vậy, nơi đây vẫn tương truyền về tích "cá gỗ", hoặc truyền miệng nhau bằng những lời nói lạc quan "Thịt cá là hương hoa, tương cà là gia bản". Với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt tưởng chừng sẽ khó để xây dựng một nền văn hóa ẩm thực khoe sắc đến thế, nhưng vượt lên tất cả, con người nơi đây, thiên nhiên nơi đây vẫn sản sinh ra những đặc sản nổi tiếng góp phần phong phú cho nền ẩm thực nước nhà như: chè Gay, kẹo Cu đơ, cà pháo Nghi Lộc, cháo lươn Vinh, cam Xã Đoài, bưởi Phúc Trạch...

Người Nghệ xa quê thường nhớ về hình ảnh một chiếc chõng tre, ấm chè xanh nóng hổi, bà con chòm xóm gọi nhau "nác mới", râm ran chuyện trò, thắt chặt tình làng nghĩa xóm. Từ miền xuôi lên miền ngược, từ Nghi Lộc, Nam Đàn, Đức Thọ, Can Lộc lên Anh Sơn, Đô Lương, Thanh Chương, Hương Khê..., ở đâu nước chè cũng là "đầu câu chuyện", là thứ không thể thiếu trong mỗi gia đình, làng quê xứ Nghệ. Chè xanh vốn là sản phẩm của trồng trọt, là thành quả của người nông dân cả nước, nhưng chỉ có ở quê Nghệ mới có phong tục "uống nước chè chát", mới trở thành nét văn hóa đặc sắc ăn sâu, bén rễ trong lòng mỗi người dân nơi đây.

Cũng là "cơm + rau + cá (thủy sản) + thịt", nhưng ở xứ Nghệ chúng ta bắt gặp yếu tố "rau" nổi bật hơn hết. Rau đã trở thành thực phẩm chính ăn cùng với cơm và cá + thịt trở thành món phụ: "Thịt cá là hương hoa, tương cà là gia bản". Rau được người Nghệ sáng tạo và chế biến thành nhiều món ăn trở thành linh hồn, biểu tượng trong văn hóa ẩm thực Nghệ: "Rau tập tàng thì ngon, con tập tàng thì khôn". Rau ở xứ Nghệ là nguyên liệu tận dụng tất cả các sản phẩm thực vật ăn được để chế biến thành món rau ăn cùng với cơm. Từ những nguyên liệu đó có thể luộc, xào, nấu canh, muối dưa/ nhút… Một số món rau/dưa phổ biến ở xứ Nghệ nhưng lại ít thấy ở các địa phương khác như: ngọn đỗ, vỏ chuối, rau tập tàng (rau vặt), dọc mùng muối…

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể thấy: cơ cấu bữa ăn của người xứ Nghệ cũng giống như cơ cấu bữa ăn của người Việt nói chung và trội lên yếu tố thực vật. Song, trong việc sử dụng nguyên liệu để sáng tạo ra nhiều món ăn khác nhau, người Nghệ biết tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có để sáng tạo ra đặc trưng văn hóa ẩm thực riêng, không giống với địa phương nào trong cả nước.

Và phải chăng, chính sự dung dị trong lối ẩm thực, rất tinh khéo, thông minh trong sự lựa chọn nguyên liệu, việc tận dụng tối đa phần ăn được của nguồn nguyên liệu để chế biến món ăn, ứng xử trọng nghĩa tình của người Nghệ trong ăn uống... đã trở thành môi trường xã hội truyền thống, góp phần quan trọng hun đúc nên một Hồ Chí Minh có tâm hồn và lối sống giản dị trong ăn mặc và ứng xử, thể hiện mẫu hình nhân cách cao đẹp của người Việt Nam.

2. Những món ăn xứ Nghệ trong tâm thức của Bác

Mảnh đất xứ Nghệ không thuận lợi cho con người mưu sinh, tồn tại, phát triển và làm giàu. Bởi thế, từ xưa những thế hệ học trò người Nghệ đã phải "học gạo", học để có cái ăn, cái mặc, để vượt ra khỏi thực tại khó khăn. Cái nghèo, cái đói không làm nản chí những con người nơi đây. Họ ăn "cá gỗ", uống nước chè xanh... để mong đậu đạt làm quan giúp dân, giúp nước. Học trò Nghệ trước đây ra Kinh Kỳ để tỏa sáng tài năng thì ngày nay cũng vươn xa ra thủ đô và các thành phố lớn để xây dựng cơ đồ. Trong hành trang họ mang theo chỉ là cái chữ, là trí óc, là sự sáng tạo và trong tiềm thức của họ là những nhút, những cà, những khoai, những mắm… Đó cũng là tình cảm của những con người đã thành đạt khi hướng về quê hương.

Ở xứ Nghệ, từ xa xưa đã có câu: "Nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn". Người xứ Nghệ dẫu có đi xa vẫn luôn nhớ về quê hương, nhớ cái hương vị đậm đà của tương được chắt chiu từ những hạt đậu trên mảnh đất Nam Đàn thân thương: "Ai về ăn nhút Thanh Chương/ Dừng chân nếm thử vị tương Nam Đàn".

Tình cảm của Bác với quê hương xứ Nghệ còn được thấy trong những câu chuyện giữa Bác và những người thân. Ngày 27/10/1946, bà Nguyễn Thị Thanh từ Nghệ An ra Hà Nội thăm Bác. Trong lần gặp này, Bác đã nói với bà Thanh: "Chị ơi, quê hương nghĩa nặng ơn sâu, mấy mươi năm ấy biết bao nhiêu tình...". Bác còn nói: Tuy xa quê lâu, nhưng Bác vẫn nhớ hàng dâm bụt, dãy chè xanh, đến tương, món cá khô, đến hát dặm Nghệ - Tĩnh... Tình cảm của Bác với bà Thanh cũng chính là tình cảm của Bác với quê hương xứ Nghệ.

Trong tâm thức Bác Hồ, những món ăn xứ Nghệ đã gắn với tâm hồn tính cách người Nghệ, trong đó Bác là người xa quê rất lâu nhưng luôn nhớ về quê hương qua hình ảnh những món ăn xứ Nghệ. Bác còn hỏi: Chợ Sa Nam bây giờ còn đông vui nữa không? Bác nhớ: "Sa Nam trên bến dưới thuyền/ Bánh đúc hai dãy, thịt bò mê thiên".

Nhân dịp ra thăm Bác, bà Thanh đã mang biếu Bác một chai tương Nam Đàn và hai con vịt bầu. Khi bà Thanh đến nhà Đặng Thai Mai ăn cơm, bà mang vịt bầu Nam Đàn ra luộc lên và nói: "Tôi đem hai con vịt từ quê nhà ra đây là có tích của nó. Nhờ mợ làm cho chị món vịt luộc, chấm muối gừng, vì cậu Thành sợ mùi tỏi sống. Còn nước luộc mợ cho gia vị làm nước dùng. Chỉ từng ấy, đừng làm thêm món gì nữa" [2; tr 207]. Sở dĩ như vậy vì thuở nhỏ, Bác Hồ rất thích ăn món thịt vịt luộc. Bà Thanh vì thương em trai xa quê lâu ngày nên đã mang vịt bầu ở quê ra để nấu cho Bác ăn và nhớ đến tình cảm gia đình, anh chị em thuở thiếu thời. Vì thế, trong bữa cơm, Bác đã nhớ lại những ngày tháng ở quê hương. Bác nói: "Hồi còn bé em thích món thịt vịt luộc hơn các thức ăn khác. Em cũng hay vòi vĩnh bà ngoại, vòi vĩnh mẹ món thịt vịt mỗi khi nhà có cỗ bàn. Em xa quê từ ngày tóc còn để chỏm, nay hai chị em tóc bạc mới được gặp lại. Chị vẫn còn nhớ sở thích khi còn trẻ nít của em, chẳng quản tuổi già sức yếu đem vịt từ quê nhà ra tận đây vì em…" [2; tr 209]. Có thể thấy rằng, những món ăn của quê hương ẩn giấu bao kỷ niệm và tình cảm của Bác Hồ với người thân và quê nhà.

Không chỉ có những món ăn mà thói quen và ứng xử trong bữa ăn của Bác Hồ cũng cho chúng ta thấy dấu ấn quê hương trong tâm thức của Người và góp phần hình thành nên tính cách của một con người vĩ đại. Trong bữa cơm Bác cùng ăn với anh em cận vệ, bà Thanh thấy: "Thức ăn chỉ có bát nước rau, đĩa thịt rim không nhiều lắm, đĩa rau muống luộc đầy có ngọn… Đĩa thịt chưa thấy ai đụng đũa, đĩa rau thì đã vơi đi. O thấy cậu Thành gắp thịt lên bát cho từng người. Đến lượt gắp cho phần mình, O thấy cậu Thành vẫn gắp không nặng đũa như xưa" [2; tr 212].

Ngày còn ở chiến khu Việt Bắc, có lần Bác Hồ được đồng chí Lê Viết Lượng - nguyên Chủ tịch Quân khu IV gửi biếu lọ cà dầm mắm. Bác rất thích ăn món này. Đến bữa ăn cơm, Bác thường dặn các đồng chí phục vụ: "Các cô, các chú ăn thịt, cá, để phần Bác món cà dầm mắm". Bác đã dành lại đĩa thịt gà mà "trọn" mấy quả cà xứ Nghệ. Đó cũng là tình cảm của Bác luôn nhớ về quê hương [3].

Cũng thời gian đó, tuy sống ở vùng núi rừng Việt Bắc nhưng vẫn có nhiều tháng thiếu rau. Bác bảo với đồng chí Liên [4]: "Thiếu rau ta có nhiều mít, cô làm món nhút để ăn cho đỡ xót ruột, ở quê Bác hay ăn món nhút này lắm". Nhưng chị Liên lại không biết muối nhút, nên Bác đã hướng dẫn cho chị Liên cách làm món nhút chế biến từ quả mít xanh [5]. Mà đúng là chỉ có người Nghệ, quê Nghệ Bác Hồ mới biết chế biến và ăn món nhút làm từ quả mít xanh như thế.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có một người chiến sĩ nuôi quân, khát khao được một lần làm cơm đón Bác Hồ về thăm đơn vị. Biết được sở thích mê cá kho tương của Bác, mười lăm ngày phép, chị đã lặn lội về Nam Đàn để học kho cá. Nhưng ước mơ của chị không thành vì Bác Hồ đột ngột đi xa. Nỗi ngậm ngùi đó được chị viết thành bài thơ có tựa đề "Khóc Bác", lấy bút danh là Nguyễn Thị Nuôi. Bài thơ của chị đã nói lên tình cảm của người nuôi quân đối với Bác và tình cảm của Bác với quê hương xứ Nghệ: "Biết Bác không quên miếng cà giòn/ Quên cơm độn sắn, cá kho tương/ Con từng nghỉ phép về quê Bác/ Học muối tương cà, kho cá ngon/ Cà pháo hôm nay mặn muối rồi/ Cá vàng màu nghệ, bếp đương sôi/ Bỗng tin Bác mất, trời mưa lớn/ Đôi đũa con cầm bỗng tụt rơi!...".

Từ những câu chuyện về Bác, chúng ta thấy được hình ảnh quê hương xứ Nghệ nghèo nhưng đượm tình người, tình quê hương, xứ sở. Bác nhớ quê hương qua bữa ăn hàng ngày, qua những món ăn giản dị ở xứ Nghệ quê Bác như: tương Nam Đàn, vịt bầu Nam Đàn, nhút Thanh Chương… hay đĩa rau muống luộc, mấy quả cà muối mặn, con cá kho nghệ… Từ đó, chúng ta cũng thấy được những dấu ấn của quê hương đã góp phần nuôi dưỡng, vun đắp nên tâm hồn dung dị, thanh khiết của Bác. Những món ăn xứ Nghệ vì thế đã in đậm trong tâm thức của Người./.

 

Tài liệu tham khảo

 

(*) "Trọn" ở đây tiếng Nghệ tức là "chọn". Ý muốn nói Bác Hồ ít ăn thịt, cá và rất thích ăn món cà dầm mắm của quê hương xứ Nghệ.

1. Tiểu ban nghiên cứu lịch sử Đảng, Tỉnh ủy Nghệ An, (1999), Hồ Chí Minh thời niên thiếu, Nxb Nghệ An, tr.60.

2. Sơn Tùng, (2008), Chung một tình thương của Bác, Nxb Thông tấn, Hà Nội, tr.207.

3. Bảo tàng Hồ Chí Minh, (2007), Chuyện kể của những người giúp việc Bác Hồ, Nxb Thông tấn, Hà Nội, tr.47.

4. Đồng chí Dương Thúy Liên là cán bộ Văn phòng Phủ Chủ tịch từ năm 1949 đến năm 1954.

5. Bảo tàng Hồ Chí Minh, (2007), Chuyện kể của những người giúp việc Bác Hồ, Nxb Thông tấn, Hà Nội, tr.47.

Đào Tam Tỉnh

 

 

 

 

 

 

Tiện ích - Download Tiện ích - Download


Tiện ích - download hết hạn.

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.