« Quay lại

Làng Hàu

Làng Hàu (nay thuộc xã Quỳnh Nghĩa, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) là vùng đất cuối cùng của vùng Bãi Ngang ven biển, ngày xưa gọi là vùng Lục Phú (6 làng bãi ngang giàu có nhất huyện Quỳnh). Đây là một làng cổ nhiều cồn sò điệp có niên đại được xác định nằm trong thời đại Văn hóa Quỳnh Văn cách ngày nay trên dưới 5.000 năm.

1. Làng Hàu nhìn về phía Tây là sông Mơ (còn gọi là sông Mai Giang) bao bọc đổ ra cửa Lạch Quèn, phía Đông là biển. Nằm sát cửa Lạch Quèn có núi Rồng vươn ra tận bờ biển, trông như một cổ đầu rồng khổng lồ, phía sau là thân núi chạy dài như toàn bộ thân rồng uốn khúc vờn trong mây trắng. Dưới chân núi Rồng là cả một hệ thống đền đài, vừa đẹp về phong cảnh, vừa linh thiêng trong đời sống tinh thần của người dân, trong đó to lớn, linh thiêng hơn là đền Thượng.

Đền Thượng tọa Tây hướng Đông, nấp bóng dưới cây trôi cổ thụ, kiến trúc theo kiểu tam toà: chính tẩm, thiên hương và ca vũ.

"Đền thượng đẳng đá Long lân man mác,

đứng án tiền ngất ngất đỉnh kê quan,

Nghè linh dầm nhạn trạch dồi dầm,

chầu mái tả phây phây gò Phượng thủy"

Theo tương truyền, đền được xây dựng vào thời Lê, tu lý vào thời Nguyễn, mái lợp ngói to bản, mũi dầy, trên đỉnh nhà ca vũ có lưỡng long triều nguyệt. Nhà thiêu hương có 4 cột hiên trước cửa sơn son thiếp vàng, chạm khắc mây trôi và rồng leo cột - dấu ấn của nền văn hóa thời Lý, bên ngoài hai đốc nhà hiện còn hình tượng 2 hổ phù ngậm thư trời - dấu ấn văn hóa thời hậu Lê. Phía trong đền có bức đại tự "Thượng đẳng tối linh thần", long ngai bài vị, hòm sắc, thần y, hệ thống bàn thờ, lư hương, tàn lọng, cờ quạt, gươm đao, hai ngựa bạch hồng sau là hai con hạc chầu ngự, chuông đồng và trống đại được khắc vẽ hoa văn, họa tiết long, ly, quy, phượng. Sự bài trí này khiến đền trông rất uy nghi và huyền bí. Ngoài ra còn có đôi câu đối nêu lên nguồn gốc tầm vóc và độ hiển linh của đền, nhưng đến nay các bậc già làng chỉ nhớ được một câu đối: "Nhất thốc cung điện lễ nhạc uy quan sở tụy/ Thiên thu trớ đậu hoành sơn đái lệ tường tồn" (Tạm dịch: Một toà cung điện lễ nhạc áo mão rất uy nghiêm thẩm mỹ/ Ngàn năm hương khói, năm cỗ trên một dãy đá dài nằm ngang).

Phía trước đền là cổng tam quan đường bệ, có đôi voi, đôi ngựa chầu kim khuyết, hai cột nanh cao khoảng 6m với đôi câu đối:

* Sơn đồ triều kim khuyết/ Tinh giáng bấm truy quang

(Tạm dịch: Chúa tể chốn sơn lâm về chầu cửa khuyết/ Sao sáng trên trời dọi xuống làm sáng cả thế gian)

* Việt động khởi năng thế/ Sư tử bất tu kinh

(Tạm dịch: Khi đã vùng dậy có khả năng khống chế để bảo vệ cửa khuyết)

Xung quanh đền có hai bức tường đá ghép bao bọc, thành ngoại cao 1,2m, dưới chân rộng 2,5m, thành nội cao 1m, chân rộng 2m. Giữa thành nội và thành ngoại là vườn hoa bao gồm cây cối đa chủng loại như đẻn, chuỵn, dẻ, săng lẻ, chỏi… tốt um tùm, đặc biệt có cây trôi cổ thụ cao 20m, tuổi thọ khoảng 500 năm làm tôn thêm cho cả vùng đền chùa linh thiêng, sầm uất và che mát cho dân làng buổi trưa hè lúc dừng chân.

Nhìn tổng quan, đền được kiến trúc theo thế bền vững chắc khỏe, phù hợp với môi trường có nhiều bão, giông tố, trông xa rất chững chạc, uy nghi. Điều đó chứng tỏ trình độ kiến trúc thẩm mỹ ngày xưa của người dân Phú Nghĩa.

Đình Trung nằm ở trung tâm làng, các cụ rất tự hào: "Đình ta nay!/ Đất sản chung linh/ Trời dành tú khí/ Mạch Càn Hợi uốn khúc Rồng đem lại vững vàng huyền vũ thạch cương/ Sa canh đinh dang cánh Phượng chầu vào, lai láng minh đường băng thủy/ Đống Phương Nam phong cáo Ngự Bình/ Hồ mạch Bắc cổ chinh kỳ xí".

Đình xưa bề thế, xây cất 5 gian, 24 hàng cột, lát gạch, lợp ngói âm dương. Bên trong trước hai côt chính có câu đối: "Hậu hải tiền giang tích tụ địa/ Canh điền tạc tỉnh dật cầu ca" (Tạm dịch: Đình Trung sau biển trước sông, là nơi chung linh tú khí/ Dân tình cày ruộng, đào giếng và ưa thích hát ca).

Trên các đường kèo được chạm khắc các mảng đề tài dân gian, cảnh sinh hoạt như làm ruộng, đua thuyền, đánh cá biển, chơi xuân ngoạn cảnh, đánh cờ người, chọi gà... Xưa kia, đình có đủ chiêng trống, tế lễ vào tháng 2 âm lịch, như lễ cầu yên, cầu mưa thuận gió hòa vào những năm đại hạn. Theo các cụ cao niên, những ngày đầu cách mạng, dân làng đã tập trung trước đình để mít tinh trước khi đi cướp chính quyền, sau đó đình trở thành trụ sở của Ủy ban hành chính kháng chiến xã, trường học bình dân học vụ.

Làng Hàu có nhà Văn Thánh, hàng năm tổ chức hoạt động văn hóa, có lễ chính kỳ thượng nguyên (15 tháng giêng âm lịch) và các lễ khác. Nơi đây, các vị túc nho, chức sắc thắp hương tưởng niệm, tôn vinh những người đỗ đạt qua các khoa thi, những người được phong các chức tước và là nơi bình thơ, đàm đạo thế sự.

Làng Hàu cũng ảnh hưởng đạo Phật sớm. Vì tư tưởng của đạo Phật có nhiều điểm gần gũi với truyền thống đạo đức của dân tộc ta, được nhân dân tin theo. Đạo Phật đi vào quần chúng nhân dân và để lại dấu ấn là những ngôi chùa. Chùa Đế Thích có hai tòa chính tẩm và thiêu hương, thờ Phật Thích ca Ngọc Hoàng và Tam thế. Trong chùa có trống lễ, khánh đá, chuông đồng và thạch bi. Chùa có ruộng hương hỏa để phục vụ tế tự, do sãi chùa quản lí.

Làng Hàu xưa có nhiều giếng làng cùng những cây cổ thụ như: giếng nước cây trôi đền Thượng, giếng nước cây gạo đình Trung, giếng nước cây đa đồi Ý, cây đề đồng Trọn, cây phượng xóm Đông, lùm gác, lùm sanh đồng Mưng, đồng Sanh và hàng chục giếng nhỏ khác như giếng Văn, giếng Eo, giếng Sộp, giếng Sui, giếng Lòi... Nhiều đôi lứa đã lấy nước giếng soi gương, làm chứng cho sự chung thủy của mình: "Nhớ hôm bên giếng chàng ơi/ Chàng đưa mắt liếc khiến em rơi chiếc gàu/ Nhớ chàng ra đứng gốc đa/ Nhớ ăn cùng giếng, nhớ đi cùng đường/ Ta về uống nước giếng ta/ Soi gương thấy mặt nàng nhà vẫn hơn" (ca dao địa phương).

2. Làng Hàu có phong cảnh đẹp trữ tình, là nơi đất lành chim đậu, nhiều dòng họ về đây sinh cơ lập nghiệp như họ Lê, họ Hoàng, họ Nguyễn, họ Trần, họ Trương (làm quan phủ lập ra trò Lề được diễn lại hàng năm trước Cách mạng tháng 8 năm 1945). Làng có đến 17 người đỗ đạt, trong đó 2 vị tiến sĩ, 2 vị phó bảng và 13 vị cử nhân; 25 vị quan võ từ chánh đội trưởng trở lên; 21 vị danh y, thầy đồ. Làng Hàu nổi tiếng là làng quan, nhiều người được phong tước hầu nên có tên làng Hầu, về sau gọi chệch sang làng Hàu.

 

Mỗi khi tết đến xuân về, sau khi cúng tế xong, làng tổ chức nhiều hội hè đình đám như hội rước phong sắc, cờ người, đu tiên, đu quay, rước sắc... Thiên nhiên và con người nơi đây gắn với nhiều lễ hội đa dạng phong phú và vô cùng hấp dẫn: "Ai về Phú Nghĩa mà coi/ Núi non, sông biển, tình người đắm say".

Cứ 3 năm trong một giáp, vào các năm Tý, Mão, Ngọ, dân làng lại tổ chức rước thần từ đền Thượng về đình Trung một lần, có kiệu tàn lọng, cờ quạt, gươm dao, trống chiêng uy nghi, đẹp mắt. Sau 3 ngày tế lễ tại đình thì nghinh thần hồi quy đền Thượng, dân làng tiếp tục hội vui chơi sau hàng tuần lễ mới kết thúc.

Hội trò lề cứ 12 năm tổ chức một lần. Gốc trò lề xuất phát từ ông Mỹ Quận công Trương Đắc Phủ, cháu 3 đời của cụ Trương Phúc Quang ra phò vua Lê, chúa Trịnh. Trong quá trình đưa quân đi để ổn định tình hình, ông đã nghĩ ra diệu kế, tổ chức diễn trò "sỹ, nông, công, thương, ngư, tiều, canh, mục". Chính diệu kế này là bí quyết của trận đánh thắng giòn giã ở Sơn Nam (Nam Định), chấm dứt cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt đã kéo dài mấy chục năm thời Lê Mạc. Vì có công lao to lớn, ông được triều đình phong là Thượng trụ Quốc thượng trật, sau khi ông mất lại được tấn phong là Phó quốc vương. Được phép của triều đình, để tưởng nhớ đến công huân của ông, nhân dân Phú Nghĩa đã tổ chức diễn lại trò (còn gọi là vở tuồng) nói trên.

Diễn trò phải dàn thành trận mạc, bên triều, bên hóp, có tướng, quân, voi ngựa, giáo mác bằng tre nứa giấy trông oai nghiêm, chỉnh tề, được tập luyện và đánh nhau từ rằm tháng giêng đến rằm tháng hai thì kết thúc. Tướng bên triều là một vị già làng, tướng mạo quắc thước, thuộc con nhà phiệt duyệt thế gia, có chức hàm, ít ra cũng phải là cửu, bát phẩm, ngồi trên voi nan chỉ huy đánh trận. Khi thắng trận, vị tướng này theo tục lệ bị người xem lột hết quần áo xé mỗi người một mảnh để làm bùa hộ mệnh treo ở nhà, nhất là cho trẻ nhỏ.

Hàng năm buổi xuân nhật, làng Hàu lại diễn ra hội đua thuyền. Những lực sĩ của ngư dân đã từng chém sóng, chém gió được dịp trổ tài trên sông nước, vừa góp phần tạo nên hoạt động kì thú của ngày xuân, vừa nâng cao sức lực cường tráng chuẩn bị cho cuộc vật lộn với sóng gió của năm mới.

Hai bên mạn của mỗi thuyền là 12 tay chèo cỡ lực sỹ, người thắt lưng màu ngải, kẻ thắt lưng màu hồng, người cầm trịch thắt lưng màu đỏ, tay cầm cờ chỉ huy đứng phía sau. Khi các quan viên văn võ và dân làng đã tề tựu đông đủ, một hồi trống lệnh vang lên vừa dứt thì tất cả các đội thuyền đua nhau lướt sóng dưới bóng cờ xí cắm la liệt hai bên bờ sông trong tiếng trống chiêng và tiếng hò la vang dậy cả một vùng, náo nhiệt, đông vui, thể hiện đặc trưng ở một vùng quê miền duyên hải: "Xếp khăn kiệu rồng tàn tía/ Cuộc du xuân chung thuyền nguyệt đua bơi/ Phủ phê trước vóc màn hoa/ Lễ ca hạ mở tiệc quỳnh du hý".

Song song với đua thuyền, sau rằm tháng giêng làng tổ chức hội thi vật. Từ sáng sớm, dân làng đã tập trung đầy đủ trước đình làng để làm lễ khai vật, cờ, lọng, trống chiêng rợp bóng sân đình. Hai chiếc chiếu hoa lớn được trải rộng trước sân đình, đông đủ bá quan chức sắc của làng chứng kiến. Mở đầu cho cuộc đua vật thử tài, làng chọn hai cụ già râu tóc bạc phơ, khỏe mạnh, từng đoạt giải đô vật của làng và của vùng, còn phải đủ tiêu chuẩn "phu phụ song truyền, tử tôn hưng vượng" (tức còn đầy đủ cụ ông cụ bà, con cháu đông đúc). Trước khi vào khai vật, hai cụ được làng trang bị bộ đồ đồng phục màu sắc khác nhau để phân biệt, thân trước được thêu hình hổ phù dữ tợn màu đỏ. Một hồi trống đại nổi lên giòn giã, hai cụ vào cuộc tư thế chuẩn bị. Tiếp đó là tiếng chiêng trống theo nhịp điệu, hai cụ giở các miếng vật cổ truyền của làng thao tác làm sao cho đẹp. Trước sân đình, trai làng xếp hai hàng đứng nghiêm trang theo dõi để học các miếng vật cổ truyền của hai cụ. Cuộc đánh vật của hai cụ kéo dài hàng giờ đồng hồ nhưng không phân thắng bại. Sau cuộc đánh vật này, hai cụ được làng thưởng bình rượu to và 30 quan tiền. Hai cụ tự tay rót rượu mời trai làng thưởng thức chén rượn vật đầu xuân giữa tiếng trống, chiêng vang dậy cả vùng sông nước. Tiếp theo trai làng từng đôi một kéo nhau ra bãi đánh vật.

Làng có chợ Hàu vừa là trung tâm kinh tế, văn hóa, vừa là nơi giao lưu hát hò thâu đêm: "Đò hai bên xôn xao khách qua lại/ Chợ đôi chiều người xum họp bán mua"; "Chợ Hàu một tháng sáu phiên/ Em năng đi chợ cho duyên mặn nồng" (ca dao địa phương).

Những đêm thu gió mát, trăng thanh, điệu hát đò đưa bên sông "như nhớ thương người" theo nhịp mái chèo từ sông Mai vọng lên hòa với tiếng hát ví, hát dặm, hát phường vải "êm êm như liễu, nhẹ nhàng như tơ" ven sông gợi lên trong lòng người mối tình quyến luyến, thấm đượm lứa đôi: "Anh về mai anh lên chưa/ Để em bưng bát cơm trưa em chờ/ Em ơi anh đợi em chờ/ Tối mai đến giờ ta lại gặp nhau" (ca dao địa phương). Hát và hỏi, hỏi và đáp, cứ thế tình người say mãi đến tận đêm khuya...

Làng Hàu - tên làng thân thương từ bao đời nay đã thấm sâu vào tâm tư tình cảm, cội nguồn máu thịt của nhân dân, gắn liền với phong trào đấu tranh cách mạng để lại nhiều dấu ấn lịch sử. Lịch sử đã chứng kiến năm 1930-1931, cờ đỏ búa liềm tung bay dưới chân núi, dẫn dắt nhân dân bước vào cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Tháng 4/1931, chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam xã Phú Nghĩa đã được thành lập tại đền Thượng và trở thành nơi hội họp bí mật của các cụ Đảng viên lão thành. Làng Hàu bước vào cuộc khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945, rồi kháng chiến chống thực dân Pháp, chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Làng Hàu đứng hiên ngang hứng chịu không biết bao nhiêu là bom đạn, làm con mắt tiền tiêu cho quân dân xã nhà chiến đấu và chiến thắng. Những hố bom đạn pháo dày đặc trên đỉnh núi là minh chứng đi vào lịch sử làng. Trung đội dân quân trực chiến săn máy bay Mỹ gồm hầu hết những người con trai, con gái tuổi chưa đầy mười tám đôi mươi bám trụ ngày đêm cùng núi Rồng quật nhào máy bay Mỹ, giúp nhiều đoàn thuyền chở hàng ra tiền tuyến. Dựa vào thế núi, dòng sông để làm ăn và đánh giặc, nhiều người con và tập thể của làng Hàu đã trở thành anh hùng.

Làng Hàu ngày nay đang thay da đổi thịt, đô thị hóa nhưng vẫn còn đó không gian tĩnh lặng của cây đa, bến nước, sân đình, vẫn còn đó những câu ca trữ tình vang mãi trên sông.../.       

Trần Hữu Đức

Tiện ích - Download Tiện ích - Download


Tiện ích - download hết hạn.

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.