Tín chỉ carbon cơ hội và thách thức cho ngành lâm nghiệp Nghệ An

Thứ sáu - 05/07/2024 05:57 0
1. Một số khái niệm liên quan đến tín chỉ carbon
Tín chỉ carbon: Tín chỉ carbon là chứng chỉ thể hiện quyền phát thải một tấn khí thải nhà kính vào bầu khí quyển. Nó đại diện cho quyền phát thải một tấn khí CO2 hay lượng phát thải khí nhà kính tương đương với một tấn khí CO2. Tín chỉ carbon được phát hành để giao dịch thương mại. Tín chỉ carbon có thể mua bán, chuyển nhượng. Giá trị một tín chỉ carbon phụ thuộc vào giá trị giao dịch trên thị trường. Mục tiêu tạo ra tín chỉ carbon là để giảm lượng khí thải carbon dioxide và các loại khí phát thải nhà kính khác, nhằm giảm hiện tượng nóng lên của trái đất và giảm ô nhiễm môi trường sống.
Rừng có chức năng hấp thụ khí CO2. Rừng bị tàn phá sẽ làm không khí nóng lên và môi trường sống bị ô nhiễm. Tăng diện tích rừng là trực tiếp tăng lượng hấp thụ khí CO2 làm giảm lượng khí CO2 trong bầu khí quyển, giảm khí phát thải nhà kính, giảm sự nóng lên của trái đất, làm môi trường sống bớt ô nhiễm. Tín chỉ carbon rừng ra đời giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sống của hành tinh.



Thị trường tín chỉ carbon: Thị trường tín chỉ carbon là hệ thống các giao dịch mua bán, chuyển nhượng tín chỉ carbon. Nó cho phép các tổ chức và cá nhân mua bán quyền phát thải khí CO2 cũng như khí phát thải nhà kính tương đương phát thải khí CO2. Thông qua thị trường tín chỉ carbon, các tổ chức hoặc cá nhân có thể mua tín chỉ carbon để bù đắp cho phần thiếu phép phát thải khí nhà kính, hay bán tín chỉ carbon dư thừa cho đối tác cần nó.
Hạn ngạch phát thải khí nhà kính: Hạn ngạch phát thải khí nhà kính là lượng khí nhà kính của quốc gia, tổ chức, cá nhân được phép phát thải vào bầu khí quyển trong một khoảng thời gian xác định, được tính theo tấn khí carbon dioxide (CO2) hoặc tương đương một tấn khí CO2.
Cơ quan thẩm quyền quyết định hạn ngạch phát thải khí nhà kính: Ở Việt Nam, Theo Điều 18 Nghị định 06/2022/NĐ-CP, Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan cấp phép hạn ngạch phát thải khí nhà kính [1].
Căn cứ xác định hạn ngạch phát thải khí nhà kính: Căn cứ để xác định hạn ngạch phát thải khí nhà kính là Luật Bảo vệ môi trường [2]. Khoản 3 điều 139 Luật Bảo vệ môi trường 2020 [2] quy định:
“Tổ chức và phát triển thị trường các-bon
1. Thị trường các-bon trong nước gồm các hoạt động trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon thu được từ cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong nước và quốc tế phù hợp với quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Các cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính thuộc danh mục quy định tại khoản 3 Điều 91 của Luật này được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính và có quyền trao đổi, mua bán trên thị trường các-bon trong nước.
3. Căn cứ xác định hạn ngạch phát thải khí nhà kính bao gồm:
a) Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu và chiến lược, quy hoạch phát triển khác có liên quan;
b) Kết quả kiểm kê khí nhà kính cấp quốc gia, lĩnh vực và cơ sở thuộc danh mục quy định tại Khoản 3 Điều 91 của Luật này;
c) Lộ trình, phương thức giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện của đất nước và cam kết quốc tế.
4. Cơ sở phát thải khí nhà kính chỉ được phát thải khí nhà kính trong hạn ngạch đã được phân bổ; trường hợp có nhu cầu phát thải vượt hạn ngạch được phân bổ thì mua hạn ngạch của đối tượng khác thông qua thị trường các-bon trong nước.
5. Cơ sở phát thải khí nhà kính thực hiện giảm phát thải khí nhà kính hoặc không sử dụng hết hạn ngạch phát thải được phân bổ thì được bán lại cho đối tượng khác có nhu cầu thông qua thị trường các-bon trong nước.
6. Cơ sở phát thải khí nhà kính tham gia các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong nước và quốc tế phù hợp với quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên được phép trao đổi tín chỉ các-bon trên thị trường các-bon trong nước.
7. Cơ sở phát thải khí nhà kính tham gia thị trường các-bon trong nước thực hiện trao đổi, đấu giá, vay mượn, nộp trả, chuyển giao hạn ngạch, tín chỉ các-bon; thực hiện các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong nước, quốc tế phù hợp với quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
8. Bộ Tài nguyên và Môi trường trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính theo giai đoạn và hằng năm.
9. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan thành lập thị trường các-bon trong nước.
10. Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho các đối tượng theo quy định tại Khoản 2 Điều này; tổ chức vận hành thị trường các-bon trong nước và tham gia thị trường các-bon thế giới.
11. Chính phủ quy định chi tiết Điều này, chi phí phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính, lộ trình, thời điểm triển khai thị trường các-bon trong nước phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.
2. Các loại thị trường tín chỉ carbon
Có hai loại thị trường tín chỉ carbon.
Thị trường carbon quốc tế tự nguyện: Dựa trên thỏa thuận giữa các quốc gia, tổ chức. Các bên tham gia mua bán tín chỉ carbon tự nguyện để đáp ứng các chính sách về giảm phát thải khí nhà kính. Vì thế, giá bán tín chỉ carbon được điều tiết bởi thị trường. Thông thường, giá tín chỉ carbon rừng dao động trong khoảng 5 - 8 USD/ tấn CO2, và thấp hơn đối với tín chỉ carbon từ điện gió và điện mặt trời. Theo ý kiến một số chuyên gia của Liên hợp quốc, giá tín chỉ carbon cần nâng lên mức 25-35 USD/tấn CO2 để ép buộc các doanh nghiệp nhanh chóng áp dụng các biện pháp công nghệ giảm khí phát thải, hướng tới các sản phẩm xanh.

Nghệ An là tỉnh có diện tích rừng lớn nhất cả nước với hơn 1 triệu ha

Thị trường carbon nội địa bắt buộc: Việc mua bán carbon dựa trên cam kết của các quốc gia trong Công ước khung Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) cho mục tiêu cắt giảm phát thải khí nhà kính về 0. Thị trường carbon nội địa do quốc gia hoặc vùng lãnh thổ quy định và thành lập, nhằm thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính. Thị trường này mang tính bắt buộc. Các dự án trong cơ chế phát triển sạch, cơ chế phát triển bền vững, hay đồng thực hiện, đều thuộc thị trường carbon bắt buộc.
Trong thị trường carbon nội địa bắt buộc, các tổ chức, doanh nghiệp, được cấp hạn ngạch phát thải. Nếu vượt quá hạn ngạch được giao thì phải đóng thuế hoặc mua hạn ngạch, tín chỉ carbon. Thừa hạn ngạch có thể bán, chuyển nhượng. Đối với thị trường carbon nội địa, giá tín chỉ carbon phụ thuộc vào chính sách của quốc gia. Khoảng 30 quốc gia đã ban hành thuế carbon, với mức thuế từ 1 đến 137 USD/tấn CO2.
3. Lịch sử thị trường tín chỉ carbon
Năm 1997 tại Kyoto (Nhật Bản) đã thông qua Nghị định thư Kyoto về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc. Theo Nghị định thư Kyoto, các quốc gia dư thừa quyền phát thải khí nhà kính có thể, bán, chuyển nhượng cho các quốc gia thiếu hạn ngạch phát thải khí nhà kính theo cam kết, và ngược lại. Từ đó xuất hiện loại hàng hoá mới về phát thải khí nhà kính và thị trường tín chỉ carbon ra đời. Có gần 30 quốc gia đã ban hành thuế carbon.
Cách thức hoạt động của thị trường tín chỉ carbon: Các chính phủ và các tổ chức quốc tế quản lý phát thải khí nhà kính đưa ra các hạn ngạch về tín chỉ carbon và kiểm soát thị trường tín chỉ carbon. Dựa trên hạn ngạch được cấp phép khí carbon được thải ra hàng năm, doanh nghiệp phải mua tín chỉ carbon cho phần còn thiếu, hoặc bán đi phần thừa không dùng đến. Hiện thị trường tín chỉ carbon hoạt động trong phạm vi khiêm tốn vì phụ thuộc vào mức cam kết và tiến trình giảm phát thải khí nhà kính của các quốc gia. Số lượng giấy phép tín chỉ carbon trên thị trường phụ thuộc vào lượng tài chính phục vụ cho việc cắt giảm khí phát thải. Ở mặt khác, sự hạn chế lượng giao dịch tín chỉ carbon là để gây áp lực buộc phải áp dụng công nghệ xanh sạch cho mục tiêu lâu dài bảo vệ môi trường sống. Nhưng thị trường tín chỉ carbon sẽ sôi động trong các năm tới và đạt mức độ nhiều tỉ USD.
Thực tế của giao dịch tín chỉ carbon tại Việt Nam: Nghị định 06/2022/NĐ-CP đặt thời hạn đến hết năm 2027 sẽ hoàn tất các quy định quản lý thị trường tín chỉ carbon. Bộ Tài nguyên và Môi trường dự kiến tổ chức vận hành thí điểm sàn giao dịch tín chỉ carbon vào năm 2025. Dự kiến sẽ chọn các doanh nghiệp có phát thải khí nhà kính lớn nhất - trong số 1.912 doanh nghiệp phải xác định hạn ngạch - để đưa lên sàn giao dịch.
Trước tiên sẽ tiến hành áp trần phát thải carbon cho các doanh nghiệp thuộc ba lĩnh vực: nhiệt điện, xi măng và sắt thép. Sau đó sẽ đến các doanh nghiệp khác. Về lịch sử, một số doanh nghiệp Việt Nam đã bán tín chỉ carbon trên sàn quốc tế từ những năm 2000. Việt Nam hiện có hơn 100 dự án đã được cấp tín chỉ carbon để giao dịch trên sàn quốc tế. Cả nước có khoảng 41 triệu tín chỉ carbon, đứng thứ 5 trong các nước tạo tín chỉ carbon.
Việt Nam chưa có thị trường bắt buộc với tín chỉ carbon rừng. Việc trao đổi giảm thải được thực hiện thông qua các thỏa thuận song phương theo thị trường tự nguyện. Hiện Bộ NN&PTNT đang triển khai 2 thỏa thuận chuyển nhượng kết quả giảm phát thải như sau:
- Thỏa thuận ERPA Bắc Trung bộ (22/10/2020) giữa Bộ NN&PTNT và Ngân hàng Thế giới (WB) đại diện cho Quỹ Đối tác Carbon lâm nghiệp (FCPF). Khối lượng chuyển nhượng là 10,3 triệu tấn CO2 ở vùng Bắc Trung bộ cho giai đoạn 2018 - 2024. Giá mua 5 USD/tấn CO2. Tổng giá trị chuyển nhượng là 51,5 triệu USD [3].
Trên thực tế, WB đã xác nhận phát thải vùng Bắc Trung bộ đạt 16,21 triệu tấn carbon. Nên Việt Nam đã hoàn thành việc chuyển nhượng 10,3 triệu tấn carbon cho WB và đã nhận 51,5 triệu USD. WB cũng đồng ý mua thêm 1 triệu tấn CO2 từ 5,91 triệu tấn CO2 còn dư. Sẽ tiếp tục tìm đối tác cho 4,91 triệu tấn CO2 còn lại.
- Thoả thuận ERPA Nam Trung bộ và Tây Nguyên, ký ngày 31/10/2022 tại COP26, giữa Bộ NN&PTNT và Tổ chức Tăng cường tài chính lâm nghiệp (Emergent) - đại diện cho Liên minh giảm phát thải thông qua tăng cường tài chính cho rừng (LEAF). LEAF mua 5,15 triệu tấn CO2 giảm phát thải từ rừng Nam Trung bộ và Tây Nguyên trong giai đoạn 2022-2026. Giá chuyển nhượng là 10 USD/tấn CO2. Tổng giá trị chuyển nhượng là 51,5 triệu USD. Diện tích rừng thương mại dịch vụ giảm phát thải đăng ký là 4,26 triệu ha, bao gồm 3,24 triệu ha rừng tự nhiên, và 1,02 triệu ha rừng trồng [4].
4. Cơ hội và thách thức cho ngành lâm nghiệp Nghệ An
Thoả thuận ERPA Bắc Trung bộ đưa đến kết quả là WB đã trả cho Việt Nam 51,5 triệu USD (khoảng 1200 tỷ đồng) để mua 10,3 triệu tín chỉ carbon rừng tại các tỉnh Bắc Trung bộ giai đoạn 2018-2024. Tuy không hẳn là một giao dịch thương mại, mà còn mang tính hỗ trợ, nhưng đã tạo một cơ hội mới cho thị trường tín chỉ rừng Việt Nam.
Một phần trong khoản tiền 51,5 triệu USD sẽ quay lại hỗ trợ các địa phương Bắc Trung bộ trong việc phát triển rừng, hỗ trợ sinh kế cho người dân giữ rừng. Đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam đã trực tiếp nhận thanh toán đợt 1 là 41,2 triệu USD từ WB và đã giải ngân toàn bộ về 6 tỉnh Bắc Trung bộ. Trong đó Nghệ An nhận 282 tỉ đồng, Quảng Bình nhận 235 tỉ đồng, Thanh Hóa nhận 162 tỉ đồng, Hà Tĩnh nhận 122 tỉ đồng, Thừa Thiên Huế nhận 107 tỉ đồng và Quảng Trị nhận 51 tỉ đồng [5]. Điều đáng lưu ý là số tiền tín chỉ carbon rừng mà tỉnh Quảng Bình nhận năm 2023 là 82,4 tỉ đồng gần bằng nguồn thu của các doanh nghiệp FDI trong tỉnh chỉ đạt khoảng 100 tỉ đồng [6].
Theo số liệu của Bộ NN&PTNN, diện tích rừng năm 2023 đạt 14.860.309 ha, bao gồm rừng tự nhiên 10.129.751 ha, rừng trồng 4.730.557ha, và độ che phủ toàn quốc là 42,02%. Ước lượng rừng Việt Nam có thể tạo ra một lượng từ 50-70 triệu tín chỉ carbon. Trong số các tỉnh thì Nghệ An là tỉnh có diện tích rừng lớn nhất cả nước với 1.018.788 ha, tỷ lệ che phủ đạt tới 58,33%. Năm 2023 Nghệ An trồng được khoảng 22.768 ha rừng. Tổng nguồn thu từ các loại dịch vụ môi trường đạt khoảng 133 tỷ đồng. Toàn tỉnh có 143 doanh nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ, 10.410 cơ sở kinh doanh hàng lâm nghiệp, có 3 nhà máy viên nén sinh khối. Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 270,25 triệu USD, tăng trưởng giá trị sản xuất lâm nghiệp là 6,67% [7]. Tuy đứng số 1 về diện tích rừng, nhưng kinh tế rừng Nghệ An chưa phát triển đúng tầm, và cần triển khai nhiều biện pháp để gia tăng phát triển kinh tế rừng [8]. Nghệ An cần tận dụng tối đa lợi thế rừng, nhất là lợi thế tín chỉ carbon rừng trong xu thế toàn cầu giảm phát thải khí nhà kính.
Ngành lâm nghiệp hiện là lĩnh vực duy nhất có phát thải ròng âm, tức là lượng hấp thụ CO2 lớn hơn lượng phát thải ra [9]. Thống kê giai đoạn 2010-2020 cho thấy trung bình lượng phát thải ròng - 40 triệu tấn CO2 mỗi năm. Nếu giá tín chỉ carbon là 5 USD/tấn thì tổng số tiền bán được sẽ vào khoảng 200 triệu USD.
Nguồn thu từ tín chỉ carbon đến từ dòng khách hàng quốc tế và nội địa. Hiện có một lượng các khách hàng nước ngoài có nhu cầu lớn về tín chỉ carbon. Ở mặt nội địa, tuy vào thời điểm hiện tại Việt Nam chưa áp đặt hạn ngạch phát thải khí nhà kính, nhưng điều này sẽ xảy ra trong tương lai gần. Lúc đó nhu cầu về tín chỉ carbon sẽ tăng lên.
EU đã áp dụng cơ chế biên giới carbon đối với 6 nhóm sản phẩm nhập vào EU từ 1-10-2023 bao gồm: sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydrogen. Từ tháng 4/2024, Hoa Kỳ cũng áp dụng biên giới carbon với bảy nhóm hàng hóa xuất khẩu vào Mỹ gồm: dầu khí, khí đốt tự nhiên, phân bón, giấy, xi măng, thủy tinh, sắt thép. Tất cả các định chế này sẽ ép buộc các doanh nghiệp phải chuyển sang các công nghệ sản xuất xanh và gia tăng nhu cầu mua tín chỉ carbon.
Tỉnh Quảng Nam là tỉnh đầu tiên được Chính phủ cho phép lập đề án thí điểm kinh doanh tín chỉ carbon rừng.  Năm 2022, Quảng Nam xây dựng lộ trình bán 1,5 triệu tín chỉ của các năm 2018, 2019 và 2020. Hiện có 5 công ty, tổ chức nước ngoài bày tỏ quan tâm đầu tư và mong muốn mua tín chỉ carbon rừng của Quảng Nam.
Nghệ An cũng không thể chậm nếu không muốn bỏ lỡ cơ hội khi thị trường tín chỉ carbon hàng tỷ USD ra đời. Các doanh nghiệp gỗ Nghệ An đang có một cơ hội lớn. Nếu có biện pháp kịp thời, hàng năm Nghệ An có thể thu về hàng chục triệu USD từ tín chỉ carbon rừng. Đây là khoản tài chính quan trọng không chỉ để bảo vệ và phát triển rừng, thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính về 0, mà còn là khoản tài chính góp phần nâng cao đời sống cho dân cư miền Tây Nghệ An.
Ở bình diện khác, các doanh nghiệp Nghệ An phải nhanh chóng áp dụng công nghệ xanh để thoả mãn yêu cầu nhập khẩu hàng hoá của EU, Hoa Kỳ và các quốc gia khác. Và như vậy, cũng đã đồng thời đáp ứng các hạn ngạch khí phát thải nội địa, trực tiếp tham gia vào tiến trình giảm khí phát thải về 0 của Chính phủ Việt Nam. Không chỉ gia tăng lợi ích kinh tế, mà rất quan trọng nữa là bảo vệ môi trường sống cho các thế hệ con cháu mai sau.
Tài liệu dẫn
[1]. https://thuvienphapluat.vn/phap-luat/han-ngach-phat-thai-khi-nha-kinh-la-gi-xac-dinh-han-ngach-phat-thai-khi-nha-kinh-dua-theo-can-cu-na-293249-101982.html.
[2]. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tai-nguyen-Moi-truong/Luat-so-72-2020-QH14-Bao-ve-moi-truong-2020-431147.aspx?anchor=dieu_139.
[3]. https://tapchimoitruong.vn/gi/dien-dan-trao-doi-21/thi-diem-chuyen-nhuong-ket-qua-giam-phat-thai-va-quan-ly-tai-chinh-thoa-thuan-chi-tra-giam-phat-thai-khi-nha-kinh-vung-bac-trung-bo-28584.
[4]. https://monre.gov.vn/Pages/giai-doan-2022-2026-chuyen-nhuong-tren-5-trieu-tan-cac-bon.aspx.
[5]. https://trungtamwto.vn/hiep-dinh-khac/25341-lan-dau-tien-viet-nam-ban-thanh-cong-tin-chi-carbon-rung-voi-tri-gia-515-trieu-usd.
[6]. https://tuoitre.vn/ban-tin-chi-carbon-co-tinh-dat-tuong-duong-thu-tu-doanh-nghiep-fdi-20231220104509457.htm.
[7]. https://baonghean.vn/ty-le-che-phu-rung-cua-nghe-an-dat-gan-60-10270227.html.
[8]. https://dbndnghean.vn/vai-suy-nghi-ve-phat-trien-kinh-te-rung-nghe-an-6572.htm.
[9]. https://tuoitre.vn/tien-ban-tin-chi-carbon-da-ve-20240324090719135.htm.
 

Vương Trí Dũng

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây