« Quay lại

TRAO ĐỔI – THẢO LUẬN

Hỏi: Việt Nam đã cam kết gì về mở cửa thị trường nông sản?

Trả lời: Gia nhập WTO, Việt Nam đã đưa ra các cam kết mở cửa thị trường nông sản thuộc các nhóm sau:

– Cam kết về thuế quan: Việt Nam đã đưa ra cam kết về mức thuế nhập khẩu tối đa được phép áp dụng (gọi là mức cam kết) đối với 100% dòng thuế hàng nông sản.

– Cam kết về các biện pháp phi thuế quan: Việt Nam đã đưa ra cam kết liên quan đến các biện pháp hạn ngạch thuế quan, các biện pháp quản lý chuyên ngành nông nghiệp.

– Quyền đàm phán ban đầu (INR): Trong quá trình thực hiện cam kết, trong một số trường hợp nhất định không lường trước được, Việt Nam có thể tăng thuế cao hơn mức cam kết. Trong trường hợp đó, Việt Nam phải đàm phán trước với những nước dành được Quyền đàm phán ban đầu (tên những nước đó được ghi bên cạnh mỗi dòng sản phẩm trong Biểu cam kết). Những nước đề nghị INR đối với nông sản của Việt Nam chủ yếu là Mỹ, Úc, New Zealand, Braxin.

********

Hỏi: Mức cam kết cắt giảm thuế quan đối với nông sản nhập khẩu được đánh giá như thế nào?

Trả lời: Về mức cam kết giảm thuế chung: Việt Nam đã cam kết cắt giảm thuế bình quân là 10,6% so với Quy chế tối huệ quốc (MFN) hiện hành.

Về mức giảm thuế đối với từng nhóm nông sản:

+ Các loại nông sản chế biến (như thịt, sữa, rau quả chế biến, thực phẩm chế biến, quả ôn đới, và quả có múi) phải giảm nhiều hơn so với nông sản thô (do những sản phẩm chế biến này vào thời điểm đàm phán gia nhập WTO Việt Nam đang áp dụng mức thuế suất nhập khẩu cao).

+ Các loại nông sản thô (gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều,…): mức thuế nhập khẩu những sản phẩm này giảm rất ít hoặc không giảm.

Về thời gian cắt giảm: Việt nam cam kết cắt giảm dần các loại thuế nhập khẩu đối với nông sản trong thời gian từ 3-5 năm kể từ ngày gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (11/1/2007). Tức là việc cắt giảm sẽ phải hoàn thành vào 2009-2012 tùy theo sản phẩm. Mức giảm thuế sẽ được chia đều cho mỗi năm trong lộ trình cắt giảm.

********

Hỏi: Biểu cam kết thuế nông nghiệp được thiết kế như thế nào?

Trả lời: Mức cam kết thuế đối với hàng nông sản của mỗi nước thành viên WTO được quy định tại Biểu cam kết nông sản của nước đó.

Đối với Việt Nam, cam kết về thuế quan đối với hàng nông sản được nêu tại Biểu CLX – Phần I – Danh mục các nhượng bộ và cam kết về hàng hóa – Thuế suất tối huệ quốc hàng nông sản trong Văn kiện gia nhập WTO của Việt Nam.

Biểu cam kết thuế gồm 7 cột với các nội dung sau:

– Cột 1: Cột mã số HS (mã HS 8 số)

– Cột 2: Mô tả sản phẩm (tên diễn giải của sản phẩm)

– Cột 3: Mức thuế suất ban đầu (là mức thuế cam kết thực hiện ngay năm đầu tiên khi gia nhập WTO, với Việt Nam là từ ngày 11/1/2007)

– Cột 4: Mức thuế suất cuối cùng (là mức thuế cam kết thực hiện vào cuối lộ trình giảm thuế)

– Cột 5: Lộ trình giảm thuế (hay còn gọi là "Giai đoạn thực hiện" là khoảng thời gian phải hoàn thành quá trình giảm thuế từ mức thuế suất ban đầu đến mức thuế suất cuối cùng)

********

Hỏi: Thuế nhập khẩu nông sản có thể giảm xuống mức thấp hơn mức thuế suất cam kết trong WTO không?

Trả lời: Cam kết thuế trong WTO của mỗi nước (đối với các sản phẩm nói chung và đối với nông sản nói riêng) là mức thuế tối đa mà nước đó có thể áp dụng đối với hàng nhập khẩu tương ứng. Các nước thành viên được khuyến khích áp dụng mức thuế thấp hơn mức cam kết.

Vì vậy, các thuế suất nhập khẩu đối với nông sản trong Biểu cam kết thuế nông sản của Việt Nam là mức thuế suất nhập khẩu cao nhất mà Việt Nam được quyền áp dụng đối với từng loại nông sản nhập khẩu (không được áp thuế suất cao hơn mức đó). Còn Việt Nam hoàn toàn có thể áp dụng các thuế suất thấp hơn (giảm thuế nhiều hơn mức cam kết).

Trên thực tế, các mức thuế suất hiện đang áp dụng đối với hàng nông sản nhập khẩu của Việt Nam thấp hơn so với mức cam kết. Nói cách khác, mức độ mở cửa thị trường nông sản trên thực tế của Việt Nam đã nhiều hơn mức cam kết.

********

Hỏi: Tại sao Việt nam lại duy trì mức thuế suất đối với nông sản trên thực tế thấp hơn mức thuế suất cam kết trong Tổ chức thương mại thế giới (WTO)?

Trả lời: Việt Nam duy trì mức thuế suất đối với nông sản trên thực tế thấp hơn mức thuế suất cam kết dựa trên các lý do sau:

Để tránh gian lận: Mức thuế cam kết trong WTO giữa các sản phẩm trong cùng một nhóm thường rất khác nhau. Nếu áp dụng đúng như mức cam kết thường dẫn tới khả năng gian lận thương mại cao (khai từ loại hàng này sang loại hàng khác để đóng thuế ít hơn) và việc áp thuế cũng phức tạp. Vì vậy, trong thực tế áp dụng, người ta thường áp chung một thuế suất với các sản phẩm tương tự và mức này là mức thuế suất cam kết thấp nhất của sản phẩm trong nhóm đó;

Để mở khả năng bảo hộ trong tương lai: Với mức thuế suất cam kết cao, dù hiện tại đang áp dụng mức thuế suất thấp hơn (do chưa cần bảo hộ), Việt Nam có thể tăng thuế trở lại trong tương lai khi có nhu cầu bảo hộ đối với sản phẩm đó;

Để phù hợp hoàn cảnh: Xuất phát từ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước, sẽ thực hiện giảm thuế hơn nữa đối với một số mặt hàng. Ví dụ, trước sức ép chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, giữa năm 2007 Thủ tướng Chính phủ đã quyết định giảm thuế thịt gia cầm từ 30% xuống 12%, thịt bò, thịt lợn từ 20% xuống 12%, ngô từ 5% xuống 3% mặc dù mức thuế cam kết của ta cho năm 2007 là 40% đối với thịt gà, 20% đối với trâu bò và thịt lợn, 5% đối với ngô.                      

(Nguyễn Thị Thắng


 

 

Liên kết website Liên kết website

  Cổng Thông tin điện tử  SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH NGHỆ AN


Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An. 

Số 75 Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An

Điện thoại: 02383.844500 - Fax: 02383.598478

Email: khcn@khcn.nghean.gov.vn


Cơ quan thiết lập: Trung tâm Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Số 75A Nguyễn Thị Minh Khai, TP. Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 02383.837448 - 02383566380.   Email: webkhcnnghean@gmail.com
Người chịu trách nhiệm: Võ Hải Quang, Giám đốc TT Thông tin KHCN và Tin học Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 23/GP-TTĐT ngày 28/3/2017 do Sở TT&TT Nghệ An cấp

 

 

@ Ghi rõ nguồn ngheandost.gov.vn khi phát hành lại thông tin từ website này.