« Quay lại

Chuyên san KHXH&NV số 1/2019

PGS. Chương Thâu

 

I. Sự kiện

Chiến tranh Thế giới thứ Nhất kết thúc ngày 11 - 11 - 1918. Sáng sớm hôm đó, đoàn đại biểu của nước Đức do Écbécgiơ (Erzberger) cầm đầu, thay mặt Khối liên minh Đức - Áo - Hung, đã ký Hiệp ước đình chiến với Khối hiệp ước Anh - Pháp - Ý - Mỹ - Nhật ở khu rừng Côngpienhơ (Conpiègne) trên đất Pháp. 11 giờ cùng ngày, từ Paris đã vang lên 101 phát đại bác báo hiệu sự chấm dứt hoàn toàn cuộc tàn sát ghê gớm đầu tiên giữa những tập đoàn đế quốc chủ nghĩa trên quy mô thế giới.

Ngày 18-11-1919, Tổng thống Pháp Poanh Carê (Raymond Poin Caré) chính thức tuyên bố khai mạc Hội nghị Hòa bình (Hòa hội Versailles) ở Paris: "Thưa các Ngài", ông nói: "Đúng 48 năm trước đây, cũng tại phòng gương tráng lệ này, Cung điện Versailles, đế quốc Đức tự tuyên bố thành lập. Hôm nay chúng ta tập hợp tại đây để chấm dứt sự tồn tại của nó".

Hội nghị Hòa bình này do Thủ tướng Pháp Côlêmăngxô (Clémenceau) làm chủ tịch và có các thành viên là các đại biểu của 27 nước lớn nhỏ từng tham chiến cùng dự họp. Nhưng mọi công việc của Hội nghị được quyết định bởi 10 người của 5 nước Anh, Mỹ, Pháp, Ý và Nhật.

Tại Hội nghị này, Thủ tướng Pháp Clémenceau hi vọng nước Pháp giữ được vị trí bá chủ ở châu Âu đối trọng với Thủ tướng Anh là Lôi Gioocgiơ (Loyd George). Tham gia Hội nghị còn có Tổng thống Mỹ Uynxơn (Thomas Woodaon Wilson) mà trước đó (1-1918) đã đưa ra bản Chương trình 14 điểm (1). Chương trình này khá chi tiết, nhưng chỉ là những lời đường mật mị dân đầy cám dỗ dựa trên nguyên tắc phân chia "công bằng - quả thực chiến thắng" theo quan điểm của chủ nghĩa đế quốc, trong đó có cả vấn đề "dân tộc tự quyết cho các nước thuộc địa".

Sau nhiều tháng ngày bàn cãi gay go giữa các đoàn tham dự, ngày 6-5-1919, Hội nghị toàn thể đã thông qua Hòa ước Versailles. Chủ tịch Hội nghị, Thủ tướng Pháp Clémenceau hùng hồn tuyên bố: "Giờ phút cuối cùng đã đến. Các Ngài yêu cầu hòa bình. Chúng tôi đồng ý trao hòa bình cho các Ngài".

Ngày 28-6-1919 hoàn thành việc ký kết. Chiều hôm đó ở Paris tràn ngập cả rừng cờ. Từ tháp Epphen, ánh đèn xanh, đỏ, trắng, vàng chiếu vào thành phố. Cũng vào ngày đó, các thành phố ở nước Đức treo cờ rủ để tang vì "bại trận"!

Nội dung Hòa ước gồm các điều khoản về lãnh thổ, về đảm bảo an ninh, về bồi thường chiến tranh. Quy ước thành lập Hội Quốc liên (do Mỹ đề nghị) ký ngày 28-4-1919 cũng được đưa vào Hòa ước.

Theo bản Hòa ước này, Anh là kẻ được lợi nhiều nhất vì thuộc địa được mở rộng. Thành quả chủ yếu của Pháp là lấy lại được hai tỉnh Andát, Loren và được quyền khai thác than ở hạt Xarơ (Sarre). Ngoài ra, trong số thuộc địa của Đức và Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp được quyền ủy trị ở Xiri, Libăng, một phần Tôgô và một phần Camơrun. Các nước thuộc phe thắng trận đều được chia ra một số quyền lợi nhất định, như Nhật Bản được làm chủ phần bán đảo Sơn Đông của Trung Quốc, làm chủ các đảo ở Thái Bình Dương phía Bắc đường xích đạo vốn là thuộc địa của Đức.

Với Hòa ước này, Đức mất 1/8 đất đai, 1/11 dân số, 3/4 mỏ sắt, 2/5 sản lượng gang, 1/3 sản lượng thép, 1/7 diện tích trồng trọt,… Đức phải bồi thường 132 tỉ mác, Đức bị hạn chế lực lượng vũ trang đến mức tối đa. Các thuộc địa của Đức trở thành đất "ủy trị" của Hội Quốc liên.

Bấy giờ, tại Paris, tổ chức "Nhóm những người yêu nước An Nam" mà đại biểu là các chí sĩ Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường đã cử người thanh niên ưu tú mang đến Hòa hội, nhờ chuyển cho các đại biểu Đồng minh và tất cả các Nghị viên của Quốc hội Pháp bản văn bản "YÊU SÁCH CỦA NHÂN DÂN AN NAM" gồm 8 điểm, dưới ký tên người thay mặt là NGUYỄN ÁI QUỐC. Và từ đây, "Tên gọi Nguyễn Ái Quốc như một nguồn ánh sáng, một niềm hy vọng đã lóe sáng trong bầu trời đen thẫm"(2).

Bản Yêu sách in làm 3 thứ tiếng: tiếng Pháp do Phan Văn Trường dịch, bản tiếng Trung Quốc do cụ Phan Bội Châu dịch. Ngoài ra, bản Yêu sách còn được Nguyễn Ái Quốc diễn đạt dưới hình thức thơ lục bát và song thất lục bát với đầu đề Việt Nam yêu cầu ca.

Bản Yêu sách sau khi đưa đến cho các vị ở Hội nghị đã được in trên Báo Nhân đạo, Dân chúng (L'Humannité, Le Populaire) vào thứ tư ngày 18-6-1919 với nhan đề Quyền của các dân tộc, đồng thời in thành truyền đơn, được phát trong các cuộc mít tinh cho người Pháp, cho Việt kiều và những người Việt Nam bị bắt đi lính ở Pháp để góp phần giác ngộ chính trị cho họ.

II. Văn bản

1. Yêu sách của nhân dân An Nam

Từ ngày Đồng minh thắng trận, tất cả các dân tộc bị lệ thuộc đều chứa chan hi vọng rằng theo những lời cam kết chính thức và trịnh trọng mà các cường quốc Đồng minh đã tuyên bố với toàn thế giới, trong cuộc đấu tranh của Văn minh chống Dã man, thì tiền đồ một thời đại công lý và chính nghĩa nhất định là phải đến với họ.

Trong khi chờ cho nguyên tắc dân tộc sẽ từ lĩnh vực lý tưởng chuyển vào lĩnh vực hiện thực do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc được thừa nhận thật sự, nhân dân nước An Nam trước kia, nay là xứ Đông Pháp, xin trình với các quý Chính phủ trong Đồng minh nói chung và với Chính phủ Pháp đáng kính nói riêng, những yêu sách khiêm tốn sau đây:

1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;

2. Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người dân bản xứ được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người châu Âu, xóa bỏ hoàn toàn các Tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;

3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận;

4. Tự do lập hộihội họp;

5. Tự do cư trú ở nước ngoàitự do xuất dương;

6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;

7. Thay thế chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ.

Đưa ra những yêu sách trên đây, nhân dân An Nam trông chờ vào chính nghĩa thế giới của tất cả các cường quốc và đặc biệt tin vào lòng rộng lượng của nhân dân Pháp cao cả, tức là những người đang nắm vận mệnh của nhân dân An Nam, những người do chỗ nước Pháp là một nước Cộng hòa, nên được gọi là những người bảo hộ cho nhân dân An Nam. Khi nhân dân An Nam nhắc đến sự "bảo hộ" của nhân dân Pháp, thì không lấy thế làm hổ nhục chút nào mà trái lại còn lấy làm vinh dự: vì nhân dân An Nam biết rằng nhân dân Pháp đại biểu cho tự do và công lý, và không bao giờ từ bỏ lý tưởng cao cả của mình là tình bác ái toàn thế giới. Vì thế, nghe theo tiếng nói của những người bị áp bức, là nhân dân Pháp sẽ làm tròn nhiệm vụ của mình đối với nước Pháp và đối với Nhân loại.

Thay mặt Nhóm những người yêu nước An Nam

Nguyễn Ái Quốc(3).

2. Thư gửi Tổng thống Mỹ(4)

Paris, ngày 18-6-1919

Kính gửi Ngài Tổng thống Cộng hòa Hợp Chủng quốc

Đại biểu ở Hội nghị Hòa bình

Thưa Ngài,

Nhân dịp chiến thắng của Đồng minh, chúng tôi xin mạn phép gửi đến Ngài, kèm theo đây bản ghi các Yêu sách của nhân dân An Nam.

Tin tưởng ở độ lượng cao cả của Ngài, chúng tôi mong Ngài ủng hộ trước những người có thẩm quyền.

Xin Ngài vui lòng nhận sự biểu thị lòng kính trọng sâu sắc của chúng tôi.

Thay mặt Nhóm những người yêu nước An Nam

    Nguyễn Ái Quốc

    56, Pranhxơ Paris(5).

3. Bản Yêu sách còn được diễn đạt dưới hình thức thơ lục bát và song thất lục bát với đầu đề:

VIỆT NAM YÊU CẦU CA

Rằng nay gặp hội Giao hòa,

Muôn dân hèn yếu gần xa vui tình.

Cậy rằng các nước Đồng minh,

Đem gương công lý giết hình dã man.

Mấy phen công bố rõ ràng,

Dân nào rồi cũng được trong bình quyền.

Việt Nam xưa cũng oai thiêng,

Mà nay đứng giới (dưới) thuộc quyền Lang sa.

Lòng thành tỏ nỗi sót sa (xót xa),

Giám (dám) xin đại quốc soi qua chút nào.

Một xin thả kẻ đồng bào,

Vì chưng chính trị mắc vào tù giam.

Hai xin pháp luật sửa sang,

Người Tây, người Việt hai phương cùng đồng.

Những tòa đặc biệt bất công,

Dám xin bỏ giứt (dứt) rộng dung dân lành.

Ba xin rộng phép học hành,

Mở mang kỹ nghệ, tập tành công thương.

Bốn xin được phép hội hàng,

Năm xin nghỉ ngượi (ngợi) nói bàn tự gio (tự do).

Sáu xin được phép lịch du,

Bốn phương mặc sức, năm châu mặc tình.

Bảy xin hiến pháp ban hành,

Trăm đều (điều) phải có thần linh pháp quyền.

Tám xin được cử nghị viên,

Qua Tây thay mặt giữ quyền thổ dân.

Tám điều căn tỏ xa gần,

Chúng nhờ vạn quốc công dân xét tình.

Riêng nhờ dân Pháp công bình,

Đem lòng đoái lại của mình trong tay.

Pháp dân nức tiếng xưa nay,

Đồng bào, bác ái sánh tày không ai!

Nỡ nào ngoảnh mặt ngơ tai,

Để cho mấy ức triệu người bỏ cơ.

Giân (Dân) Nam một dạ ước mơ,

Lâu nay tiếng núp bóng cờ tự gio (tự do).

Rộng xin giân (dân) Pháp xét cho,

Trong phò tiếng nước, sau phò lẽ công.

Dịch mấy chữ Quốc âm bày tỏ,

Để đồng bào lớn nhỏ được hay.

Hòa bình nay gặp hội này,

Tôn sùng công lý, đọa đày giã man (dã man).

Nay gặp hội khải hoàn hỉ hả.

Tiếng vui mừng khắp cả đông giân (dân).

Tây vui chắc đã mười phần,

Lẽ nào Nam lại chịu thân tôi đòi.

Hãy mở mắt mà soi cho rõ,

Nào Ai Lao, Ấn Độ, Cao Ly,

Xưa, hèn phải bước suy vi,

Nay, gần độc lập cũng vì Giân (dân) khôn.

Hai mươi triệu quốc hồn Nam Việt,

Thế cuộc này phải biết mà lo.

Đồng bào bình đẳng tự gio (tự do),

Xét mình rồi lại đem so mấy (với) người.

Ngổn ngang lời vắn ý giài (dài),

Anh em đã thấu lòng này cho chưa?(6).

III. Bình luận

Về ý nghĩa của Hòa hội Versailles và bản Yêu sách:

1. Sau này (1948), Nguyễn Ái Quốc kể lại cho tác giả cuốn sách "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch":

"Ông Nguyễn (Ái Quốc) hiểu rằng những lời tuyên bố tự do của các nhà chính trị tư bản trong lúc chiến tranh thật ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc. Và muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình.

Những lời yêu cầu của ông Nguyễn cũng như của các đại biểu các dân tộc bị áp bức khác không có kết quả gì hết.

Nhưng không thể nói những yêu cầu ấy là không có tác dụng, bởi vì nó đã đánh dấu một giai đoạn mới trong phong trào giải phóng dân tộc.

Việc in những bản yêu cầu ấy thành truyền đơn đem phát trong các cuộc mít tinh. Do đó một số đông người Pháp đã hiểu thêm về Việt Nam.

… Phát những truyền đơn ấy cho tất cả những Việt kiều và những người Việt đi lính ở Pháp… trước thờ ơ với chính trị nay cũng giác ngộ.

… Chính nhờ những tờ báo ấy mà người Việt Nam biết được bản Yêu cầu và từ ấy phong trào cách mạng Việt Nam càng lên cao"(7).

2. Nguyễn Ái Quốc cũng nhớ lại: "Ngày 18-6-1919 sau khi bản Yêu sách được gửi cho các đại biểu ở Hội nghị Versailles thì Nguyễn Ái Quốc nhận được sự trả lời của đại biểu Nicaragoa, và đặc biệt trong hai ngày liên tiếp, Nguyễn Ái Quốc nhận được giấy báo nhận diện của đại diện sứ quán Mỹ và thư trả lời của đại biểu Mỹ.

Trước hết, thư trả lời của đoàn Nicaragoa cho biết rằng ông Samônô, đại biểu của Nicaragoa nhờ chuyển lời cảm ơn về bản Yêu sách "Đã làm cho ông ta hết sức chú ý". Bởi lẽ từ năm 1912 đến năm 1933 nước Cộng hòa Nicaragoa không ngừng bị rối ren bởi nội chiến và sự can thiệp của Anh và Mỹ, nên rất thiết tha nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết.

Song song với thư của Nicaragoa, thư trả lời của đoàn đại biểu Mỹ trịnh trọng viết:

"Kính thư ông Nguyễn Ái Quốc.

Tôi lấy làm hân hạnh để báo cho ông biết rằng chúng tôi đã nhận được thư ông đề ngày 18-6-1919 và xin nói rằng chúng tôi sẽ trình thư đó lên Tổng thống.

Ký: Thư ký riêng của Tổng thống Mỹ"(8).

3. Các Báo Nhân đạo và Dân chúng đăng bản Yêu sách 8 điểm của Nguyễn Ái Quốc. Người Pháp coi hành động của Nguyễn Ái Quốc là một vụ nổ "quả bom chính trị" giữa Paris làm cho dư luận Pháp hết sức chú ý và lần đầu tiên nhân dân Pháp thấy ra có một vấn đề ở Việt Nam. Còn nhân dân Việt Nam thì cho đấy là phát báo hiệu giục dã đấu tranh. Hàng ngũ bọn thực dân bị chấn động. Thống đốc Nam kỳ gửi điện về Pháp:

Sài Gòn ngày 25-7-1919

Kính gửi ông Anbe Xarô, Bộ Thuộc địa Pháp.

Điện mật số 1791 - có truyền đơn kích động gửi từ Paris ngày 18-6 cho nhiều tờ báo ở thuộc địa. Truyền đơn mang đầu đề "Yêu sách của nhân dân An Nam" và ký "Thay mặt Nhóm những người Việt Nam yêu nước. Nguyễn Ái Quốc".

Tôi rất cảm ơn nếu như ông điện gấp cho tôi biết ngay lý lịch của những người viết truyền đơn nói trên. Người này trong thư gửi về đây còn cho biết đã gửi truyền đơn cho nhiều nhân vật ở chính quốc và theo tình báo của Nam kỳ thì người đó Bộ Thuộc địa đã biết. Ký: Mông Ghiô".

Và đại diện của Toàn quyền Đông Dương:

"Gửi ông Ghétxtơ, Bộ Thuộc địa.

Điện mật số 872. Tôi báo để ông rõ: Một người Bắc kỳ hồi hương bị bắt trong người có mang theo truyền đơn "Quyền các dân tộc" của Nguyễn Ái Quốc đăng trên Báo Nhân đạo. Người đó khai rằng tờ truyền đơn này được phân phát ở Cảng Mácxây cho từng người trong tổng số 50 người bản xứ hồi hương lúc tàu sắp khởi hành. Ký: Môngritxơ Lông".

Mấy tờ báo thực dân ở Việt Nam không thể không nói đến sự kiện này. Tờ "Tương lai Bắc kỳ" lúc đó viết:

"Lại Nguyễn Ái Quốc nữa!

Gần đây chúng tôi mới trích đăng một bản yêu sách viết ở Paris, dưới ký tên Nguyễn Ái Quốc. Nay chuyến tàu gần đây nhất đem chính các bản yêu sách đó đến cho chúng tôi đầu đề là "Quyền các dân tộc". Bản yêu sách này cũng đến tay nhiều thầy ký, thầy thông của nhiều công sở khác nhau".

Bọn bồi bút thực dân lồng lộn. Trên tờ "Tin thuộc địa" ra ngày 27-6 có một bài nhan đề "Giờ nghiêm trọng" nêu lên: "Làm sao một người dân thuộc địa lại có thể dùng bản Yêu sách của nhân dân để công kích chính phủ Pháp. Thật là quá quắt. Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông chủ của chúng ta. Không được. Phải kìm giữ họ lại mãi mãi trong vòng nô lệ"(9).

4. Đánh giá tác dụng của bản Yêu sách, gần đây (1985), tác giả Xô viết là E.Côbêlép viết: "Bản Yêu sách đã trở thành tuyên ngôn chính trị báo hiệu sự mở đầu của giai đoạn mới trong việc phát triển phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam". Nhằm chứng minh sinh động hơn cho nhận xét trên E.Côbêlép dẫn một đoạn trong Hồi ký của Bùi Lâm: "Người Pháp coi việc đấu tranh đó là một "quả bom" làm chấn động dư luận nước Pháp. Còn người Việt Nam cho đó là một tiếng sấm mùa Xuân. Tiếng sấm ấy đã xoa tan màn sương mù vây bọc chúng tôi, làm nảy sinh những mầm sâu trong lòng chúng tôi. Người mình ra nước ngoài kiếm ăn, nói chung yêu nước, mong được độc lập. Bấy giờ ngay tại Thủ đô nước Pháp, trên diễn đàn quốc tế, có một người Việt Nam ngang nhiên đứng ra đòi quyền lợi chính đáng cho cả dân tộc mình, dư luận thế giới xôn xao bàn tán. Ai mà không kính, không phục. Độ ấy, người mình gặp nhau ở Pháp đều nói độc lập, tự quyết, đều nói Nguyễn Ái Quốc. Chính cái tên Nguyễn Ái Quốc bản thân nó có sức hấp dẫn kỳ lạ"(10). E.Côbêlép viết tiếp: "Tất nhiên lúc ấy, anh Nguyễn Ái Quốc có đầy đủ kinh nghiệm để hiểu rằng việc trao bản Yêu sách cho bọn đế quốc khó lòng đạt được kết quả gì. Anh coi sáng kiến của anh chỉ là một cơ hội thuận tiện để một lần nữa vạch trần những chủ nghĩa thực dân, thu hút sự chú ý của giới dân chủ Pháp tới tình hình Việt Nam và thức tỉnh chính những người Việt Nam đang u mê, ảo tưởng,… chẳng bao giờ cầu xin được công lý ở bọn đế quốc. Vậy thì lối thoát ở đâu? Chỉ có trong cuộc đấu tranh một mất một còn. Để giải phóng mình, các dân tộc thuộc địa phải lật đổ ách thống trị của bọn áp bức như người lao động Nga đã làm!"(11).

 

Chú thích

(1). Nội dung "Chương trình 14 điểm" của Wilson: 1. Hòa ước ký công khai (bất lương lượng riêng và kín); 2. Hoàn toàn tự do đi lại trên mặt biển; 3. Hủy bỏ những hàng rào kinh tế; 4. Giảm vũ khí các nước đến mức tối thiểu; 5. Giải quyết công tâm những vấn đề thuộc địa, chiếu cố các dân tộc bản xứ và các chính phủ; 6. Rút quân khỏi Nga để Nga tự chọn lấy chính phủ; 7. Rút quân khỏi Bỉ, không hạn chế chủ quyền; 8. Điều chỉnh biên giới Ý theo nguyên tắc dân tộc; 9. Rút quân khỏi Pháp và hoàn trả Alsace Lorenne cho Pháp; 10. Đảm bảo quyền phát triển tự lập của các dân tộc Áo, Hung; 11. Rút quân khỏi Roumanie Monténégro, mở đường cho Serbrie ra biển; 12. Đảm bảo quyền phát triển tự lập của các dân tộc Thổ, tự do quốc tế vùng eo biển; 13. Phục hưng Ba Lan độc lập, có đường ra biển; 14. Thành lập một "Tổng hội các dân tộc".

(2). Thu Trang, Nguyễn Ái Quốc tại Paris (1917 - 1923), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.83

(3). Nguyên văn tiếng Pháp: Revendications du people Annamite, 1919. Bản dịch trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1 (1999 - 1924). Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.435-436.

(4). Thư này được gửi kèm với bản Yêu sách của nhân dân An Nam, đồng thời cũng gửi tới Trưởng đoàn của các nước dự Hội nghị Versailles.

(5). Theo Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.437.

(6). Trích theo Nguyễn Thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp. Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1998, tr.47-48.

(7). Những mẩu chuyển về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Nxb Văn học, Hà Nội, 1989, tr.30-31.

(8). Dẫn theo Mai Văn Bộ, Con đường vạn dặm của Hồ Chí Minh. Nxb Trẻ, tp. Hồ Chí Minh, 2000, tr.82.

(9). Trích theo Hồng Hà, Thời thanh niên của Bác Hồ. Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1976, tr.77-79.

(10). Bùi Lâm, Gặp Bác ở Paris, in trong cuốn Bác Hồ. Nxb Văn học, Hà Nội, 1960.

(11). E.Côbelép, Đồng chí Hồ Chí Minh. Nxb Thanh niên - Hà Nội và Nxb. Tiến bộ - Matxcơva, 1985, tr.52.

 

 

GS. Phong Lê

          Từ giữa 1911, Nguyễn Ái Quốc rời cảng Sài Gòn sang Pháp, ghé Mácxây và Lơ Havrơ; rồi rời Pháp sang Anh; tiếp đó vòng quanh châu Phi - qua Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Tuynidi, Đông Phi, Cônggô… ; rồi sang Mỹ; lại trở về Pháp vào cuối 1917 khi Đại chiến thế giới lần thứ nhất sắp kết thúc.

Hơn 6 năm, qua bao đại dương, đến với bao lục địa.

          Tất cả cái vốn hiểu biết, từng trải qua 12 nghề (theo Trần Dân Tiên), trong đó có một nghề được Nguyễn ghi trong bản tự khai khi là thành viên dự các Hội nghị Quốc tế Cộng sản vào những năm 1930 - nghề thuỷ thủ, đó là hành trang tinh thần Nguyễn đã tích lũy được ở tuổi ngoài 20, rồi sẽ trở thành chất liệu vô cùng dồi dào, phong phú cho một sự nghiệp viết của Nguyễn Ái Quốc được bắt đầu trong bối cảnh sống của Nguyễn vào nửa đầu những năm 1920 thế kỷ XX ở Pari. Pari - thủ đô "nước mẹ" Đại Pháp, người "khai hoá", ông chủ ở Đông Dương, sào huyệt của chủ nghĩa đế quốc hiện đại, cũng đồng thời là trung tâm của phong trào cách mạng vô sản ở châu Âu.

          Pari - nơi Nguyễn Ái Quốc không chỉ tìm được cẩm nang cứu nước, mà còn là, với cẩm nang ấy, Nguyễn đã mở ra rất rộng các biên độ của cảm xúc và trí tuệ để tạo nên một sự nghiệp viết gồm cả báo chí và văn chương, với chỉ một mục tiêu duy nhất là kết án chủ nghĩa thực dân, đòi quyền độc lập và tự do cho tất cả những người nô lệ da màu trên các lục địa, trong đó có quê hương, Tổ quốc mình.

          Áng văn đầu tiên ký tên Nguyễn Ái Quốc đó là Yêu sách của nhân dân Việt Nam, gửi Hội nghị Vécxây họp vào ngày 28-6-1919, trước đó đã được đăng trên Báo Nhân đạo, cơ quan ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp, số ra ngày thứ Tư, 18-6-1919, với tiêu đề là Quyền của các dân tộc, kèm theo Lời Toà soạn như sau:

          "Là những người xã hội chủ nghĩa trung thực, bảo vệ quyền lợi của các dân tộc, chúng tôi ủng hộ sự phản đối của những người Việt Nam, nạn nhân của tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp, cũng như chúng tôi ủng hộ nguyện vọng của những người Ai Cập, nạn nhân của chủ nghĩa đế quốc Anh"(1).

Bản Yêu sách được gửi đến Hội nghị kèm với bức thư có tên ký là Nguyễn Ái Quốc - "thay mặt Nhóm những người Việt Nam yêu nước" - "Groupes des patriotes Annamites". Chúng ta biết lúc này Nguyễn đang học tiếng Pháp, nên việc thảo Yêu sách phải nhờ ông Phan Văn Trường, người cùng Phan Châu Trinh đã đến Pháp từ nhiều năm trước, và rất thông thạo tiếng Pháp trong nghề luật sư "Ông Nguyễn không đủ tiếng Pháp để viết và phải khẩn khoản yêu cầu ông Phan Văn Trường viết thay. Ông Trường viết giỏi nhưng không muốn ký tên. Mà chính ông Nguyễn đã phải ký tên những bài báo"(2). Nói như vậy để thấy, vào thời kỳ đầu ở Pari - bút danh Nguyễn Ái Quốc chưa phải là một tên riêng. Phải vài năm sau, khi đã thông thạo tiếng Pháp, đã có thể viết bài cho các báo theo sự hướng dẫn của Giăng Lôngghê - cháu ngoại Mác, chủ bút Báo Dân chúng, và Gatxtông Môngmútxô - chủ nhiệm Báo Đời sống thợ thuyền; và khi cho ra đời tờ Người cùng khổ thì Nguyễn Ái Quốc mới là tên riêng của một Người, và trở thành một cái tên quen thuộc đối với công luận.

          Bản Yêu sách rồi được phân phát cho các binh sĩ và công nhân người Việt ở Mácxây, và từ đó một số ít được chuyển về nước. Dẫu sao, viết bằng tiếng Pháp chủ yếu vẫn là viết cho công chúng nước Pháp - một công chúng rất cần được thức tỉnh - để biết được sự thật ở các nước thuộc địa. Do vậy mà Nguyễn quyết tâm học tiếng Pháp để đọc và viết. Một quá trình rất kiên trì và nỗ lực, khi Nguyễn ý thức được sự bức thiết của thứ vũ khí lợi hại là tiếng nói; và thấy cần tranh thủ cơ hội hiếm hoi ở Pari - chính quốc là nơi, người cách mạng còn có một ít tự do tối thiểu để hành động; là nơi, việc tố cáo những tội ác của chủ nghĩa thực dân, không phải là phạm tội, dù ở Đông Dương, đó là một tội đáng tử hình.

          Ngót 6 năm tính từ cuối 1917 khi Nguyễn đến Pari cho đến tháng 6-1923 khi Nguyễn rời Pari sang Mátxcơva là thời gian Nguyễn chứng kiến và tham dự vào những sự kiện trọng đại có ý nghĩa quyết định cho sự hình thành trọn vẹn tư cách Người yêu nước họ Nguyễn, tư cách nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam, biết sử dụng công cụ báo chí và văn chương để phục vụ sự nghiệp cách mạng.

          Pari - trong 6 năm sinh sống và hoạt động của Nguyễn Ái Quốc, đó là địa bàn, là đất đai gieo trồng và hái lượm những kết quả đầu tiên của dòng văn học cách mạng - hiện đại trên hệ ý thức vô sản của Việt Nam.

          Ở trên đã nói đến áng văn chính trị viết bằng tiếng Pháp đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc: Yêu sách của nhân dân Việt Nam. Cũng nội dung 8 điểm trong Yêu sách rồi sẽ được Nguyễn Ái Quốc chuyển sang bài văn vần Việt Nam yêu cầu ca, bằng chữ Quốc ngữ - là thứ chữ của dân tộc vào thập niên đầu thế kỷ XX đang trong quá trình vừa đồng hành, vừa thay thế chữ Hán và chữ Nôm. Là thứ chữ các nhà Nho đầu thế kỷ XX rất có ý thức sử dụng khi nhiệm vụ canh tân đất nước được đặt ra như một nhu cầu bức xúc của lịch sử. Thứ chữ ấy Nguyễn có ý thức đem đến cho những người Việt xa xứ, số lớn là công nhân và binh lính trong đội quân SOS được huy động từ các thuộc địa để bảo vệ mẫu quốc, tập trung ở bến cảng Mácxây. Chuyển từ chữ Pháp sang chữ Quốc ngữ, trong thể lục bát và song thất lục bát quen thuộc, Nguyễn Ái Quốc ngay từ đầu sự nghiệp viết của mình đã là người không lúc nào nguôi quên viết bằng tiếng Việt cho chính đồng bào mình. Việt Nam yêu cầu ca gồm 56 câu, trong đó có 48 câu lục bát và 8 câu song thất lục bát, theo tài liệu của cảnh sát Pháp, đã được phân phối trong các giới công nhân và binh sĩ An Nam ở Mácxây vào tháng 9 - 1922:

Một xin tha kẻ đồng bào

Vị chưng chính trị mắc vào tù giam

Hai xin pháp luật sửa sang

Người Tây người Việt hai phương cùng đồng

Ba xin rộng phép học hành

Mở mang kỹ nghệ, tập tành công thương

Bốn xin được phép hội đàng

Năm xin nghĩ ngợi nói bàn tự do

Sáu xin được phép lịch du

Bốn phương mặc sức năm châu mặc tình

Bảy xin hiến pháp ban hành

Trăm điều phải có thần linh giúp quyền

Tám xin được cử nghị viên

Quan Tây thay mặt giữ quyền thổ dân(3).

          Cần nhớ đây là bài văn vần bằng Quốc ngữ viết cho những người Việt xa xứ, rời quê từ đầu Thế chiến lần thứ nhất (1914-1918), cũng là thứ chữ Nguyễn đã quen dùng, trước khi rời quê hương vào giữa năm 1911. Thứ chữ của thơ ca dân gian và thơ tuyên truyền cổ động của các nhà Nho trong phong trào Duy tân và Đông Kinh nghĩa thục mà Nguyễn rất quen thuộc ở tuổi thành niên, nhằm đem lại cho nội dung chính trị một hình thức văn chương nhất định, để có hiệu quả trực tiếp và phổ cập trong công chúng cần lao.

          Rời quê hương, ngoại ngữ đầu tiên Nguyễn quyết tâm chiếm lĩnh là tiếng Anh, ngôn ngữ cho sự mưu sinh và giao thiệp trên những chặng dài của hải trình và hành trình qua nhiều xứ sở. Nhưng cùng với tiếng Anh, Nguyễn đã quyết tâm học tiếng Pháp từ rất sớm, ngay khi còn ở Anh. Từ cuối 1917, về Pari, tiếng Pháp đã dần dần trở thành phương tiện đưa Nguyễn tham gia vào các hoạt động xã hội và chính trị; và là ngôn ngữ đưa Nguyễn Ái Quốc vào sự nghiệp báo chí và văn chương, nhằm thực hiện một cách triệt để và kiên định mục tiêu cao nhất và duy nhất của đời mình là cứu nước: "Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, đấy là tất cả những gì tôi hiểu (…). Có thể nói là ông Nguyễn suốt ngày nghĩ tới Tổ quốc, và suốt đêm mơ đến Tổ quốc mình" (4).

Tiếng Pháp - với văn phong "rất Pháp", như nhận xét của Phạm Huy Thông năm 1974 khi ông có trách nhiệm chuyển dịch sang tiếng Việt các văn bản truyện và ký Nguyễn Ái Quốc, viết vào đầu những năm 1920 thế kỷ XX ở Pari. Nhưng với nhà thơ Nga Ôxíp Manđenxtam, trong cuộc gặp Nguyễn vào cuối năm 1923, ở Pari, thì thứ tiếng Pháp đó như bị "nén lại", bởi "tiếng mẹ đẻ": "Đồng chí nói tiếng Pháp, nói bằng cái thứ tiếng của bọn áp bức, nhưng những lời bằng tiếng Pháp vang lên một cách mờ nhạt tựa như tiếng chuông bị nén lại của tiếng mẹ đẻ"(5).

          Viết bằng tiếng Pháp cho các tờ báo lớn theo xu hướng tiến bộ của Pháp ở Pari, rồi làm báo bằng tiếng Pháp ở Pari - đối tượng đọc chủ yếu của Nguyễn lúc này là người Pháp. Nhưng ngay cả ở Pari - Nguyễn cũng không lúc nào nguôi quên viết bằng tiếng Việt cho người đọc là đồng bào mình, trước hết là bộ phận người xa xứ ở Pháp, và sau đó là tất cả đồng bào đang bị đầy ải ở quê hương. Với hai ngôn ngữ Pháp và Việt, Nguyễn sẽ trở thành người đặt nền móng, người khai sáng cho trào lưu văn học cách mạng và hiện đại Việt Nam. Cách mạng - vì mục tiêu cao nhất là lật đổ ách thực dân, thiết lập nền dân chủ. Hiện đại - là sự hoà nhập, và sớm trở thành một bộ phận của nền văn học tiến bộ của thế giới trong thời đại đế quốc chủ nghĩa.

*  *  *

          Trở lại các sự kiện lớn trong hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Pari. Hơn một năm sau ngày gửi Yêu sách đến Hội nghị Vécxay, đó là giây phút Nguyễn được đọc Đề cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, đăng trên Nhân đạo, ra ngày 16 -17 tháng 7-1920. Về sự kiện này, Nguyễn đã có lần viết, đại ý: Được đọc Đề cương, Nguyễn sung sướng và cảm động xiết bao. Ngồi một mình trong buồng kín mà Nguyễn nói to lên như nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!".

          Có thể nói đó là giây phút bừng sáng của trí tuệ, là bước ngoặt quyết định trên đường hoạt động của Nguyễn. Cũng là giây phút đánh dấu hạt giống đầu tiên của cách mạng Việt Nam được một người gieo trồng, hoặc chính Nguyễn là hạt giống đó - trong bối cảnh thế giới còn đang chìm trong bóng đêm của chủ nghĩa thực dân; và thế giới mới ở Liên Xô cũng chỉ vừa ra đời 3 năm, còn trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc. Được soi sáng bởi Đề cương, Nguyễn sẽ có dịp cụ thể hoá và hình tượng hoá thực trạng và lối thoát của nhân loại da mầu trong hình ảnh chủ nghĩa đế quốc như một con đỉa có hai vòi - một so sánh, nếu không phải là người sinh ra từ những cánh đồng khô hạn hoặc trắng băng lũ lụt của các xứ sở châu Á, châu Phi, sẽ không thể tìm ra được "Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một cái vòi thôi thì cái vòi kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra" (6).

          Từ đây, với Nguyễn, là sự triển khai khẩn trương một sự nghiệp viết liên tục và kiên định nhằm cảnh tỉnh thế giới phương Tây và thức tỉnh thế giới phương Đông. Từ Đề cương này của Lênin và hoạt động của Đệ tam Quốc tế, Nguyễn sẽ mạnh mẽ dấn thân vào trường hoạt động chính trị, tham gia vào phe cánh tả của Đảng Xã hội trong Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua, từ 25 đến 30-12-1920; và là thành viên sáng lập của Đảng Cộng sản Pháp trong Đại hội đầu tiên họp vào sáng 30-12-1920.

          Tốc ký biên bản Đại hội Tua lịch sử cho ta được biết lời phát biểu cháy bỏng tình yêu nước của một thanh niên mất nước đã tìm được sự chia sẻ của tình đồng chí ở chính quốc. Những hoan hô, vỗ tay và ngắt lời của cử tọa trước tình cảnh thuộc địa lần đầu tiên được phơi bày, và cả sự chỉ trích gay gắt toát ra từ một trái tim sôi nổi - đã ghi nhận sức mạnh tiếng nói của một đại biểu thuộc địa trên diễn đàn thế giới: "Nếu đồng chí không lên án chủ nghĩa thực dân, nếu đồng chí không bênh vực các dân tộc thuộc địa thì đồng chí làm cái cách mạng gì?"(7).

          Từ Đề cương của Lênin và việc tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, con đường cứu nước của Nguyễn đã được soi sáng bằng lý luận và từ lý luận được soi sáng, Nguyễn bắt đầu đi vào con đường tổ chức, tập hợp lực lượng, cũng chính trên địa bàn Pari. Đó là Hội liên hiệp thuộc địa (L'Union Intercoloniale) được thành lập năm 1921, với cuộc họp đầu tiên vào ngày 9-10-1921; và 6 tháng sau, ra đời cơ quan ngôn luận của Hội là tờ Le Paria (Người cùng khổ), ra số đầu vào 01-4-1922 mà Nguyễn là người sáng lập, chủ bút và tổ chức toàn bộ công việc của Toà soạn. Có một cơ quan ngôn luận ở Pari; lại học được nghệ thuật viết báo nhờ vào sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí bạn, Nguyễn đã viết và cho in hàng loạt bài gồm tiểu phẩm, phóng sự, truyện, chính luận trên Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân… trong đó có các tác phẩm đích thực là văn chương hoặc có giá trị cao về văn chương như Pari (Nhân đạo; 30 và 31-5-1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (Nhân đạo; 24-6-1922), Con người biết mùi hun khói (Nhân đạo; 20-7-1922), Sở thích đặc biệt (Le Paria, 1-8-1922), Đồng tâm nhất trí (Nhân đạo; 29-9-1922)…

          Đây chỉ là lược kê những bài có giá trị văn chương, hoặc đích thực là tác phẩm văn chương, trong rất nhiều bài sau này - nếu tính từ khi có bản dịch ra tiếng Việt - phải đến đầu những năm 1960 - mới được công bố trong Bản án chế độ thực dân Pháp và trong hai tuyển Lên án chủ nghĩa thực dân, và Đây, "công lý" của thực dân Pháp ở Đông Dương, nhờ vào công sưu tầm và lưu trữ của Đảng Cộng sản Liên Xô. Quả là một sức sáng tạo đã được khơi nguồn, và tuôn chảy thật dồi dào vào năm 1922 và nửa đầu năm 1923, trong đó, áng văn có sự ra đời rất đặc biệt là truyện ngắn Pari đăng trên Nhân đạo, số ra ngày 30 và 31-5-1922. Theo lời kể của Nguyễn sau này, Pari đã được viết bởi một hào hứng rất bất ngờ - sau khi đọc một truyện ngắn của văn hào Nga L.Tônxtôi: "Khi đã biết viết báo mình lại muốn viết tiểu thuyết. Nhưng lại nghĩ rằng biết chữ Tây võ vẽ như mình thì viết tiểu thuyết sao được! Tình cờ đọc một truyện ngắn của Tônxtôi thấy viết một cách rất giản dị, dễ hiểu, thì cho rằng mình cũng viết được. Từ đó mình bắt đầu viết truyện ngắn… Lúc đó mình sống ở khu phố công nhân nghèo, hiểu rõ đời sống của họ, mình cứ viết những điều mắt thấy tai nghe…"(8).

          Việc học tập L.Tônxtôi còn được tác giả kể lại một lần nữa trong một bài viết cho báo Văn học (Liên Xô) số ra ngày 19-11-1960, nhân kỷ niệm 50 năm mất của nhà văn Nga vĩ đại.

          Những ảnh hưởng của văn chương hiện đại phương Tây rất cần được xem là một nguồn nuôi dưỡng, một hỗ trợ tích cực cho sự hình thành văn học cách mạng Việt Nam - mà người đại diện duy nhất, số một là Nguyễn Ái Quốc vào những năm 1920 "Về văn học, ông Nguyễn thích đọc Sếchxpia và Đíchken bằng tiếng Anh. Lỗ Tấn bằng tiếng Trung Hoa và Hugô, Zola bằng tiếng Pháp. A.Frăngxơ và L.Tônxtôi có thể nói là những người đỡ đầu văn học cho ông Nguyễn"(9).

          Những hồi nhớ sau đây rất quý giá giúp cho ta hình dung con đường Nguyễn Ái Quốc đi vào một sự nghiệp viết, trong đó có văn chương, để trở thành người mở đầu, người sáng lập nền văn học Việt Nam cách mạng và hiện đại.

          "Đọc những truyện ngắn của A.Frăngxơ và L.Tônxtôi, ông Nguyễn thấy hứng thú vì văn chương giản đơn và tự nhủ: Người ta chỉ cần viết điều gì người ta thấy và cảm, bằng cách nắm lấy mầu sắc và hoạt động của sự vật, như thế thì viết cũng không khó lắm"(10).

          Đó là lý do cho sự hình thành truyện ký Pari, rút từ những sự thật hằng ngày, sự thật đời thường ở ngõ hẻm Côngpoăng - nơi có căn gác trọ tồi tàn của Nguyễn, nơi Nguyễn chứng kiến sự phân đôi hai thế giới, nơi những nạn nhân của thế giới đại chiến cũng có mặt để cất lên tiếng nói tố cáo, ngay ở thủ đô chính quốc.

Pari đưa lại cho Nguyễn món nhuận bút 100 quan - đủ cho Nguyễn có thể đi thư viện suốt tháng mà khỏi phải lo cái sống hàng ngày.

          "Thành công đầu tiên này đã khuyến khích ông Nguyễn viết những truyện ngắn khác. Ngoài việc tả lại đời sống thợ thuyền Pari, ông thường viết về các thuộc địa, và đặc biệt là Việt Nam, không có một phút nào ông quên Tổ quốc mình đang bị giày xéo và đồng bào mình đang bị áp bức. Ông Nguyễn chỉ viết một quyển sách duy nhất là quyển Bản án chế độ thực dân Pháp"(11).

          Nền văn học hiện đại Pháp vào thời điểm Nguyễn ở Pari được đại diện bởi Macxen Prútx, Pôn Valêri, Andrê Giđơ… Nhưng sự gần gũi về tư tưởng chính trị và quan niệm nghệ thuật lại đưa Nguyễn đến gần với Anatôn Frangxơ; và Hăngri Bacbuytx, tác giả cuốn tiểu thuyết chống chiến tranh rất nổi tiếng: Khói lửa, cũng là người đỡ đầu cho sự nghiệp văn học và báo chí của Nguyễn. Trụ sở Hội Ánh sáng (Clarté) - Hội quốc tế các nhà văn tiến bộ do H.Bacbuytx làm Chủ tịch đặt ở số nhà 16 phố Giắccơ Calô, đã nhường một phòng cho Toà soạn Người cùng khổ, trong thời gian đầu ra báo, trước khi về trụ sở chính ở nhà số 3 phố Macsê đề Patriacsơ. Chính từ trường tri thức cách mạng với những đại diện ưu tú của nền văn hoá Pháp như A.Frăngxơ, H.Bacbuytx, G.Lôngghê, G.Môngmutxô, Macxen Casanh, Pôn Laphacgiơ, Pôn Vayăng Cutuyariê… đã đưa Nguyễn nhanh chóng và tự nhiên vào sự nghiệp báo chí cách mạng và văn chương hiện đại. Và nếu hiểu nền văn học mới của giai cấp vô sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa là một hiện tượng thế giới, thì truyện ký Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp những năm 1920 thế kỷ XX là hiện tượng tiền trạm, mở đầu, có ý nghĩa soi sáng, chuẩn bị cho nền văn học vô sản Việt Nam, phải chuyển sang những năm 1930 mới thành một dòng bên những dòng khác trong bối cảnh xã hội thuộc địa.

*  *  *

          Cùng với việc khai trương vào tháng 4 - 1922 tờ Người cùng khổ, và cho đăng khá dồn dập những truyện ký trên báo Nhân đạo năm 1922, còn phải kể đến một sự kiện có tiếng vang khá rộng rãi trong đời sống văn hoá - chính trị ở Pari - đó là cuộc Triển lãm thuộc địa do chính quyền thực dân ở chính quốc tổ chức, khai mạc ngày 21-6-1922 và kéo dài trong 6 tháng, nhằm tuyên truyền, khuếch trương chính sách khai thác thuộc địa, đồng thời với việc ấn hành cuốn Khai thác các thuộc địa Pháp dài 675 trang của Bộ trưởng Bộ thuộc địa Anbe Xarô. Sự kiện vua An Nam là Khải Định sang Pháp ngày 21-6-1922 dự Triển lãm đã là cơ hội cho Nguyễn Ái Quốc lập tức viết ngay vở kịch Con rồng tre (Le dragon en bambou) để trực tiếp đánh vào bọn tay sai Nam triều. Vở kịch đã được diễn ở Câu lạc bộ Ngoại ô (Faubourg) và nhận được sự hoan nghênh nồng nhiệt của khán giả; nhưng đáng tiếc là văn bản vở kịch không còn. Ngót 30 năm sau ta mới được biết về nó qua lời kể của Trần Dân Tiên trong Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch: "Có những cây tre thân hình quặt quẹo. Những người chơi đồ cổ lấy về đẽo gọt thành con rồng. Nó là một đồ chơi. Là con rồng nhưng thật ra chỉ là một khúc tre. Là một khúc tre, nhưng lại hãnh diện có tên và hình dáng con rồng. Tuy vậy chỉ là một con quái vật vô dụng"(12). Cũng theo Trần Dân Tiên vở kịch này bị Chính phủ Pháp cấm. Nhưng nó vẫn được Câu lạc bộ Ngoại ô trình diễn tại Gácsơ - một thị xã gồm 2 vạn dân ở ngoại ô Pari, trước hàng vạn khán giả Pháp, Việt kiều và kiều dân các thuộc địa khác trong ngày hội hàng năm của báo Nhân đạo "Vở kịch được trình diễn trên sân khấu ngoài trời giữa một công viên đầy bóng mát và nắng ấm. Trước lúc mở màn, tác giả vở kịch xuất hiện giữa những tiễng vỗ tay vang dậy. Tác giả tranh thủ báo những tin thời sự mới nhận được từ các thuộc địa về cuộc bãi công của công nhân Việt Nam, của nông dân ở Goađơlúp, Đahômây, Tuynidi…"(13).

          Theo Trần Dân Tiên, vở kịch được các nhà văn nghệ "khen hay". Trước đó, vào năm 1946, nhà báo Pháp Lêô Pônđet khi được tiếp kiến Hồ Chủ tịch ở Pari cũng đã có kể cho tác giả nghe về vở kịch này với lời bình: "… thật là hay, thật là đẹp, lời vừa chải chuốt, vừa gọn gàng với những cái châm biếm, dí dỏm của Aristophane; bản kịch này có đủ ưu điểm để mang lên sân khấu" (14).

          Ngót 10 năm sau, năm 1955, nhà báo Mỹ Rôbớt Saplân, trên tờ Thông tin viên, cũng có nhận xét như Pônđet về giá trị hài hước kiểu Aristophane trong vở kịch (15).

          Đối với Nguyễn Ái Quốc ở Pari, quả hiếm có cơ hội nào thích hợp hơn cho việc ra đòn một cách trực tiếp vào thế giới quan trường An Nam qua một đại diện đớn hèn là Khải Định. Điều đáng lưu ý là trước khi diễn Con rồng tre, thậm chí ngay sau khi Khải Định đặt chân lên Mácxây vào ngày 21-6-1922 trên chiếc tàu Poóctốt của Hãng Đầu Ngựa, Nguyễn Ái Quốc đã có một truyện để đón tiếp hoàng đế của xứ sở mình, đăng trên Nhân đạo số ra ngày 24-6-1922, có tên Lời than vãn của bà Trưng Trắc - với lời đề từ: "Quốc vương nước Nam sắp làm "khách của nước Pháp". Gọi là có lời chào mừng tí ti, chúng tôi kính dâng ngài giấc mộng này của đồng chí Nguyễn Ái Quốc của chúng tôi, người bầy tôi trung thành của ngài". Đây là truyện viết theo phong cách huyền thoại cho đối mặt và đối thoại hai nhân vật đứng ở hai cực thời gian và hai cực tư cách là Bà Trưng và Khải Định. Một hồn ma linh thiêng ở tầm cao vời vợi và một hoàng đế đương chức xám nhợt lẩy bẩy. Lịch sử dân tộc qua cuộc đối thoại này mà hiện lên trên những trang sáng ngời, lẫm liệt và đang rơi vào tận đáy sự sỉ nhục bởi một tên vua hèn hạ. Tan giấc mơ kinh hoàng phải đối diện với Bà Trưng, Khải Định lập tức trở về với cõi thực trước lệnh phán truyền của ông chủ thực dân bên Toà Khâm chuyển sang…

          Tiếp tục và đạt đỉnh cao của giá trị phê phán Khải Định còn có truyện Vi hành, đăng trên Nhân đạo, 19-2-1923 - một truyện ngắn với phong cách viết rất hiện đại, dưới hình thức một bức thư gửi cô em họ bằng tiếng Việt, được tác giả dịch sang tiếng Pháp… Cô em họ giả định này ở quê nhà, sẽ qua bức thư của ông anh giả định mà biết được cặn kẽ hành trang của Hoàng đế nước mình trong những ngày ăn chơi, trác táng đáng xấu hổ ở Pari. Vi hành vừa có giá trị hạ nhục tên vua bù nhìn, vừa chứng minh sự dò la, rình rập, săn đuổi của cảnh sát đối với tất cả những người Việt Nam yêu nước trên đất Pháp - trong đó Nguyễn là một trong số ít người được trông nom nhiều nhất: "Suốt trong thời gian Khải Định ở lại Pháp, ông Nguyễn ngày đêm bị hai tên mật thám theo dõi không rời một bước"(16).

          "Cái vui nhất là ngay đến Chính phủ cũng chẳng nhận ra được khách thật của mình nữa, và để chắc chắn khỏi thất thế trong nhiệm vụ tiếp tân, Chính phủ bèn đối đãi tất cả mọi người An Nam vào hàng vua chúa và phái tuỳ tùng đi hộ giá tuốt (…). Có thể nói là các vị bám lấy đế giày tôi, dính chặt tôi như hình với bóng. Và thật tình là các vị cuống cuồng cả lên nếu mất hút tôi chỉ trong dăm phút"…(17)

          Rời quê hương từ 1911, đến lúc này Nguyễn mới có cơ hội tiếp tục cơn giận lớn của các nhà Nho sĩ phu đối với bọn vua quan phong kiến đớn hèn. Với kịch Con rồng tre và những bài chung quanh sự kiện Khải Định sang Pháp, Nguyễn Ái Quốc là người duy nhất tiếp tục chủ đề chống phong kiến Nam triều của các nhà Nho đầu thế kỷ. Hoạt động đó của Nguyễn được sự hưởng ứng của Phan Châu Trinh - lúc này cũng đang cùng Nguyễn Ái Quốc ở Pari, trong bức thư gửi Khải Định ngày 15-7-1922 nêu 7 tội lớn của y. Bức thư viết bằng chữ Hán, rồi được dịch ra tiếng Pháp, đăng báo và phát thành truyền đơn "để cầu công luận của người Pháp"(18).

*  *   *

          Tháng 6-1923 Nguyễn bí mật rời Pháp để sang Nga, theo con đường qua Béclin, rồi theo đường biển đến Xanh Pêtecbua. Nguyễn đi trong bí mật, sau khi để lại cho các đồng chí ở Toà soạn Người cùng khổ bức thư chia tay: "Đối với tôi câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ vào đấu tranh giành tự do, độc lập(19).

          Vậy là Nguyễn đã ở Pari trong 6 năm; 6 năm với bao là công việc trọng đại đã được triển khai ở tư cách người cách mạng, tư cách người làm báo, viết báo, và cả tư cách người viết kịch, viết văn - trên cả hai ngôn ngữ Pháp và Việt. Tuy rời Pháp, nhưng Nguyễn vẫn tiếp tục các hoạt động viết của mình bằng tiếng Pháp trên Le Paria và các báo ở Pari, như Đoàn kết giai cấp (Le Paria - 5-1924), Con rùa (Le Paria - 2-3-1925), Những trò lố hay Varen và Phan Bội Châu (Le Paria - 9-10-1925)… Và đặc biệt đáng nhớ là Nguyễn đã cho ấn hành ở Pari tác phẩm quan trọng nhất trong giai đoạn mở đầu sự nghiệp viết của mình là Bản án chế độ thực dân Pháp (Le procès du colonialisme francaise).

          Theo Trần Dân Tiên đây là quyển sách duy nhất trong thời gian Nguyễn ở Pari.

          Duy nhất và lớn nhất trong giai đoạn đầu hành trình viết của Nguyễn Ái Quốc.

          Nói là một quyển sách thì rất đúng, bởi sự chặt chẽ trong cấu trúc của nó gồm 12 chương, chứ không phải là những bài lẻ đăng trên các báo, phải nhiều chục năm sau mới được gom lại thành sách như Lên án chủ nghĩa thực dân và Đây, "công lý" của thực dân Pháp ở Đông Dương. 12 chương, với mục tiêu quán xuyến là kết án chủ nghĩa thực dân, nhằm hoàn thiện một bản cáo trạng - nhân danh các dân tộc thuộc địa, trong đó có dân tộc Việt Nam, bắt đầu từ Chương I là Thuế máu, qua các Chương: Việc đầu độc người bản xứ, Các quan thống đốc, Các quan cai trị, Những nhà khai hoá, Tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị, Bóc lột người bản xứ…          Rồi chuyển sang các chương Công lý, Chính sách ngu dân, Chủ nghĩa giáo hội, Những khổ nhục của người bản xứ, để đến kết thúc là chương Nô lệ thức tỉnh, cùng với Phụ lục là một bức Thư gửi thanh niên.

          Năm 1925, cùng với việc ấn hành Bản án chế độ thực dân Pháp, còn là năm ra mắt truyện ngắn Những trò lố hay Varen và Phan Bội Châu (Le Paria; số 9 và 10-1925). Một sự hưởng ứng thật tuyệt vời. Phan Bội Châu - bạn đồng hương, đồng môn của Nguyễn Sinh Sắc, bậc tiền bối cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn đã rất kịp thời có một áng văn tôn vinh Phan Bội Châu, vị thiên sứ, tuy bị cầm tù vẫn lẫm liệt tư chất người anh hùng dân tộc trong đối diện và đối lập với Toàn quyền Varen, viên chính khách lớn của Đảng Xã hội Pháp đã đi vào con đường phản bội.

          Bản án chế độ thực dân Pháp xuất bản năm 1925 ở Pari, mãi đến 1946 mới được ấn hành ở Hà Nội, và đến 1960 mới có bản dịch ra tiếng Việt, sau 35 năm ra đời. Cùng với Bản án chế độ thực dân Pháp, một số phóng sự, tiểu phẩm, ký, truyện khác được Nguyễn Ái Quốc viết ở Pari trong thời gian từ 1920 đến 1925 cũng phải đến 1972 mới được dịch ra tiếng Việt; trong đó một số truyện, ký đích thực có giá trị văn học thì mãi đến 1974, tức là 5 năm sau ngày Hồ Chí Minh qua đời, bạn đọc mới được biết đến, qua bản dịch và giới thiệu của Phạm Huy Thông. Có sự chậm muộn như vậy trong ấn hành bởi những gì có liên quan đến sự nghiệp viết của bản thân, lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tránh nói đến. Ngay cả Ngục trung nhật ký và bản dịch Nhật ký trong tù được công bố năm 1960 và ấn hành hàng nhiều chục vạn bản, chỉ khi nào được hỏi chuyện Bác mới nói qua về hoàn cảnh ra đời của tập thơ, và đều không nhận mình là nhà thơ.

          Thế nhưng, Người có một sự nghiệp viết chẵn 50 năm, kể từ Yêu sách của nhân dân Việt Nam (1919) đến Di chúc (1969), con người đó, ngay từ khi bắt đầu sự nghiệp viết, và vào bất cứ lúc nào, cũng tràn ngập một bầu nhiệt huyết, và kiên định một ý chí chống chủ nghĩa thực dân… Do vậy điều dễ hiểu: 6 năm ở Pari đã là một cơ hội lớn và thích hợp cho Nguyễn Ái Quốc thực hiện mục tiêu cảnh tỉnh và thức tỉnh đối với một bộ phận công chúng ở chính quốc và các thuộc địa, trong đó có Đông Dương. Cảnh tỉnh thế giới phương Tây và thức tỉnh thế giới phương Đông. Thể hiện sinh động và sắc sảo nội dung đó và xu thế đó, những trang viết đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc ở Pari đã trở thành một bộ phận hợp thành của trào lưu vô sản - cách mạng trong văn học hiện đại thế giới có khởi nguồn từ Công xã Pari 1871, trước khi xuất hiện thành một dòng, một khuynh hướng sáng tác ở Việt Nam, vào đầu thập niên 1930 thế kỷ XX, sau sự kiện Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, mà tác phẩm Nhật ký chìm tàu, hơn 100 trang, in bằng chữ Quốc ngữ và số lớn hơn bằng chữ Nôm của chính Nguyễn Ái Quốc, là tác phẩm mở đầu.

*  *  *

          10 thế kỷ văn học trung đại Việt Nam đã mượn chữ Hán và dựa vào chữ Hán để xây dựng nền văn học viết cho mình; và dẫu bằng chữ Hán, nó vẫn là bộ phận hợp thành hữu cơ của văn học dân tộc. Thế kỷ XX, cùng với chữ Quốc ngữ đến từ mẫu tự la tinh của phương Tây và chữ Hán vẫn được tiếp tục từ Phan Bội Châu đến Hồ Chí Minh, lại có thêm một bộ phận viết bằng chữ Pháp của Nguyễn Ái Quốc ngay trên địa bàn Pari - nơi là trung tâm của chủ nghĩa tư bản hiện đại và cũng là trung tâm của phong trào cách mạng vô sản hiện đại.

Vậy là, chính Nguyễn Ái Quốc, trên hành trình tìm đường cứu nước của mình, đã tạo nền móng cho nền văn học mới của dân tộc, từ những năm 1920 thế kỷ XX trên địa bàn Pari. Một nền văn học, từ khởi điểm đã mang hai thành tố cơ bản là cách mạng và hiện đại, nhằm thỏa mãn hai yêu cầu cách mạng hóa và hiện đại hóa, được lịch sử đặt ra cho dân tộc, trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, thời đại của sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

 

Chú thích

1. Dẫn theo Tổng tập văn học Việt Nam; Tập 36; Nxb. Khoa học Xã hội; H; 1980; tr64.

2. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch; Nxb. Sự thật; H; 1975; tr35.

3. Tổng tập; Sđd; tr.67-68.

4. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch; Nxb.Sự thật; H;1975; tr.35; tr.49.

5. Đăng trên Ngọn lửa nhỏ (tiếng Nga), số 39; 23-2-1923; chuyển dẫn theo Niculin: Văn học Việt Nam và giao lưu quốc tế; Nxb Giáo dục; H; 2000; tr 579.

6. Hồ Chí Minh: Tuyển tập; Nxb Sự thật; H; 1960; tr.179.

7. Dẫn theo Hồng Hà: Thời thanh niên của Bác Hồ; Nxb. Thanh niên; H;1976; tr.106.

8. Về công tác văn hoá - văn nghệ; Nxb.Sự thật; H; 1977; tr.61-62.

9, 10. Những mẩu chuyện…; Sđd; trang 36.

11. Những mẩu chuyện…; Sđd.

12. Những mẩu chuyện…; Sđd.

13, 14. Tổng tập; Sđd; tr.106-107.

15. Tổng tập; Sđd; tr.106-107.

16. Truyện và ký; Nxb. Văn học; 1974; tr.29.

17. Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp; Nxb. Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh; 2000; tr.368.

18.19. Những mẩu chuyện…; Sđd; tr.52.

 

Trung Sơn

          "Theo quan niệm xưa, số lẻ thuộc hành dương, số chẵn thuộc hành âm. Trong đó, 9 là số lớn trong dãy số dương nên còn được gọi là cực dương và chứa đựng nhiều ý nghĩa tốt lành. Theo số học, số 9 cũng rất đặc biệt bởi nếu nhân với một số bất kỳ có một chữ số, tổng của hai số trong kết quả sẽ luôn là 9. Trong tiếng Trung, phát âm của số 9 trùng với âm tiết của từ "cửu" trong vĩnh cửu…". Những "tín điều" này của các nước phương Đông thời xưa, nay vào "Google" sẽ thấy. Tuy không ai dám đoán chắc hễ trúng số 9 là "ngon lành", nhưng thiên hạ cứ thích chọn "nút số 9"!

          Vậy nên vào lúc đất trời giao mùa, Xuân 2019 đã gõ cửa, nhớ lại năm "số 9" trong cuộc đời Bác Hồ có lẽ cũng là điều có ý nghĩa và thú vị. Năm "số 9" đầu tiên đáng nhớ của Bác Hồ là năm 1909, cách đây tròn 110 năm! Chuyện chúng ta đều biết là năm 1908, sau khi tham gia cuộc đấu tranh chống thuế, cậu học sinh Trường Quốc học Huế Nguyễn Sinh Cung (còn gọi là Nguyễn Tất Thành - về sau trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh) không chịu khuất phục trước sự đe dọa và cám dỗ của mật thám Pháp, chẳng thà bị đuổi học để đi tìm cuộc sống tự do. Chúng ta cũng đã biết sau đó chàng thanh niên 20 tuổi Nguyễn Sinh Cung đã trở thành trợ giáo Trường Dục Thanh (Phan Thiết) trước khi vào Sài Gòn, rồi lên tàu biển tại Bến cảng Nhà Rồng để tìm đường cứu nước. Nhưng chàng thanh niên ấy rời Huế lúc nào và đi với ai về phương Nam xa xôi, đường sá cách trở, lại chưa có ai quen biết?

          Câu hỏi ấy, mãi sau này mới tìm được lời đáp xác thực. Theo "Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử" (NXB Chính trị Quốc gia - 2005), trong tờ trình của Bộ Lại ngày 29-5-1909 (ngày 14-4 năm Duy Tân thứ 3) hiện lưu tại Viện Hồ Chí Minh, ghi rõ việc cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy (tức Sắc) được cử làm Tri huyện Bình Khê (Bình Định) và Mật văn của Sở Mật thám Trung kỳ ngày 7/5/1920 ghi lời khai của bà Nguyễn Thị Thanh (chị của Nguyễn Sinh Cung) hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội) cho biết năm 1909, hai anh em Nguyễn Tất Đạt và Nguyễn Tất Thành đã cùng với thân phụ đi vào Bình Định khi cụ Huy vào đây nhận chức Tri huyện Bình Khê…

          Trong đêm khuya lạnh vắng ngày cuối năm, tôi lật mở những trang sử cũ, chợt vọng đến tiếng còi tàu khi vượt qua nút giao dưới chân dốc Bến Ngự. Tiếng còi tàu gợi nhớ chuyến "hành phương Nam" của ba bố con cụ Phó bảng hơn một thế kỷ trước(1). Sử sách chỉ ghi vắn tắt rằng khi cụ Huy được bổ làm Tri huyện Bình Khê, cụ đã đưa cả hai anh em đi theo, nhưng với Nguyễn Sinh Cung, có thể gọi đó là một chuyến đi lịch sử. Tôi bỗng hình dung trên sân ga Huế ngày đó, cụ Huy, một lần nữa, bảo Nguyễn Sinh Cung: "Chỉ mình anh Đạt đi với bố được rồi. Con ở lại, có cụ Cao, thầy Miến giúp đỡ, răng cũng tìm được nơi học tiếp. Vô trong nớ, huyện Bình Khê giữa rừng sâu, núi thẳm…". Nguyễn Sinh Cung biết cụ Thượng thư Bộ học Cao Xuân Dục, thầy Lê Văn Miến cùng là người đồng hương xứ Nghệ, mà thân phụ từng qua lại, nhưng chí anh đã quyết. Thầy Miến cũng đã chia tay với anh, gợi ý cho anh về nơi dừng chân đầu tiên trên lộ trình tìm đường cứu nước là Tổ quốc từng giương cao ngọn cờ "Tự do - Bình đẳng - Bác ái"… Cũng chính vì thế, chỉ một thời gian ngắn sau khi đến Bình Khê, Nguyễn Sinh Cung đã trở lại thành phố Quy Nhơn, theo học tiếng Pháp với thầy Phạm Ngọc Thọ (là thân sinh của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch). Theo hồi ức của bà Phạm Ngọc Diệp (chị ruột của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch) hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội), Nguyễn Sinh Cung đã về Quy Nhơn cũng vào một thời điểm có "số 9" - đó là tháng 9/1909!

          Lâu nay, khi nói đến việc ra đi tìm đường cứu nước của Bác Hồ, sử sách thường chỉ nhắc sự kiện ngày 5/6/1911, anh Ba (tức Nguyễn Tất Thành) đến bến Nhà Rồng, xuống tàu Amiral Latouche Tréville để sang Pháp… Lịch sử không có chữ "nếu", nhưng từ những điều "giả sử", hậu thế sẽ hiểu vấn đề toàn diện hơn, đánh giá sự kiện đúng mức hơn. Phải! "Giả sử" ngày đó, Nguyễn Sinh Cung không lên chuyến tàu rời Huế? Có thể lắm, có tài liệu cho biết cuối năm 1908, chàng đã trở về quê Nam Đàn. Và Huế, dù đang phải sống dưới chế độ phong kiến thuộc địa, vẫn là vùng đất giàu truyền thống văn hoá, sông núi hữu tình, nơi hội tụ giới tinh hoa của đất nước; nơi đây, chàng từng có bao kỷ niệm, bao thầy trò thân quen, có ngôi mộ người mẹ yêu quý bên núi Ngự Bình cỏ vừa lên xanh đang thiếu người hương khói… Tất cả, đều có sức níu giữ Nguyễn Sinh Cung ở lại Huế. Giả như điều ấy xảy ra thì không thể có chuyện Nguyễn Sinh Cung trở thành trợ giáo trường Dục Thanh (Phan Thiết) và tất nhiên không thể có việc "anh Ba rời bến Nhà Rồng tháng 6/2011"! Nhưng chàng đã quyết lên đường! Cả đến năm 2010, khi cụ Phó bảng và anh trai của chàng buộc phải trở lại Huế, Nguyễn Sinh Cung vẫn kiên trì giữ hướng đi đã chọn "Hơn hai mươi triệu con Hồng cháu Lạc, quyết không chịu làm nô lệ… Tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đang vang dội…". Chỉ với những điều tâm huyết cao cả này, Nguyễn Sinh Cung mới đủ nghị lực thoát mọi ràng buộc, nhất quyết lên đường hướng đến chân trời mới. Hơn ba chục năm sau (năm 1941), điều này đã được Nguyễn Ái Quốc thể hiện trong lời kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên vì sự nghiệp giải phóng dân tộc…

          Vậy nên theo tôi, việc Nguyễn Sinh Cung rời Huế lên đường vô phía Nam năm 1909 xứng đáng là một chuyến đi có tính lịch sử! Phải! Chính là nhờ Nguyễn Sinh Cung quyết chí lên đường tìm chân trời mới ngày đó, đất nước Việt Nam mới có Chủ tịch Hồ Chí Minh!

***

          "Nút số 9" thứ hai của Bác Hồ cũng thật có ý nghĩa và lâu nay thường bị "chìm" sau sự kiện năm 1920. Một sự trùng hợp thú vị, sự kiện đặc biệt này xảy ra vào năm 1919, tròn một thế kỷ trước!

          Lâu nay, nói về giai đoạn đầu Nguyễn Ái Quốc hoạt động tại Pháp, công chúng chỉ nhớ đến sự kiện Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội Tour thành lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920. Thực ra, đây là hệ quả tất yếu của tình thế lúc đó và là kết quả của một quá trình mà những hoạt động năm 1919 là rất quan trọng. Gần đây, trong "Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử", lần đầu tiên công bố chính thức các hoạt động có thể nói là dày đặc của Nguyễn Ái Quốc năm 1919. Ở đây, chỉ xin dẫn ra 2 sự kiện có tầm quan trọng đặc biệt:

          "… Khoảng đầu năm, Nguyễn Ái Quốc vào Đảng Xã hội Pháp. Khi được hỏi vì sao vào Đảng, Nguyễn Ái Quốc trả lời: "Chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: TỰ DO, BÌNH ĐẲNG, BÁC ÁI".

          Chính nhờ tham gia Đảng Xã hội Pháp, "Nguyễn Ái Quốc có dịp gần gũi và hoạt động với các nhà hoạt động chính trị và văn hoá nổi tiếng của Pháp như Mácxen Casanh (Marcel Cachin), Pôn Vayăng Cutuyriê (Paul Vaillant Couturier), Lêông Bơlum (Léon Blum), Raymông Lơphevrơ (Raymond Lefèbvre), Giăng Lôngghê (Jean Longuet), Gaxtông Môngmútxô (Gaston Monmousseau), v.v.".

          Có thể nói, cũng chính nhờ thế, mà ngay từ buổi đầu hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm có phẩm chất một nhà văn hoá.

Sự kiện đặc biệt thứ hai trong năm 1919 của Nguyễn Ái Quốc là:

          "Thay mặt Hội Những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, Nguyễn Tất Thành gửi đến Hội nghị Vécxây (Versailles) bản yêu sách của nhân dân An Nam. Dưới bản yêu sách Người ký tên: NGUYỄN ÁI QUỐC. Bản yêu sách gồm tám điểm…"(2); trong đó có hầu hết những quyền tự do dân chủ cơ bản mà con người có quyền được hưởng như tự do báo chí và ngôn luận, tự do lập hội và hội họp…

          Một điều cũng thú vị là cùng ngày 18-6-1919, Nguyễn Tất Thành, ký tên là Nguyễn Ái Quốc đã gửi thư kèm bản Yêu sách cho Tổng thống Mỹ đang dự Hội nghị Hoà bình, đề nghị Ngài Tổng thống ủng hộ bản Yêu sách, chứng tỏ tầm nhìn xuyên thế kỷ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ tuổi thanh xuân.

          Đồng thời với sự kiện này, có 1 chi tiết nhiều người chưa biết là chính danh hiệu Nguyễn Ái Quốc được "khai sinh" ngày 18/6/1919 - thời điểm đưa bản Yêu sách đến Hội nghị Vécxây - hội nghị hòa bình tổ chức sau khi kết thúc Đại chiến lần thứ nhất (1914-1918). Tham gia dự thảo bản Yêu sách là bộ ba: Phan Châu Trinh - luật sư Phan Văn Trường - Nguyễn Tất Thành. Khi dự thảo Yêu sách hoàn thành, người viết bản Yêu sách ra tiếng Pháp là Phan Văn Trường, nhưng ai sẽ ký tên? Thoạt đầu, Nguyễn Tất Thành đề nghị cụ Phan và luật sư Phan Văn Trường đứng tên vì 2 người đã có uy tín lớn trong giới Việt kiều, nhưng sau một lúc bàn bạc, cụ Phan đề nghị phải dùng một cái tên tiêu biểu cho nguyện vọng chung của nhân dân. Tên Nguyễn Ái Quốc - Người Yêu Nước, ra đời từ đó. Và cũng từ đó, Nguyễn Tất Thành mang tên Nguyễn Ái Quốc!

          Tròn một thế kỷ đã qua từ ngày đó! Sự kiện này - từ 100 năm trước, khi đất nước còn chìm trong bóng tối của chế độ thuộc địa-phong kiến, một người dân "An Nam" mang tên Người Yêu Nước đã cất tiếng giữa Hội nghị quốc tế lớn gồm 27 nguyên thủ quốc gia hàng đầu thế giới đòi quyền sống, quyền tự do cho nhân dân Tổ quốc mình, có thể nói là "vô tiền khoáng hậu", là sự tiên báo tầm vóc lãnh tụ sẽ đưa dân tộc Việt Nam vượt qua mọi thác ghềnh, nhất quyết không cúi đầu trước mọi thủ đoạn của các cường quốc. Chính mật thám Pháp cũng đã thấy tầm vóc Nguyễn Ái Quốc từ ngày đó, nên suốt mấy tháng cuối năm 1919, chúng theo sát Nguyễn Ái Quốc hàng ngày, làm hồ sơ ghi lại mọi việc làm, mọi cuộc tiếp xúc của Nguyễn Ái Quốc…

***

          Chính từ bước khởi đầu đó, 10 năm sau - năm 1929 - vào lúc ba tổ chức cộng sản mới thành lập chưa tìm được tiếng nói thống nhất, "đồng chí Vương" (còn có bí danh là Lý Thụy, Tống Văn Sơ) - tên gọi của Nguyễn Ái Quốc lúc đó - là người đủ uy tín, đại diện Quốc tế Cộng sản, được mời về chủ trì Hội nghị thống nhất 3 đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam (Nguyễn Ái Quốc về Hồng Kông ngày 23/12/1929, nhưng do chờ đại biểu Đông Dương Cộng sản liên đoàn, nên ngày 6/1/1930 mới khai mạc Hội nghị).

          Lại 10 năm nữa qua! Một giai đoạn Nguyễn Ái Quốc đã trải qua biết bao thăng trầm. Có thể nói như thế, khi "Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử", dù rất tóm tắt, đã viết:      "… Hai lần bị giam cầm trong xà lim và ngục tù của bọn đế quốc phản động, cả hai lần đều bị ốm nặng và có tin đã chết(!). Trong việc đấu tranh để xác lập và bảo vệ đường lối cách mạng đúng đắn chống mọi khuynh hướng "tả" và "hữu" trong Đảng ta và trong Quốc tế Cộng sản, Người đã bình tĩnh, sáng suốt, kiên trì giữ vững quan điểm sáng tạo, đúng đắn của mình. Bằng dũng khí và trí tuệ, với sự tế nhị khéo léo, với ý thức tổ chức, kỷ luật, Người đã phấn đấu quyết liệt và bền bỉ để Đảng, do Người sáng lập, đi đúng đường lối mà Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định và ngày càng lớn mạnh…". Phải! Nhờ có "dũng khí" và cả sự "tế nhị, khéo léo, bền bỉ", Nguyễn Ái Quốc mới vượt qua mọi trắc trở, để đến tháng 8 năm 1939, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu một chặng đường mới có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự thành công của Cách mạng tháng Tám: Sau khi tổ chức cộng sản trong nước bắt liên lạc được với Nguyễn Ái Quốc, Trung ương đã quyết định cử cán bộ sang Quảng Tây, Vân Nam tìm đón Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng…

          Do thông tin thời đó còn thô sơ, Nguyễn Ái Quốc thì phải dời địa điểm liên tục, mãi đến mùa Xuân 1941, Nguyễn Ái Quốc mới vượt qua biên giới về tới Cao Bằng vào ngày mồng 2 Tết Tân Tỵ…

          Những sự kiện sau đó - nhất là từ khi Nguyễn Ái Quốc mang tên Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2/9/1945 - thì mọi người đã biết. Càng không thể quên vào ngày 2 tháng 9 năm 1969, Người "lên đường" đi gặp "các vị cách mạng đàn anh khác"… Trước khi "đi xa", đúng vào dịp kỷ niệm lần thứ 39 ngày thành lập Đảng, Xuân 1969, trong bài viết quan trọng "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân", thêm một lần nữa, Bác Hồ đã bày tỏ nỗi lo âu khiến Người luôn thao thức từ khi Đảng nắm quyền. Chính vì thế, Bác Hồ đã thiết tha nhắc nhở: "Mỗi cán bộ đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết…".

          Nhân ngày Xuân 2019, nhớ lại một vài sự kiện quan trọng có "nút số 9" trong cuộc đời Bác Hồ - nếu đó không phải là một "bí ẩn" của tạo hóa chưa giải thích được, thì cũng là một điều thú vị. Thật ra, điều quan trọng hơn, những sự kiện đó là bằng chứng sinh động và xác thực rằng, suốt cuộc đời, Bác Hồ luôn "hết lòng hết sức phục vụ Tổ̉ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân" như chính Bác đã viết trong Di chúc.

          Đây chính là "con đường Bác Hồ đã chọn" mà chúng ta nguyện đi theo - con đường CHÍ MINH sáng đẹp tạo nên sức mạnh đủ khả năng quét sạch mọi thứ rác rưởi, mọi loại cám dỗ luôn "phục kích" trong cuộc đấu tranh xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

          1909… 1969… Một trăm mười năm và nửa thế kỷ. Những "thước đo" thời gian đủ để thử thách và xác định những giá trị vĩnh cửu. Hy vọng Xuân 2019, cuộc khởi hành trên con đường lớn đó sẽ ngày một rầm rộ, tràn đầy khí thế tiến công như những cuộc xuống đường, những cuộc hành quân năm xưa đã làm nên kỳ tích trong sự nghiệp chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam...

Chú thích

(1). Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, đường sắt Huế-Đà Nẵng bắt đầu khai thác từ năm 1906, nên ông tin chắc rằng ba bố con cụ Huy đã rời Huế bằng tàu hỏa.

(2). Những dòng in xiên trong đoạn này đều dẫn từ "Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử".

 

Đậu Kỷ Luật

          Tết năm mới của các tộc người thiểu số luôn luôn giữ được nét cổ xưa hơn; phong tục đón tết phong phú và đa dạng. Tết còn là nơi xuất hiện "một sân khấu thời trang" lộng lẫy và còn là nơi gặp gỡ tình cảm với nhau. Biết bao đôi lứa xe duyên nên vợ nên chồng nhờ vào dịp lễ tết này. Tết xuân là dịp cộng cảm của con người và vạn vật, cộng cảm giữa người sống và người chết, cộng cảm cá nhân và gia đình, gia tộc, xóm thôn, làng nước.

          Một trong những tộc người ở miền Tây Nghệ An khá hấp dẫn là Tết Mông: có thể nói là tìm hiểu văn hóa Mông thì đến Tết Mông là thuận lợi nhất và khó quên được vì cái nét đặc sắc cộng cảm như nói trên là nổi bật.

          Về đến đầu bản, thấy sân chơi páo páo (ném còn) chật ních người. Những con ngựa hồng, ngựa trắng trong tàu ngựa rung chuông, gõ gót xuống sàn. Nhà nào nhà nấy đốt lửa từ gà gáy chuẩn bị đi lấy nước nguồn về cho ngày lễ. Mấy nhà mới chuyển về bản đang hối hả giã bánh dày. Mùi thịt nướng thơm ngọt bốc ngào ngạt. Những thanh gỗ thông làm bếp còn thơm mùi hương, bồ hóng chưa kịp bám. Mái lợp bằng gỗ pơmu sang trọng khoe sắc. Chiếc cối xay ngô, dân bản mới dùng xong, bột ngô vương tung tóe bám lên cả cột nhà. Lò rèn ông trưởng họ đã xếp gọn để đón tết. Tết Mông trước tết Nguyên đán khoảng một tháng. Quanh nhà nào, trên bàn thờ, nhà nấy cũng có những tờ giấy trắng tự làm dán trên vách gỗ, trước cổng ra vào cũng có giấy.

Nghề làm giấy

          Bộ đội ta về bản dự vui tết cứ ngắm những tờ giấy mà suy nghĩ, thì được ngay lời kể đầy tự hào của người già kể chuyện về người Mông biết làm giấy trước châu Âu hàng thế kỷ.

          Trước khi có giấy, thì người Tàu đã phải khắc chữ lên mai rùa, xương thú, kim loại, đá, thẻ tre, ván gỗ, dải lụa…, nhưng rồi xương thú, mai rùa đâu có nhiều, kim loại và đá thì quá nặng, còn vải lụa lại quá hiếm, tre gỗ chiếm thể tích rất lớn, tất cả đều sử dụng không hề tiện lợi. Thời đó Mặc Tử đi đâu cũng chở theo ba xe sách bằng tre, còn Tần Thủy Hoàng thì mỗi sáng phải vận chuyển bằng tay cả trăm cân văn thư cồng kềnh.

          Từ cái khó ló ra cái khôn. Người Trung Hoa tìm ra loại đay gai, vải rách, lưới đánh cá rách nát để chế biến ra giấy. Nhiều người cho rằng thực ra là sáng kiến của người Bách Việt chúng ta - trong đó có Miêu tộc - họ làm nghề, nấu lên làm giấy như ta nấu nồi bánh đúc mà thôi, không phức tạp gì lắm. Sau này họ lấy loại cây nứa, tre, vầu mọc tự nhiên ở trong rừng cao khoảng vài mét, chưa có lá. Coi như có sẵn kho vật liệu gửi trên rừng dùng dần. Bóc vỏ ngoài lấy phần ruột, chặt từng đoạn ngắn, chẻ thành nhiều mảnh nhỏ xếp vào chảo, bỏ dưới đáy một ít tro bếp để khi đem đun không cháy nguyên liệu. Cứ xếp xong một lớp lại rắc một lớp tro bếp. Xếp cho gần đầy, đổ nước vào lấp xấp, rồi lấy lá chuối rừng ủ kín miệng chảo, xong bắc lên bếp lò nấu như kiểu nấu bánh chưng 3 - 4 tiếng, khi lá chuối cháy hết ngả màu xám là được. Vớt số nguyên liệu đó bỏ vào trong giỏ mang ra suối rửa sạch tro bếp. Sau đó mang về ủ ở góc bếp 3 - 4 ngày. Áng chừng đã được, người ta lấy ra đặt lên ván gỗ, dùng thanh gỗ đập cho giập nát ra hết, đem bỏ vào thùng nước, dùng hai tay bóp cho nguyên liệu tơi ra, rồi vớt lấy bã, sau đó dùng một que dài ba gang tay khoắng đều trong thùng cho bã nổi lên quấn vào que rồi bỏ ra ngoài. Lúc này trong thùng chỉ còn tinh bột giấy. Cái khuôn không cố định các lần mà dùng xong vứt luôn, bữa sau cần thì làm lại bởi vì khuôn chỉ là một cái khung bằng nứa hình chữ nhật, dài 10 gang tay, rộng 5 gang, có buộc những đoạn nứa đóng đều nhau theo chiều rộng để giữ cho khung không bị xô lệch. Khung làm xong, lấy một tấm vải xung quanh khâu diềm rồi căng lên khung nứa tạo thành khuôn giấy, tùy theo số lượng tinh bột mà làm khuôn.

          Khuôn giấy làm xong xếp nằm trên mặt đất, nơi khô ráo, có ánh nắng. Chỉ còn việc lấy bát múc tinh bột đổ lên khuôn, đổ đến đâu giát mỏng đến đấy, khi khuôn đầy, lấy ống nứa lăn đều rồi phơi khô sẽ có giấy dùng. Giấy chỉ dùng tại nhà, tại bản khi có nghi lễ gia đình.

          Trước đây người ta cứ cho rằng nghề giấy có từ khoảng năm 150 Tây lịch, nhưng đến năm 1957 khai quật được ở ngoại thành phía Đông Tây An ở Bá Thước có loại giấy cổ đầu đời Tần Hán, trước Công nguyên 2 thế kỷ. Đó là loại giấy cổ nhất thế giới. Nghề làm giấy phổ biến ở người Tàu, người Bách Việt, sau đó truyền sang Việt Nam ngày nay, rồi đến Nhật Bản, Triều Tiên và sang thế kỷ thứ VIII mới truyền sang Ả Rập, tới I Rắc, Xy Ri… Giấy ở Ả Rập sản xuất nhiều bán sang châu Âu. Đến thế kỷ XII, thấy xuất hiện xưởng giấy ở châu Âu (Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Đức…). Khoảng năm 1800, nghề giấy được cơ giới hóa đầu tiên bằng chiếc máy làm giấy của người Pháp tên là Rô - be (Robert) và công nghiệp hiện đại biến giấy phát triển mạnh mẽ ở châu Âu.

          Lược sử ghi, vào năm 284 có một lái buôn nước Đông La Mã đã phải mua 3 vạn tờ giấy của nước ta để dâng vua Tấn Vũ Đế (265 - 317). Thế mà nghề giấy ở ta mai một, mãi tới thế kỷ X mới được phục hồi. Ta có tên làng Giấy, cầu Giấy… Theo Lê Quý Đôn trong "Vân đài loại ngữ" thì ta trồng nhiều cây gió để làm giấy rồi sau này dùng đến cây thượng lạc (hay còn gọi là cây niết  hay cây niệt) - loại này bên Tàu lúc bấy giờ chưa biết. Bởi vậy người ta nói người Viễn đông mình có tài phát minh nhưng ít có tài lợi dụng cái phát minh để phát triển tiến lên, nên thua người Tây phương, bởi thế mà nền kỹ thuật của mình non kém.

          Cái nghề làm giấy cho ta nhiều bài học lắm. Đó là lối tư duy bảo thủ trì trệ hạn chế phát triển.

          Nói đi vui tết là ta tìm hiểu được nhiều điều văn hóa thú vị là vậy.

          Tết đến, không ai là không lân la trò chuyện với ông trưởng họ về cái lò rèn. Chỉ tóm tắt thôi, ông cũng tự hào cao giọng, say mê: Tổ tiên người Mông xưa (người Hán gọi là Miêu) là dân trồng lúa nước nên họ quan tâm đến cái lò rèn. Rồi từ hồ Bành Lãi và Động Đình (thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay), chính là miền đất phía Nam Đông Á cổ đại. Một trong những tộc người nằm trong nhóm Bách Việt cổ xưa phải đương đầu với dân du mục phong kiến phương Bắc thượng võ. Họ chống cự không được, phải bỏ đất mà đi. Họ chạy mà vẫn phải đi thụt lùi để luôn để mắt nhìn về phía kẻ địch mà cảnh giác. Khẩu súng kíp Mông đi vào lịch sử, vào tính cách Mông (xưa ta hay gọi là Mẹo) là có cái lý của nó. Đọc sử ta, trong truyện Họ Hồng Bàng cũng nhắc ta về tộc người Miêu với nhân vật Suy Vưu. Cái mảnh đất mà tổ tiên người Mông sinh cơ lập nghiệp xa xưa là nơi có nghề làm thuốc súng, làm vũ khí khá sớm. Ít ra cũng có hơn 1000 năm nay. Vào đời nhà Đường (Trung Quốc) người dân vùng này đã biết làm thuốc súng. Cái tên hỏa dược (thuốc súng) có từ đây. Gọi là thuốc vì thành phần chủ yếu của thuốc súng là diêm tiêu lưu huỳnh là dược phẩm quan trọng có tác dụng trong các thuốc trị bệnh mẩn ngứa, phong thấp và sát trùng. Thuốc súng và hỏa khí phát minh ra ở Trung Quốc khoảng từ 1225 - 1248 truyền qua Ấn Độ, Ả Rập rồi sau người châu Âu mới học theo: Tây Ban Nha thế kỷ XIII, Anh, Pháp thế kỷ XIV.

          Người Mông ở vùng cao biết chế ra súng để giữ bản mường, chống thú rừng và kẻ địch. Người Mông bản Đống (Kỳ Sơn) đã nổi tiếng về đánh Pháp với người chỉ huy là ông trưởng họ Sùng Lừ, được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất tiếng vang cả Nghệ An và vang xa sang cả đất bạn Lào. Thủ lĩnh Mông Thao Tu chỉ huy bộ đội Pachay của Pa thét Lào khoe với cả bản mường người Mông Xiêng Khoảng, Nọng Hét, cả nước Lào.

          Chuyện trò về nghề giấy, nghề rèn rồi đi vào ăn tết trong từng gia đình. Lại cái điều hấp dẫn nhất trong ẩm thực Tết Mông là chuyện bánh dày.

          Đầu tiên phải kể đến nguồn nước. Tục thờ nước là một tín ngưỡng dân gian rất cổ của sinh hoạt văn hóa Mông. Các cụ già bảo nước là sữa của đất trời, là vàng, là bạc ông trời, bà đất ban cho, những đêm giá buốt nhất, nước đóng băng trên máng, dân bản đem được ra trong đêm tối mịt, cạy từng máng nước đóng băng sắp vào gùi mang về kịp hơ cạnh bếp lửa để sáng mai có nước dùng. Chọn nước hệ trọng lắm, khác nào đồng bào Kinh các cụ sai con gái chọn giếng làng nơi có mạch nước tốt, sạch sẽ nhất. Chỉ có nước giếng nào tinh khiết mới xứng với nước ngâm nếp làm bánh dày ngày tết. Nước đủ về ngâm nếp, các cụ, các mẹ mới vui lòng. Nếp được chọn những bông lúa mẩy hạt, mười hạt đậu mười, mùi thơm phức. Nhà nào cũng chọn một vài yến nếp. Xôi được đồ lên vừa độ, dẻo thơm, thấy đạt tiêu chuẩn các cụ mới cho vào cối. Vài chàng trai khỏe mạnh thay nhau giã thật mịn, thật dẻo. Tiếng chày, nhịp chày lúc này âm thanh nhẹ và nhặt hơn, dồn dập hơn. Giã cho tới khi xôi quánh chặt vào chày tất cả mới đạt yêu cầu; âm thanh tiếng chày lúc này mảnh và sắc hơn, bởi thêm tiếng chày gõ nhẹ vào miệng cối đã ngân dài như kết thúc bản nhạc. Có nhà kỹ tính hơn, lấy lòng đỏ trứng gà đã luộc xoa vào tay rồi nắm từng nắm bọc trong lá chuối non đã hơ héo. Bánh có thể dùng ăn ngay hoặc để vài ngày sau mới ăn, hay cắt thành từng lát rán mỡ sẽ nở to càng ngon. Trong số bánh làm ra, chọn ép những chiếc bánh có đường kính vài ba gang tay đặt lên bàn thờ cúng tổ tiên. Tết Mông không nhà nào thiếu bánh dày. Bàn thờ không thể thiếu bánh dày. Đây là vấn đề tâm linh ăn sâu vào máu thịt người Mông.

Chuyện kể, ngày xửa ngày xưa, trên đỉnh núi cao chót vót có những bãi chơi của con nhà trời. Người Mông không hề biết, thấy trống vắng nên kéo nhau lên đó làm nhà ở. Vua trời biết được, phái thần đuổi người Mông đi. Người Mông vốn gan chắc như chiếc đai thùng, không hề nhúc nhích một bước. Trời tức khí, bèn sai thần sấm băm vằm vách núi, dọa, nhưng người Mông vẫn trơ gan. Trời cấm thần nước không được mang nước đến cho người Mông. Rồi sai thần gió mang lạnh, rét cắt da cắt thịt đến bủa vây, nhưng người Mông không nản chí. Trời đành bắt giam ông tổ người Mông một nơi không đi lại được. Giam cầm, bị đói, cụ tổ mắt mờ, chân run. May sao gặp lũ trẻ bé tí bằng ngón tay cho ăn một thứ là lạ - sau này mới biết đó là cơm. Rồi cụ đi một quãng xem lũ trẻ chặt cây có nhiều hạt vàng óng ánh - đó là giống nếp, lũ trẻ đem ra vãi. Cụ biết đích xác đây là giống quý nuôi người nên cụ tỉa trộm một ít hạt cho vào túi để có dịp về gặp gia đình, họ hàng làm giống trồng. Một hôm mưa to gió lớn thổi bay cụ tổ vào phía Nam. Bỗng nhiên có chim đại bàng giang cánh rộng và cắp được cụ tổ về với con cháu. Thế là thoát khỏi địa ngục trần gian được về sống với con cháu. Từ đó trời cũng chịu thua không hành hạ người Mông nữa.

          Hạt giống của cụ tổ, lấy từ nhà trời về gieo lên nương, mọc nhanh cho hạt nhiều. Thu hoạch về xay giã, làm thành chiếc bánh hình tròn như mặt trời gọi là bánh dày.

          Từ đó trở đi, người Mông có phong tục ngày tết nhà nào cũng vậy, dù nghèo đến mấy cũng phải dành dụm để có mâm bánh dày to đặt trên bàn thờ để cúng tổ tiên, nhớ về cội nguồn và tạ ơn chim đại bàng đã giúp tổ tiên mình thoát nạn.

Du xuân

          Tết Mông có tục du xuân rất nhân văn. Xem hình ảnh đẹp, nghe âm thanh réo rắt bay bổng thì về du xuân hàng năm với người Mông. Trang phục ngày tết là đỉnh cao để tìm cái đẹp trong văn hóa mặc. Mà xưa nay, dân tộc nào thì phụ nữ cũng làm đẹp nổi trội nhất.

          Trang phục nữ là một tác phẩm nghệ thuật, là kỹ thuật và biểu cảm ở tâm - nét đặc sắc văn hóa Mông. Lòng mẹ là nước trong nguồn chảy ra là ở đây.

          Ta hãy bắt đầu bằng y phục cổ nhất và chung nhất của  nhiều tộc người ở Đông Nam Á. Đó là trang phục của người Mông (y phục và trang sức). Phụ nữ Mông hoa của hai nước Việt - Lào biên giới liền nhau. Gắn bó của người mẹ với người con gái từ thuở ấu thơ đến khi về nhà chồng.

          Tôi bảo đảm rằng một phong tục mà không đâu trên hoàn cầu này, Đông cũng như Tây có được là khi người con gái về nhà chồng, mẹ thường gửi theo dưới đáy hòm con gái bộ áo váy lanh do mẹ tự may, để đến khi về với tổ tiên thì nó lại lấy ra mặc khâm liệm chôn cất. Từ bé mẹ đã dạy con làm chiếc váy, người con gái 15 năm lao động để có kiểu váy ấy. Người Mông cho rằng dù đói rách, khi chết cũng phải có áo lanh mặc vào. Hồn của lanh đã ăn vào tâm thức Mông.

          "Chỉ có mặc vải lanh mới không lẫn tổ tiên, mặc vải lanh thì ma tổ tiên mới nhận được mặt con cháu".

          Chiếc váy trong lễ hội tết đặc sắc của phụ nữ Mông hoa ai cũng phải trầm trồ. Váy hình chóp cụt, nó là một tác phẩm nghệ thuật. Váy làm bằng sợi lanh. Thân váy là một tấm vải dài 7 mét, người ta gấp nhiều nếp trên cạp váy chỉ còn khoảng 90 cm. Cạp váy làm từ miếng vải rộng 40 cm, gấp làm đôi và khâu ôm lấy phần thân váy, người ta còn đính thêm một dải vải dài hơn 1,8 m vào cạp váy rồi quấn quanh thắt lưng. Phần tiếp giáp của hai vạt nằm ở phía trước, và được che bằng chiếc yếm rộng 30 cm, dài 80 cm. Yếm được giữ bằng một dải thắt lưng thêu hoa văn, ngày thường cũng như ngày lễ, người ta thắt váy nhiều thắt lưng. "Vành đai" vải này là giá đỡ chiếc gùi khi đi làm, hoặc chiếc địu trẻ nhỏ lúc ở nhà. Cô gái nhà giàu còn đính thêm vào thắt lưng những đồng bạc trắng.

          Đầu năm, cô gái trẻ nào cũng "khoe" tài của mình qua chiếc váy mới do tay mình làm. Đặc biệt nổi nhất và độc đáo là những hoa văn thể hiện trên chiều ngang chiếc váy chia làm bốn phần. Phần cuối chừng 25 cm là hoa văn hình học, những họa tiết hình vuông, hình quả trám, hình tam giác xếp ghép liền kề nhau. Trên đó chừng 15 cm là dải hoa văn đen đậm nằm giữa hai dải hoa văn đồng biến màu trắng nối đuôi nhau chạy quanh váy. Phần trên khoảng 30 cm lại thể hiện hoa chanh hình học kẻ mờ trên nền xanh sậm. Cuối cùng là phần eo. Bàn tay vàng của cô gái Mông tỉ mỉ rút sợi thành múi tạo ra nếp gấp ở eo; trên phần gấp ấy đính rất nhiều miếng vải hình khối nổi nhỏ bằng đầu ngón tay nối nhau quanh chiếc váy. Chiếc váy mặc vào ôm tròn lấy eo, sau đó bồng lên như chiếc đuôi công xòe. Cách bố trí hoa văn trên váy của họ làm ta liên tưởng đến cách bố cục hoa văn trên đuôi công. Ngoài váy là bộ xà cạp điểm hoa văn hình học quấn quanh bụng dưới và trên là chiếc khăn dài màu gụ được quấn nhiều lớp. Nhưng nổi bật nhất là trang sức vòng bạc, khuyên tai. Tết đến, phụ nữ Mông thường đeo ba kiểu hoa tai: kiểu hình mũi tên có vòng tròn bao quanh, kiểu hình chữ S, kiểu hình chiếc móc có nhiều vòng tròn nhỏ đính vào. Họ đeo nhiều vòng bạc to nặng ở cổ, thường từ 1 đến 7 vòng, có người còn móc thêm vào vòng có nhiều chùm xích bạc trắng có đuôi hình chiếc khóa, hình con cá, hình con bướm, hình bánh xe, hình cái chuông… Các cô gái trẻ còn đeo nhẫn bạc vào cả 10 ngón tay. Cổ tay đều có 3 - 4  vòng bạc lấp lánh.

          Đi chơi xuân, gái Mông ăn mặc lộng lẫy như vậy, ai biết rằng ngày thường leo núi, lên nương họ vất vả biết bao, đi từ gà gáy sáng đến tối mịt mặt trời lặn mới từ rừng trở về nhà lo cơm nước cho gia đình.

          Đi chơi xuân gọi là hội Gầu Tào, có nơi gọi là hội Sai Sán (Tây Bắc), lễ hội thường tổ chức trên một vùng đất rộng, dưới chân núi, hay trong thung lũng. Giữa rẻo đất, người ta dựng một cây tre làm cây nêu, trên ngọn được treo một dải vải đỏ và một quả bầu. Dưới gốc người ta bày la liệt đồ ăn uống, trong những chiếc nia, trên những tàu lá chuối xanh mướt. Trước khi vào lễ hội, những người cao niên đến thắp hương làm lễ dưới gốc cây nêu cho con cháu mạnh khỏe, bản làng yên vui, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, chăn nuôi phát đạt. Những trò chơi hội xuân: bắn nỏ, đánh quay, ném vòng, đánh yến, hát ống, ném páo páo (ném còn), hát giao duyên, múa khèn, nhiều nơi tổ chức đua ngựa. Riêng múa khèn, một đặc sản của văn hóa Mông, chúng ta đã có dịp giới thiệu trên Chuyên san KHXH&NV.

Do khuôn khổ, xin được nêu vài nét về hát giao duyên. Chơi xuân, trai gái Mông thích tỏ tình bằng những điệu ca, múa, nhạc. Dân ca Mông rất phong phú, có bài dài hàng trăm câu. Họ có tiếng hát mồ côi, tiếng hát làm dâu và tiếng hát vui náo nức là tiếng hát tình yêu. Bởi vậy mà nhà thơ lớn Chế Lan Viên đã khẳng định: "Những bài thơ này - có hàng trăm bài thơ như vậy - nó có thể không hổ thẹn trong những tập thơ của thế giới".

Tiếng hát tình yêu (Gầu Plềnh) xin trích mấy câu ngắn gọn, súc tích:

"… Gió về thổi lá cây bên nhà

Nếu ta là hạt mưa sương

Ta xin tan trên bàn tay nàng

Gió thổi lá cây ngả nghiêng bên suối

Nếu ta là hạt mưa sương

Ta xin tan dưới bàn chân nàng"

Và: "Đêm qua đêm tàn, ngày mai sáng lên

Ta lê bước vào nhà

Hồn như còn ở thắt lưng em

Đêm qua đêm lụi, ngày mai rạng

Ta quay gót về cửa phòng

Vía còn phủ cả khăn mặt"…

Và lấy điệu nhạc thủ thỉ tiếng đàn môi tình tứ chỉ đủ hai người nghe sao mà da diết lạ: "Con sâu ăn lá không ăn mầm

Con nhện giăng tơ chẳng được sợi tơ bóng

Vì mối tơ tình ta phải lần mò lúc đêm trăng.

Con sâu ăn lá không ăn mầm

Con nhện giăng tơ giăng được sợi tơ bóng

Vì mối tơ tình ta phải lần mò lúc canh khuya".

"Đôi ta lúc này ngồi bên nhau

Khác chi mặt trăng với mặt trời.

Để ta cầm que đo nước sâu hay không sâu

Đôi ta lúc này ngồi cạnh nhau

Khác chi mặt trời với mặt trăng

Để ta cầm que đo nước nông hay không nông"

Và đây nữa, có lạ không? Có đỉnh cao không? Nó vượt qua tất cả lễ giáo lâu nay mà "phải liều":

"Mình hỡi: Ta có thể bỏ ao nước trong của cha mẹ ta để lại

Ta cũng có thể lừa cả mẹ cha

Nhưng chàng trai cô gái yêu nhau

Bỏ nhau là nát ruột

Ta có thể bỏ ao nước cạnh

Của cha mẹ ta để cho

Ta cũng có thể xa cả cha mẹ

Nhưng người trai gái yêu nhau

Rời nhau là nát tim…"

Nhắc lại:

"Tiếng khèn biết nói không biết kết

Kết thứ như hoa đào nở trên núi cao".

          Múa khèn còn biểu hiện tinh thần thượng võ của người con trai, do giao hòa tiếp kiến văn hóa với cư dân du mục phương Bắc (nhóm Bách Việt), người Mông đến với âm nhạc không phải để giải trí, mà có thể âm nhạc, đặc biệt là "múa khèn" là hồn Mông độc đáo. Họ đánh giá cao chức năng giáo dục của âm nhạc trong đời sống. Có nhiều chuyện cổ tích sâu sắc. Xin kể ra đây một mẩu chuyện do nhạc sỹ Dương Hồng Từ ghi lại trong tác phẩm của ông năm 2010 "Âm nhạc dân gian dân tộc Mông ở Nghệ An" - Chàng trai dùng tiếng khèn để cứu vợ: "Già Ba Sử và Y Dơn sống với nhau thật đầm ấm và hạnh phúc, một cặp vợ chồng thủy chung, Nhưng xót xa thay, một hôm Già Ba Sử lên nương vợ ở nhà chưa kịp đi cùng, vợ chàng bị một con hổ lớn đến cướp mất. Về nhà, Già Ba Sử muốn vào rừng sâu để cứu vợ. Ngày đêm anh luyện võ, được người trưởng họ cho thanh kiếm quý gọi là có hồn của dòng họ khi cần kíp mới đem ra dùng. Và như có trời, đất, tổ tiên phù hộ. Khi võ nghệ đã thạo, sức đã được nâng lên, anh lên đường vác kiếm quý trong tay, cõng nhà trên lưng, đi tìm khắp rừng trên, suối dưới. Anh chỉ biết dùng khèn thổi gọi vợ bằng những bài mà khi yêu nhau, Y Dơn đã say mê thuộc lòng. Và đây rồi, con hổ xuất hiện, anh toan vung kiếm đọc mấy câu niệm khấn của người trưởng họ dạy. Chàng, lạ thay, tiếng nói từ con hổ kia: "Em là Y Dơn, là vợ anh đây, hổ xám đã bắt em mang lốt hổ. Con hổ ấy sắp về rồi đấy!...". Quả nhiên con hổ xuất hiện. Nó nhảy vào anh. Anh quần với hổ như mình có sức mạnh diệu kỳ của thần linh. Lại có sức mạnh của Y Dơn truyền thêm. Và rồi chàng chém chết con hổ xám kia.

          Bây giờ còn phải thay lốt hổ cho Y Dơn. Tiếng khèn lại vang lên cầu may… Thật kỳ diệu, linh thiêng làm sao, bỗng lốt hổ biến mất, hiện rõ Y Dơn xinh đẹp, nồng nàn. Vợ chồng đưa nhau về, không múa nhưng chàng vẫn thổi khèn bên nàng.

          Sau này hai vợ chồng con cháu đầy đàn, tình yêu thương hạnh phúc tràn trề…

 

Phạm Khắc Lanh

          1. Đặt vấn đề

          Mã Liềng là một trong 5 nhóm địa phương (cùng Sách, Mày, Rục, A Rem) hợp thành dân tộc Chứt, thuộc dòng Việt - Mường, hệ ngôn ngữ Nam Á, dân số khoảng 1.200 người1(1), cư trú chủ yếu ở Quảng Bình và Hà Tĩnh. Ở Hà Tĩnh chỉ có 42 hộ với 146 khẩu, cư trú ở bản Rào Tre (xã Hương Liên, huyện Hương Khê). Người Mã Liềng từ bao đời luôn xem hôn nhân là việc đại sự, nền tảng của việc duy trì nòi giống, hạnh phúc gia đình. Họ có quan niệm, phong tục, nghi lễ cưới hỏi mang nét đặc trưng riêng, góp phần tạo nên bức tranh đa màu sắc của các dân tộc ở Việt Nam.

          Cho đến nay, người Mã Liềng ở Hà Tĩnh đã được đề cập trong khá nhiều công trình nghiên cứu, nhưng chủ yếu mới được nhắc đến trong phần địa bàn cư trú, lịch sử tộc người, dân số hay thực trạng về kinh tế, văn hóa, xã hội,... riêng lĩnh vực hôn nhân với nhiều giá trị tốt đẹp chưa được nhiều công trình quan tâm. Bài viết nghiên cứu nghi lễ hôn nhân của người Mã Liềng ở bản Rào Tre, xã Hương Liên, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, qua đó nhấn mạnh những nét văn hóa đặc sắc cần được bảo tồn và phát huy trong bối cảnh hiện nay.

          2. Quan niệm về hôn nhân

          Thanh niên Mã Liềng, nam từ 15-16 tuổi, nữ từ 13-14 tuổi được tự do tìm hiểu, yêu đương, nhưng để trở thành người một nhà thì phải được sự đồng ý của cha mẹ. Tiêu chuẩn chung để lựa chọn chồng, vợ là gia đình phải đông anh em, người thân. Người Mã Liềng cho rằng, gia đình nào đông con, đông anh em sẽ dễ dàng giúp nhau trong những lúc khó khăn, hoạn nạn, trong sản xuất. Đối với người con gái phải chịu khó, thành thạo các công việc nội trợ và ứng xử lễ phép với cha mẹ, anh chị, họ hàng, dân bản. Đối với người con trai phải khỏe mạnh, thạo việc nương rẫy, đốn củi, bẫy thú, biết quan tâm đến gia đình nhà gái. Người Mã Liềng có quan niệm về "môn đăng hộ đối", đặc biệt là "môn đăng hộ đối" trong hành vi ứng xử gia đình. Do điều kiện sống tương đồng, các gia đình người Mã Liềng hầu như không có sự khác biệt nhiều về vật chất nên vấn đề "môn đăng hộ đối" về kinh tế có đặt ra nhưng không phải là ưu tiên quan trọng trong hôn nhân.

3. Giai đoạn trước đám cưới

* Tục ở rể (Cò mà tèm)

          Ở rể là tục lệ bắt buộc đối với nam thanh niên Mã Liềng trước khi lập gia đình. Sau khi tìm được cô gái mà mình ưng ý và muốn ở rể để tiến đến hôn nhân, chàng trai phải vào rừng chặt một bó củi đặt trước nhà cô gái, nếu đồng ý nhà gái sẽ lấy bó củi vào đun nấu, không đồng ý thì để nguyên. Thời gian ở rể thường kéo dài từ 2-3 năm, công việc hàng ngày của chàng rể là đi rừng làm rẫy, bẫy thú, lấy củi phụ việc cùng cha mẹ cô gái, hoặc theo cô gái vào rừng hái lượm, săn bắn. Trong thời gian ở rể, chàng trai phải thực hiện một số điều kiêng kỵ như: chỉ được sinh hoạt trong một góc phía ngoài buồng bên trái ngôi nhà, không được ngủ chung, ăn chung, không đi lên cầu thang bên phải ngôi nhà, không được ngồi gần bếp lửa của nhà gái. Việc ở rể trước khi tiến đến hôn nhân là một truyền thống văn hóa tốt đẹp của đồng bào Mã Liềng nhằm mục đích trả công cho nhà vợ, góp phần dạy cho chàng trai và cô gái cách làm ăn, phát nương rẫy, trồng trọt, chăn nuôi, bẫy thú,... để có thể tự túc được cuộc sống sau khi thành vợ chồng. Đây cũng là khoảng thời gian để gia đình nhà trai chuẩn bị lễ vật tiến hành nghi lễ đám cưới.

* Lễ đi hỏi (Ơ xa anh)

          Sau thời gian ở rể, được sự đồng ý của gia đình cô gái, chàng trai về thông báo và mời cha mẹ sang hỏi chuyện đám cưới. Bên nhà trai đi thưa chuyện thường là cha mẹ và anh trai, nếu không còn cha mẹ thì bác, cậu hoặc anh trai có thể thay mặt. Lễ vật nhà trai mang theo gồm 1 chai rượu, 1 đĩa trầu cau, thuốc lá và 1 bó chè. Trong lễ hỏi chuyện, hai gia đình thống nhất về thời gian tổ chức đám cưới, trao đổi các bước thực hiện nghi lễ, thành phần tham gia, các lễ vật cần có, nếu hoàn cảnh khó khăn, nhà trai sẽ trình bày để xin nhà gái giảm bớt lễ vật. Hai gia đình cũng thống nhất với nhau sẽ mời ai làm người đại diện và các vấn đề khác liên quan đến hôn nhân của con cái. Lễ hỏi chuyện là lần đầu tiên hai gia đình gặp nhau để bàn về việc hôn nhân của con cái nhưng lại có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi đây cũng là lần bàn chuyện gần như duy nhất giữa cha mẹ chú rể và cha mẹ cô dâu. Trong các nghi lễ đám cưới về sau, mọi việc hai gia đình phải giao lại cho người đại diện.

* Lựa chọn người đại diện cho gia đình nhà trai và nhà gái

Người đại diện của gia đình nhà trai gồm 2 người đàn ông, gọi là "ông Rừng" (hay còn gọi là "ông Cà Pá" - Cà Pá là cái oi mà người đàn ông đi rừng thường mang theo buộc vào hông để thu lượm các thức ăn nhặt được) và "ông Cau" (hay còn gọi là "ông Gá" - Gá là cái rá (cái rổ)). "Ông Rừng" phải là người có uy tín cao đối với dân bản, là người biết nhiều, hiểu rộng, am hiểu sâu về phong tục tập quán, về các lễ nghi, luật tục, có tài ăn nói hoạt bát, có vợ, con cái khỏe mạnh. "Ông Cau" là một người lớn tuổi trong gia đình nhà trai, thường là bác, chú hay cậu của chú rể, am hiểu về phong tục tập quán, đặc biệt là có kinh nghiệm sắm sửa lễ vật đám cưới. Trong lễ ăn hỏi, "ông Cau" là người thực hiện theo ý kiến của "ông Rừng" chuẩn bị hoặc bổ sung thêm các lễ vật mà nhà gái yêu cầu.

          Người đại diện cho gia đình nhà gái gọi là "ông Thào Ke", là người trong gia đình nhà gái, thường là bác, cậu hay dượng của cô gái, là người khéo ăn nói, hiểu biết về phong tục tập quán. Quy định của người Mã Liềng về người đại diện không cứng nhắc mà có thể chuyển đổi vai trò đại diện tùy theo từng nghi thức cưới hỏi. Trong lễ ăn hỏi, "ông Rừng", "ông Cau" là người đại diện cho gia đình nhà trai đến hỏi cưới nhà cô gái; ngược lại trong lễ giao dâu, "ông Rừng", "ông Cau" lại là người đại diện cho gia đình nhà gái đưa dâu sang giao cho gia đình nhà trai. Trong các nghi lễ cúng ma bếp, ma nhà, ma rừng bắt buộc phải có sự chứng kiến của "ông Rừng", "ông Cau".

* Lễ ăn hỏi (Ha anh)

          Thường sau lễ thưa chuyện 1-2 tuần, người Mã Liềng tổ chức lễ ăn hỏi. Lễ ăn hỏi là lễ quan trọng nhất cho một cuộc hôn nhân của người Mã Liềng, có thể trong lễ thưa chuyện nhà gái đã đồng ý tổ chức lễ cưới cho con cái nhưng trong lễ ăn hỏi nhà gái vẫn có thể "lật kèo" từ chối, hoặc gây khó dễ cho gia đình nhà trai. Qua phỏng vấn anh Hồ Nam (sinh năm 1987, bản Rào Tre) cho biết: Năm 2004, trong lễ ăn hỏi của anh và chị Hồ Thị Khiên (sinh năm 1989, bản Cà Xen, Quảng Bình), nhà gái đã gây khó dễ cho gia đình nhà trai, nguyên nhân là do trong quá trình ở rể, anh Hồ Nam đã có một số hành vi ứng xử tùy tiện, nhiều lần uống rượu say. Để giải quyết vấn đề, "ông Rừng" phải bưng bát nến sáp ong quỳ xin gia đình nhà gái liên tục trong 6 giờ (từ 18 giờ đến 0 giờ) và phải nộp phạt một số tiền, nhà gái mới đồng ý nhận lễ và cho tổ chức đám cưới.

          Thành phần nhà trai đi ăn hỏi gồm: "ông Rừng", "ông Cau", chú rể, cha mẹ chú rể, một số anh em, chú bác, cô, cậu, dì. Phía nhà gái có "ông Thào Ke", cha mẹ cô dâu và một vài người thân. Thời gian tổ chức lễ ăn hỏi vào buổi chiều tối (sau 18 giờ), tùy điều kiện về địa lý mà nhà trai có thể xuất phát sớm hay muộn nhưng phải đến nhà gái trước 18 giờ. Những người tham gia đi ăn hỏi phải mang theo lễ vật gồm: 2 con lợn (1 con lớn và 1 con bé); gà (ít nhất 1 con), 10 cái bát ăn cơm; 2-4 cái bát to; 3 cái nồi; 3 cái dao; 1 cái rìu; 1 tấm vải; 1 bộ quần áo, 1 đĩa trầu cau, thuốc lào, rượu (tối thiểu 1 chai), gạo nếp (tùy điều kiện), 1 bó chè xanh. Ngoài ra, nhà trai có thể gửi thêm cho nhà gái một số tiền nhưng không nhiều. Các lễ vật này dùng để thực hiện  nghi thức thờ cúng, tổ chức ăn uống trong đám cưới cho cả cộng đồng và làm quà hồi môn cho đôi vợ chồng sau này ở riêng.

          Khi phía nhà gái đồng ý nhận lễ vật, "ông Rừng" mời cô dâu, chú rể ăn trầu và tuyên bố 2 người chính thức trở thành vợ chồng. Cha cô dâu nhận đĩa trầu cau đưa vào buồng để báo cáo sự việc với ma nhà và xin tổ tiên, ông bà cho phép hai gia đình tổ chức nghi lễ đám cưới cho con cái.

4. Các nghi lễ trong đám cưới

          Theo phong tục của đồng bào, sau khi kết thúc lễ ăn hỏi, hai gia đình bước vào thực hiện nghi lễ đám cưới

* Lễ bắt bếp (Cù muých Po ta pe)

          Nghi lễ bắt bếp được thực hiện bằng hai phương thức: cúng sống và cúng chín. Trong quan niệm của người Mã Liềng, đồng bào rất kiêng kỵ tiếng kêu của lợn và gà, họ xem đây là tiếng kêu của các loài ma trách phạt con người. Trong lễ cúng sống, cô dâu cầm đôi đũa bếp đánh mạnh vào cổ con gà 3 lần, chú rể nhổ một ít lông trên lưng con lợn bỏ vào bếp làm cho các con vật này kêu lên. Mục đích của việc cúng sống là để ma bếp chứng kiến sự chuẩn bị lễ vật đầy đủ của gia đình nhà trai và mong không bị trách phạt.

          Thực hiện xong lễ cúng sống, người thân của hai gia đình mang lợn, gà ra giết thịt lấy nội tạng và một số bộ phận để làm lễ cúng chín. Lễ vật cúng chín gồm 1 nồi canh nấu các loại nội tạng của lợn, gà và 1 nồi cơm. Ngoài ra cha cô dâu hoặc chú rể phải lấy 2 cái chân gà, 2 cái chân lợn, 1 vòng cườm của mẹ cô dâu và đôi đũa bếp buộc lại với nhau tượng trưng cho sự đoàn kết và no đủ. Thực hiện nghi lễ, cả 4 người cầm đôi đũa bếp có hai cái chân lợn, 2 cái chân gà và vòng cườm lần lượt giơ lên nồi canh và nồi cơm, cha mẹ cô dâu đọc bài cúng cầu xin ma bếp giúp đỡ cho đôi vợ chồng trẻ làm ăn thuận lợi, no đủ quanh năm.

* Lễ ăn chung (Ăn chông)

          Lễ ăn chung được thực hiện ngay tại gian bếp, nơi cha mẹ cô dâu thường ngồi ăn cơm. Lễ vật gồm một rổ cơm và một rổ thức ăn. Thực hiện nghi lễ, cha mẹ và cô dâu, chú rể ngồi bốn góc lần lượt cầm đũa chỉ vào rổ thức ăn và rổ cơm vừa giả vờ ăn vừa nói rằng từ nay chàng rể đã trở thành người một nhà, cùng ăn cơm, uống nước, sống hòa thuận với gia đình nhà gái và cầu mong thần linh che chở phù hộ. Sau đó, cha mẹ đẩy rổ cơm về phía hai người con, hai người con đẩy rổ thức ăn về phía cha mẹ nhằm thể hiện sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái và của con cái đối với cha mẹ, thể hiện sự đoàn kết, thương yêu trong gia đình.

* Lễ cúng ma nhà (Cù muých cờ nó)

          Để thực hiện lễ cúng ma nhà, chú rể phải trùm một tấm vải hoặc cái áo màu trắng lên đầu cùng cô dâu quỳ xuống trước lễ vật hướng về cột nhà ma và lạy 3 lạy. Sau đó, cha cô dâu đưa lễ vật vào buồng, thắp nến sáp ong, thông báo với tổ tiên, ông bà rằng hôm nay là ngày lành tháng tốt, hai gia đình tổ chức đám cưới cho con cái, có đầy đủ lễ vật, chàng rể đã là một thành viên trong gia đình và cầu xin tổ tiên, ông bà luôn phù hộ cho con cháu, cho cả hai gia đình mạnh khỏe, gặp nhiều may mắn.

* Lễ cúng ma rú (Cù muých ờ gấu)

          Thực hiện xong lễ cúng ma nhà, mâm lễ vật và con lợn tiếp tục được đưa ra phía ngoài căn nhà, đặt trước sân hoặc bên hiên để cúng ma rú. Người thực hiện nghi lễ không quy định cụ thể, có thể là một thành viên phía gia đình nhà trai hoặc nhà gái, nhưng phải là người am hiểu các bài cúng, am hiểu về thần linh. Trường hợp đám cưới của Hồ Tình và Hồ Thị Kiên tại bản Rào Tre (tháng 6/2017), gia đình đã mời thầy mo của bản là Hồ Púc để làm lễ. Bước vào thực hiện nghi lễ, người cúng khoác tấm vải hoặc áo trắng lên vai hú lên 3 tiếng gọi ma, lạy 3 lạy về phía rừng và thông báo với ma rú sự kiện đám cưới của đôi bạn trẻ, phía nhà trai có đầy đủ lễ vật và hai gia đình thực hiện đủ các bước nghi lễ. Đồng thời xin ma rú, ma rừng phù hộ cho đôi vợ chồng trẻ sản xuất, săn bắn gặp nhiều may mắn, tìm được những bãi đất thuận lợi để sẻ rẫy, mùa màng bội thu, không bị thú rừng phá hoại, không gặp những tai nạn khi đi rừng như rơi xuống nước, dẫm phải gốc cây, rắn rết cắn,... Lễ cúng ma rú kết thúc, hai gia đình tổ chức ăn cỗ, uống rượu đến tận sáng và những ngày tiếp theo.

* Lễ giao dâu (Cháo du)

          Theo phong tục của người Mã Liềng, sau lễ ăn hỏi, lễ ăn chung và các nghi thức cúng ma bếp, ma nhà, ma rú, chú rể và cô dâu phải ngủ lại nhà gái 5 đêm, 5 ngày. Đến sáng ngày thứ 6, hai gia đình tổ chức làm lễ giao dâu. Thành phần đi giao dâu gồm: "ông Rừng", "ông Cau", "ông Thào Ke", cha mẹ cô dâu và cô dâu, chú rể. Lễ vật nhà gái chuẩn bị đi giao dâu gồm có: 1 con gà, 1 đĩa trầu cau, 1 cái chăn, 1 miếng vải trắng, 2 cái bát, 1 chai rượu, thuốc lá. Khi về nhà chồng, cô dâu phải lên cầu thang bên phải nơi có gian bếp của ngôi nhà, khi lên cầu thang được mẹ chồng hoặc chị gái chồng, chị dâu đón.

          Các bước thực hiện trong lễ giao dâu cùng gồm các nghi thức: bắt bếp, ăn chung, cúng ma nhà nhưng có một số thay đổi nhỏ, như: không làm lễ cúng ma rú, trong lễ bắt bếp không có con lợn sống, trong lễ cúng ma nhà chỉ có cô dâu thực hiện nghi lễ...

* Lễ lại mặt (Ơ ếch lại)

          Lễ giao dâu kết thúc, đôi vợ chồng trẻ phải ngủ ở nhà cha mẹ chồng 5 đêm, 5 ngày, đến sáng ngày thứ 6 phải làm lễ lại mặt về gia đình nhà gái. Về nhà gái, đôi vợ chồng phải chuẩn bị 1 con gà và một con lợn nhỏ. Lễ lại mặt cũng trải qua các bước: Bắt bếp, ăn chung và cúng ma nhà. Kết thúc lễ lại mặt, đôi vợ chồng trẻ cũng ở lại gia đình cha mẹ vợ 5 đêm, 5 ngày, đến sáng ngày thứ 6 mới trở về nhà chồng, kết thúc các nghi lễ hôn nhân, bước vào một cuộc sống mới. Như vậy, một đám cưới truyền thống của người Mã Liềng kể từ nghi lễ ăn hỏi đến hết lễ lại mặt được thực hiện trong 15 ngày với nhiều nghi lễ thờ cúng và nhiều lễ vật kèm theo.

5. Cư trú sau hôn nhân

          Trong luật tục của người Mã Liềng, nghi lễ đám cưới là một điều kiện bắt buộc đối với đôi trai gái khi tiến đến hôn nhân. Sau khi tổ chức lễ cưới, đôi vợ chồng trẻ về sống chung cùng với cha mẹ chồng đến khi nào có điều kiện làm nhà ra ở riêng. Nếu đôi vợ chồng nào chưa tổ chức được đám cưới để trở thành ma một nhà thì vẫn được cộng đồng thừa nhận là vợ chồng nhưng không được ở cùng nhà với cha mẹ chồng hay cha mẹ vợ mà phải làm nhà riêng để ở với nhau đến khi nào tổ chức đám cưới mới được trở về ở cùng nhà với bố mẹ. Việc làm ngôi nhà riêng đó ở đâu, gần nhà vợ hay chồng tùy thuộc vào sự thỏa thuận của đôi vợ chồng trẻ. Ông Hồ Pắc (sinh năm 1965, bản Rào Tre) cho biết, tâm lý của người Mã Liềng thường thích cư trú riêng sau hôn nhân. Qua khảo sát tại bản Rào Tre, có 19/41 hộ còn cha mẹ, trong đó chỉ có 4/19 hộ sống chung với cha mẹ: 1 hộ ở với mẹ vợ, 2 hộ ở với cha mẹ chồng, 1 hộ ở với cha mẹ vợ; còn lại 15/19 hộ ra ở riêng sau khi kết hôn(2).

6. Lễ cưới ra

          Theo quan niệm của người Mã Liềng, để cuộc sống hạnh phúc, gặp nhiều may mắn, mỗi cặp vợ chồng phải trải qua 2 lần cưới mà đồng bào gọi là cưới vào và cưới ra, nhưng không phải là quy định bắt buộc cho tất cả mọi người. Lễ cưới ra được tổ chức khi có đầy đủ các điều kiện: Tổ chức lễ cưới vào; Cha, mẹ (hoặc một trong hai người) của người vợ vẫn còn sống; Có điều kiện về kinh tế. Thời gian tổ chức lễ cưới ra thường từ 5-10 năm kể từ ngày tổ chức lễ cưới vào. Lễ cưới ra được tổ chức tại nhà cha mẹ vợ, gồm các nghi thức: bắt bếp, ăn chung, cúng ma nhà, ma rú nhưng đơn giản hơn so với lễ cưới vào. Lễ vật cưới ra gồm một con lợn và một con gà. Lễ cưới ra kết thúc, đôi vợ chồng phải ngủ lại nhà cha mẹ vợ 5 đêm, 5 ngày, đến sáng ngày thứ 6 cả gia đình làm lễ ăn chung, sau đó đôi vợ chồng về nhà của mình, kết thúc lễ cưới ra. Mục đích chính của lễ cưới ra nhằm cầu xin các loại ma phù hộ cho cha mẹ, con cái luôn được khỏe mạnh, cuộc sống yên ổn. Qua khảo sát và phỏng vấn hồi cố trên địa bàn bản Rào Tre từ năm 1976 đến nay, đã có 35/55 cặp vợ chồng tổ chức lễ cưới vào, nhưng chỉ có 6/35 cặp vợ chồng tổ chức lễ cưới ra.

7. Kết luận

          Qua nghiên cứu về hôn nhân của người Mã Liềng ở Hà Tĩnh cho thấy, việc lựa chọn và lập gia đình chủ yếu là do đôi trai gái tự nguyện đến với nhau, và theo quan niệm của họ, để hôn nhân hạnh phúc, một cặp vợ chồng phải trải qua 2 lần tổ chức đám cưới. Việc tổ chức đám cưới ảnh hưởng đến vấn đề cư trú sau hôn nhân và liên quan đến tập quán tín ngưỡng của đồng bào. Người Mã Liềng cho rằng, nếu đôi vợ chồng chưa tổ chức được đám cưới thì còn một món nợ lớn đối với các loài ma, còn nợ bà con dân bản. Họ sống trong sợ hãi rằng có thể bị các loại ma trách phạt làm cho ốm đau, bệnh tật, gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.

          Qua nghiên cứu về hôn nhân của người Mã Liềng cho thấy, dù còn những hạn chế nhất định nhưng các nghi lễ hôn nhân của họ chứa đựng nhiều giá trị tốt đẹp cần được gìn giữ và phát huy. Điển hình là nét đẹp trong văn hóa ứng xử của con cái đối với người cha, người mẹ của mình. Một trong những nội dung chính của nghi lễ đám cưới của người Mã Liềng là cầu xin thần linh cho cha mẹ luôn mạnh khỏe, sống lâu, nếu không còn cha mẹ thì lễ cưới ra cũng không được tổ chức.

          Đám cưới của người Mã Liềng có thể nói là ngày lễ, ngày hội long trọng nhất của đồng bào trong năm, qua đó thể hiện một nét đẹp văn hóa về tình đoàn kết, gắn bó tương trợ lẫn nhau trong cuộc sống. Đám cưới diễn ra có sự tham gia của hầu hết mọi thành viên trong bản, ai có gì thì ủng hộ nấy, dù chỉ là một bát gạo, vài con cá, một ít măng rừng hay chai rượu,... thậm chí không có gì cũng tham gia được, mỗi người phụ giúp một tay cho hai gia đình dọn dẹp, làm các lễ vật. Sau khi hoàn thành các thủ tục nghi lễ, mọi người cùng uống rượu, nhảy múa suốt đêm khuya để chúc mừng cho đôi vợ chồng trẻ.

Những nét đặc sắc trong tập quán hôn nhân của nhóm người Mã Liềng ở Hà Tĩnh là một kho tàng giá trị nhân văn tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc Chứt nói riêng và các dân tộc Việt Nam nói chung cần được bảo tồn và phát huy.

Tài liệu tham khảo

1. UBND xã Hương Liên, huyện Hương Khê, Danh sách các hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã, 12/2016, Bản đánh máy.

2. UBND xã Lâm Hóa, huyện Tuyên Hóa, Danh sách các hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã, 5/2017, Bản đánh máy.

3. UBND xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, Danh sách các hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã, 5/2017, Bản đánh máy.

4. UBND xã Trọng Hóa, huyện Minh Hóa, Danh sách các hộ đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã, 7/2017, Bản đánh máy.

5. Viện dân tộc học (1978), Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

 

HÀ ĐÌNH THÀNH

NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG

 1. Mở đầu                                                            

          Trung bộ là một vùng lãnh thổ gồm 14 tỉnh, thành, từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, trong đó có 6 tỉnh Bắc Trung bộ và 8 tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ, nơi hội tụ nhiều điều kiện để phát triển ngành du lịch mang tầm cỡ khu vực, quốc tế, đem lại nguồn sinh kế cho các tộc người trong vùng. Do vậy, khai thác vốn văn hóa trong phát triển du lịch vùng Trung bộ là xây dựng môi trường văn hóa ổn định và mang tính nhân văn cao và có tính chiến lược phát triển lâu dài. Để biện giải rõ vốn văn hóa trong phát triển du lịch vùng Trung bộ, nhóm tác giả trình bày: Vốn văn hóa Vinh, Đồng Hới (đại diện Bắc Trung bộ) và Quảng Ngãi (đại diện Duyên hải Nam Trung bộ) trong phát triển du lịch vùng Trung bộ.

2. Vốn văn hóa vùng Trung bộ với việc phát triển du lịch

          Vốn văn hóa mà các tộc người vùng Trung bộ tích lũy được qua nhiều thiên niên kỷ thích ứng với các điều kiện tự nhiên, đấu tranh với giặc ngoại xâm, xây dựng đời sống cộng đồng, dân tộc, quốc gia chính là một lượng vốn văn hóa lớn có khả năng kiến tạo hệ giá trị Việt Nam với tư cách là hệ thống chuẩn mực được cộng đồng chấp nhận và có ý nghĩa như những động lực phát huy sức mạnh dân tộc và khẳng định bản sắc dân tộc trong phát triển.

          Thực tế, trong vài ba thập kỷ gần đây, du lịch đã trở thành một ngành công nghiệp không khói chiếm vị trí quan trọng và trở thành một nhu cầu sống còn của vùng Trung bộ. Đồng thời, sự phát triển du lịch lại có nhu cầu lớn về khai thác vốn văn hóa của các tộc người  vùng Trung bộ. Để biện giải rõ vốn văn hóa trong phát triển du lịch vùng Trung bộ, nhóm tác giả chọn thành phố Vinh, Đồng Hới (Bắc Trung bộ) và tỉnh Quảng Ngãi (Duyên hải Nam Trung bộ) để trình bày minh họa.

2.1.Vốn văn hóa Vinh và Đồng Hới trong phát triển du lịch

          Vinh và Đồng Hới, cũng như các thành phố khác ở Bắc Trung bộ bao chứa sự phong phú của vốn văn hóa và thiên nhiên, lại nằm trên "Hành trình Di sản miền Trung", nên trong những năm gần đây, du lịch phát triển mạnh. Quảng Bình - Đồng Hới với du lịch "Huyền thoại biển" và Phong Nha - Kẻ Bàng; Nghệ An - Vinh với "Lễ hội làng Sen'',... Chính du lịch đã tạo nên cơ hội giao lưu hội nhập của vùng miền nơi đây với các vùng miền khác và du khách quốc tế. Công nghiệp du lịch phát triển, vốn văn hóa sẽ có cơ hội khởi sắc, "cất cánh", biến đổi theo xu hướng tích cực, đáp ứng nhu cầu du lịch tham quan, hưởng thụ, nghỉ dưỡng của thập khách gần xa.

          Thành phố Vinh là một trong 5 vùng du lịch trọng điểm của tỉnh Nghệ An (du lịch thành phố Vinh, du lịch Cửa Lò, du lịch Nam Đàn, du lịch Vườn quốc gia Pù Mát và du lịch sinh thái văn hóa Quỳ Châu, Quế Phong). Trong bản đồ du lịch của quốc gia, Vinh được biết đến là thành phố với nhiều di tích, danh thắng có giá trị như đền Hồng Sơn, chùa Cần Linh, đền thờ vua Quang Trung, lâm viên Núi Quyết, công viên Thành cổ, công viên Trung tâm, công viên Nguyễn Tất Thành, rừng bần, tràm chim tại xã Hưng Hòa và các di sản văn hóa như hát phường vải, hát ví giặm, hát dân ca Nghệ Tĩnh, các làng nghề truyền thống, các món ăn dân tộc... Đến thành phố Vinh, du khách có thể tham gia vào nhiều loại hình du lịch như: du lịch nghiên cứu, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch tâm linh… Thành phố cũng là trung tâm phân phối khách du lịch trong nước và khu vực với các tour du lịch bằng đường sắt, đường bộ, đường hàng không nối liền với các khu du lịch hấp dẫn như khu du lịch bãi biển Cửa Lò, vườn quốc gia Pù Mát, thác Sao Va, khu du lịch Bãi Lữ, khu du lịch Xuân Thành, du lịch tâm linh đền ông Hoàng Mười, khu nghỉ dưỡng suối nước nóng Sơn Kim,… và đến các điểm du lịch nước ngoài như các tỉnh Đông Bắc Thái Lan, Lào,…

          Thành phố Đồng Hới có nhiều tiềm năng và lợi thế về vốn văn hóa để phát triển du lịch với nhiều loại hình hấp dẫn. Các di tích văn hóa - lịch sử, danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố đã được tôn tạo và khai thác có hiệu quả, thu hút đông đảo du khách đến tham quan, đặc biệt là hệ thống các di tích văn hóa - lịch sử ven biển, các công trình văn hóa như tượng đài Mẹ Suốt, Trương Pháp, di tích Thành Đồng Hới, chứng tích tội ác chiến tranh Tháp chuông Nhà thờ Tam Tòa, những điểm lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Quảng Bình, trận địa pháo lão dân quân Đức Ninh, Quang Phú.

          Trong thời gian qua, hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố Vinh, Đồng Hới phát triển nhanh và góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của hai thành phố. Du lịch đã và đang tác động đến văn hóa vật chất và phi vật chất của người dân trên địa bàn hai thành phố, làm thay đổi nhanh cuộc sống của họ, tạo công ăn việc làm, cải thiện mức sống, tăng thu nhập cho người dân, nhất là những hộ dân nằm trong khu vực phát triển du lịch. Du lịch phát triển cũng góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác, đặc biệt là ngành dịch vụ phát triển. Các giá trị văn hóa truyền thống, các lễ hội trên địa bàn hai thành phố qua đó được gìn giữ, khôi phục và phát huy. Thành phố Đồng Hới đã khôi phục và phát triển các lễ hội truyền thống, nhất là các lễ hội tiêu biểu tạo được điểm nhấn, ấn tượng lớn đối nhân dân địa phương và du khách thập phương như lễ hội bơi trải, lễ hội Cầu ngư, lễ hội bơi thuyền truyền thống, múa bông chèo cạn… Tuần Văn hóa - Du lịch Đồng Hới hàng năm được tổ chức ngày càng có tính chuyên nghiệp, quy mô và có nhiều điểm mới và tạo được dấu ấn tốt đẹp, góp phần thu hút lượng khách đến tham quan - du lịch tại thành phố Đồng Hới ngày càng tăng. Đây cũng là dịp thuận lợi để người dân tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí, văn hóa, thể thao... góp phần nâng cao đời sống tinh thần. Bên cạnh các hoạt động do thành phố tổ chức, các xã, phường đã chủ động tổ chức các hoạt động phù hợp với địa phương mình, trong đó mỗi xã, phường đều tổ chức ít nhất một hoạt động văn hóa như cướp cù, chọi gà, bài chòi, cờ thẻ, cờ người, múa bông chèo cạn, lễ hội Cầu ngư... Đồng thời, các phường, xã tổ chức các lễ hội truyền thống như lễ hội xuống đồng (xã Lộc Ninh), lễ hội rằm tháng giêng (phường Hải Đình), lễ hội cướp cù (Đồng Phú), lễ hội Cầu Ngư (xã Bảo Ninh, phường Hải Thành)...

          Thành phố Vinh đã khai thác triệt để vốn văn hóa trong việc xây dựng các chương trình du lịch gắn với lễ hội truyền thống hàng năm của tỉnh Nghệ An như lễ hội Làng Sen, lễ hội Vua Mai, lễ hội đền Cờn, lễ hội du lịch biển Cửa Lò, lễ hội Hang Bua,… Nhờ vậy, những lễ hội được khôi phục, phát huy và được quảng bá rộng rãi đến đông đảo mọi người.

          Hiện nay, các di tích văn hóa - lịch sử trên địa bàn thành phố Đồng Hới, thành phố Vinh được tôn tạo và được giới thiệu rộng rãi, thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế đến tham quan. Một số chương trình du lịch văn hóa gắn kết với lễ hội truyền thống được khôi phục và phát huy có hiệu quả, hoạt động du lịch đã thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là du lịch biển.

          Bên cạnh đó, hai thành phố đã xây dựng mô hình các đội văn nghệ quần chúng trên cơ sở các câu lạc bộ dân ca, dân vũ tại một số phường, xã để phục vụ nhu cầu của khách du lịch. Chính vì thế, những làn điệu dân ca, hò khoan, chèo cạn, hát ví giặm, hát phường vải,... có cơ hội được phát huy và quảng bá rộng rãi. Các sản phẩm, mặt hàng lưu niệm có giá trị văn hóa, văn hóa ẩm thực truyền thống của hai thành phố thông qua hoạt động du lịch ngày càng đến được với du khách. Như ở thành phố Vinh đã đưa vào sử dụng "Phố ăn đêm Thành cổ" tạo điều kiện cho nhân dân và du khách thưởng thức văn hoá ẩm thực xứ Nghệ. Nếu không thể phát huy giá trị của vốn văn hóa này bằng các hoạt động du lịch và thúc đẩy kinh tế phát triển thì không thể đưa các giá trị văn hóa vào môi trường như nó vốn đã tồn tại và giảm gánh nặng về ngân sách. Mặt khác, phát triển kinh tế là một hướng đi có tầm quan trọng để thúc đẩy phát triển vốn văn hóa, nhưng nếu kinh tế mà không gắn liền với phương châm phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo đời sống xã hội thì việc thương mại hóa các sản phẩm du lịch từ vốn văn hóa sẽ nhanh chóng làm biến dạng các giá trị văn hóa - lịch sử và khiến cho vốn văn hóa vơi dần và xuống cấp trầm trọng. Yếu tố thị trường thúc đẩy chuỗi giá trị sản phẩm du lịch tham gia vào chuỗi giá trị ở quy mô quốc gia và quốc tế sẽ tạo thuận lợi cho sự cạnh tranh và bảo tồn vốn văn hóa một cách bền vững. Với lợi thế về tiềm năng vốn văn hóa đã đề cập ở trên, Vinh và Đồng Hới có nhiều cơ hội để tạo ra chuỗi giá trị gia tăng liên quan đến các sản phẩm du lịch từ vốn văn hóa. Từ đó tạo nên bản sắc trong phát triển văn hóa để hội nhập vùng và quốc tế. Mặt khác, các thách thức đang hiện hữu đối với hai đô thị này là việc giải quyết xung đột trong lợi ích về chủ sở hữu đối với hoạt động trình diễn văn hóa phi vật thể và di sản vật thể.

2.2.Vốn văn hóa Quảng Ngãi trong phát triển du lịch

          Với nhiều lợi thế so sánh, du lịch biển, đảo hiện nay đang ngày càng phát triển mạnh mẽ và trở thành sản phẩm đặc trưng cho các tỉnh vùng Trung bộ, trong đó có Quảng Ngãi. Tuy nhiên, muốn phát triển du lịch bền vững, Quảng Ngãi cần khai thác vốn văn hóa địa phương đặc thù.

          Quảng Ngãi là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung bộ có nhiều tiềm năng về tài nguyên du lịch. Bên cạnh 150 km đường bờ biển kéo dài từ An Tân đến Sa Huỳnh cùng nhiều bãi biển đẹp và nổi tiếng, như Sa Huỳnh, Mỹ Khê, Lệ Thủy, Minh Tân..., Quảng Ngãi còn nổi tiếng với đảo Lý Sơn - nơi có nhiều vốn văn hóa để phát triển du lịch, xứng đáng trở thành một trung tâm du lịch biển đảo hấp dẫn trong toàn quốc. Hơn nữa, Quảng Ngãi nằm trong khu vực có sự phát triển du lịch năng động nhất ở Duyên hải Nam Trung bộ với các trung tâm du lịch nổi tiếng như Nha Trang (Khánh Hòa), Đà Nẵng, Hội An (Quảng Nam)... Cùng với sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy và chính quyền địa phương trong phát triển du lịch, Quảng Ngãi có nhiều lợi thế để có thể đưa du lịch phát triển và được kỳ vọng trở thành một trong những trung tâm du lịch mới của cả nước.

          Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có 29 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, 76 di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh được xếp hạng. Đây là vốn văn hóa phong phú, là tiền đề cho du lịch Quảng Ngãi có hướng phát triển du lịch văn hóa bên cạnh việc phát triển du lịch sinh thái dựa trên thế mạnh biển đảo.

          Vốn văn hóa phi vật thể, như lễ hội "Khao lề thế lính Hoàng Sa"(3); các vốn văn hóa khác, như nghệ thuật hát bài chòi, các ngành nghề thủ công, văn hóa của các làng chài... là nguồn tài nguyên văn hóa đặc thù trong phát triển du lịch của tỉnh. Đặc biệt, trên đảo Lý Sơn, bên cạnh chương trình du lịch "Lý Sơn - biển đảo quê hương", còn có các chương trình như: "Tiếng gọi Hoàng Sa", "Lý Sơn - mùa tỏi", "Khám phá núi lửa xưa", "Hành trình của các thần linh"... Ở các chương trình này, vừa lựa chọn các di tích làm điểm nhấn, vừa khai thác các di sản văn hóa phi vật thể (lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, dân ca, dân vũ,..) để tạo thành thương hiệu du lịch. Như vậy, dựa vào vốn văn hóa để phát triển du lịch mang tính đặc thù đã góp phần cho Quảng Ngãi có vẻ đẹp riêng, sức hấp dẫn riêng. Vốn văn hóa đặc thù, riêng có sẽ làm cho du lịch Quảng Ngãi cất cánh. Phát triển du lịch đặc thù từ vốn văn hóa đòi hỏi phải có những giải pháp mang tính chất tổng thể, trong đó có sự liên kết chặt chẽ giữa nhà nghiên cứu, nghệ nhân với doanh nghiệp du lịch. Vốn văn không chỉ đi tìm các vẻ đẹp cổ xưa hay ca ngợi cái hay, cái đẹp của ca dao Quảng Ngãi mà vốn văn hóa thực sự là nguồn lực để phát triển du lịch. Từ vốn văn hóa, di sản văn hóa Quảng Ngãi sẽ trở thành tài sản của du lịch.

 Kết luận

          Với các tộc người vùng Trung bộ, vốn văn hóa được tích lũy hàng ngàn năm đã hun đúc thành các chuẩn mực ứng xử và hệ giá trị tiêu biểu trong phát triển du lịch nói riêng, kinh tế - xã hội nói chung ở vùng Trung bộ.

          Từ những phân tích, trình bày trên, bài viết đã làm xuất lộ diện mạo của văn hóa với tư cách là một nguồn vốn, một nguồn lực nội sinh, một cội nguồn căn rễ, một nền tảng tinh thần cần thiết cho phát triển du lịch vùng Trung bộ. Đó cũng chính là việc triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII để Nghị quyết đi vào đời sống, biến thành sức mạnh vật chất phục vụ phát triển trong bối cảnh mới đầy thách thức nhưng cũng đầy cơ hội của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.

          Chắc chắn trong tương lai gần, vốn văn hóa vùng Trung bộ sẽ trở thành di sản văn hóa trong phát triển du lịch của các tộc người vùng Trung bộ và đông đảo du khách gần xa. Việc nhận thức, đánh giá đúng vốn văn hóa trong phát triển du lịch vùng Trung bộ là vô cùng cần thiết, để giá trị của vốn văn hóa này luôn là một biểu trưng mang đậm giá trị văn hóa vùng Trung bộ và giá trị văn hóa Việt Nam.

 

Chú thích

(1). Khao lề thế lính Hoàng Sa là nghi lễ đặc biệt gắn liền với huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi). Lễ này do cư dân làng An Vĩnh và An Hải thực hiện, gắn liền với Hải đội Hoàng Sa thời chúa Nguyễn bị tử nạn trên biển khi làm nhiệm vụ. Do vậy, việc khao lề thế lính là việc thế người lính còn sống bằng hình nhân và tế người đã chết. Ngoài những lễ vật cần thiết trong tế lễ như trầu rượu, hoa quả, các loại thức ăn chế biến từ hải sản và gia cầm, đặc biệt là phải có hình nhân thế mạng (được làm bằng bột gạo hoặc rơm rạ), linh vị và thuyền lễ. Bên cạnh đó, nghi lễ khao lề thế lính Hoàng Sa mang giá trị khảo cứu lịch sử quan trọng trên vùng ven biển DHNTB bởi nó liên quan trực tiếp tới đội Hoàng Sa dưới thời chúa Nguyễn. Nó là chứng nhân hùng hồn về mặt văn hóa, lịch sử của Việt Nam nói chung và của bao thế hệ cư dân vùng ven biển DHNTB đối với chủ quyền biển đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

 

Trần Hải

          Là tên chung của vùng Hoan Châu thời hậu Lê, xứ Nghệ là để gọi miền văn hóa Lam Hồng. Miền đất huyền sử, hun đúc biết bao khí thiêng sông núi mà thành một cõi lồng lộng nhân gian, cảnh sắc. Về với xứ Nghệ để chạm vào trầm hùng đất cổ, chiêm nghiệm trầm tích triệu lớp, ngàn tầng mà bay cùng sông núi.

          1.Về xứ Nghệ, trôi trong miền tâm linh, không thể quên lối tới Nam Đàn, về Hoàng Trù quê mẹ, làng Sen quê cha - nơi hun đúc, nuôi dưỡng hình tượng và nhân cách Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Từ đó, trải cùng một dòng Lam giang, chợt ngẩng lên đã gặp núi Quyết đường bệ khởi nguồn, quần tụ khí thiêng mà dựng một Trung Đô Phượng Hoàng, lẫm liệt sắc đại bào người anh hùng áo vải Quang Trung.

          Men sóng chốn này về Bắc mấy đỗi, đã gặp một Bãi Lữ nằm e ấp trong những triền núi bên chân sóng chở che cách Cửa Lò chừng 20km, lên hướng QL1A, ta gặp linh thiêng đền Cuông lưng chừng núi Mộ Dạ với huyền tích An Dương Vương theo thần Kim Quy, hóa thân nơi cửa biển Tư Hiền trong nỗi đau bội phản. Đây cũng còn ghi dấu rưng rưng mối tình Mỵ Châu - Trọng Thủy.

          Hành trình chiêm bái, đưa ta đến với đền Cờn, đệ nhất linh của tứ linh xứ Nghệ: "Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng". Nơi đây thờ tứ vị Thánh nương, là các nữ Thần bảo vệ dân chài. Ngược bến Lường, gặp đền Quả Sơn (Đô Lương), nơi thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, một trong 9 vị danh nhân của đất nước Đại Việt. Sang đất "nhút mặn, chua cà" Võ Liệt (Thanh Chương), ta được gặp đền Bạch Mã thờ tướng quân Phan Đà thời tiền Lê. Vị tướng tài trẻ tuổi đã phò nhà Lê những ngày đầu khi thác đi đã được phong là "Đô Thiên Đại Đế Bạch Mã Thượng Đẳng Phúc Thần".

          Lên với cao xanh miền Tây, xứ Nghệ lại càng thêm kỳ bí, linh thiêng với những địa chỉ tâm linh của bà con các dân tộc vùng cao. Về miền đất cổ Chiêng Ngam, ta gặp Lễ hội Hang Bua ở Châu Tiến (Quỳ Châu). Ngược lên nữa, đến cuối đường QL48, ta lại hòa chung khí thiêng của dãy núi Pú Chờ Nhàng của đất Quế Phong, nơi đó có đền Chín Gian - biểu tượng hun đúc khí thiêng của đồng bào Thái miền Tây.

          2. Để thư thái và dịu lại sau những thời khắc linh thiêng, chúng ta có thể tìm đến một xứ Nghệ tuyệt đẹp với bao cảnh sắc say đắm lòng người. Bạn có thể "phiêu" trên bát ngát thảo nguyên hoa hướng dương ở Nghĩa Sơn (Nghĩa Đàn) mỗi năm 2 lần. Có khi lạc bước, lên với những rừng lau bạt ngàn, cheo leo tận chót vót miền Tây như Nậm Càn, Mường Lống (Kỳ Sơn). Rồi thảnh thơi một buổi nào, ta lên với Vườn quốc gia Pù Mát, món quà vô giá của thiên nhiên với cả một quần thể hùng vĩ và hoang sơ của núi rừng, cây cỏ…

          Đi lên miền Tây, cách thành phố Vinh khoảng 160 km về miền Tây xanh trầm mặc, ta đã được thả mình trong dòng suối mát, ngắm thác Sao Va (Quế Phong), "Thác Camly của xứ Nghệ" và, thưởng thức đặc sản núi rừng: nhím, lợn ri, măng, vịt bầu Cắm Muộn, thịt gà đen Tri Lễ, lợn nít, cơm lam. Bước lãng du còn khiến người khách xa đi ngược đường QL7, lên với chợ biên Nậm Cắn, ngôi chợ hữu nghị của tấm tình Việt - Lào anh em.

          Đất Hoan Châu đến nay vẫn còn giữ nguyên nhiều nghề truyền thống. Khi đã thưởng thức bát nước chè xanh ngọt chát trứ danh vùng Đại Huệ, ta lại như được trôi đi trong những miền đất cổ. Chốn nào nghe tiếng đục dội trầm như ở làng mộc nề Nam Hoa, nghe thoảng hương chum tương đang ủ của làng tương Tự Trì, chợt thấy sáng rực những đốm sao bay ở làng rèn Quy Chính. Dạo xuôi phía bờ Lam giang, đã như nghe được miên man, thắm thiết câu hát phường vải của làng dệt Xuân Hồ, Xuân Liễu, Tầm Tang, trắng lên lấp lóa một làng nón Đông Liệt. Rồi nương câu ví giặm mà qua làng nồi đồng Bố Ân, Bố Đức, làng gạch ngói Hữu Biệt, làng dầu bông, dầu lạc Đan Nhiệm, Đồng Trung, đâu đâu cũng thao thiết theo dòng chảy một chặng nào dòng Lam.

          3. Lạc bước trong những cảnh quan tuyệt đẹp hay làng nghề huyền sử, cũng đừng quên thưởng thức sản vật xứ Nghệ. Miền đất nắng lắm mưa nhiều, nhưng lại dâng đời biết bao thời trân kỳ thú.

          Bản đồ ẩm thực còn vang danh lươn xứ Nghệ. Con lươn đất này đã định hình trong tâm hồn ẩm thực của khách sành ăn với súp lươn, cháo lươn, miến lươn. Riêng miến lươn đã lập kỷ lục ẩm thực châu Á năm 2012.

          Ăn xong món lươn lúc trời tháng Chạp ta, lại được tráng miệng cam Vinh (1 trong 50 sản vật cây trái nổi tiếng nhất Việt Nam) thời còn gì thú hơn. Xuống cùng xứ biển Cửa Lò, gặp món mực nháy tươi rói thì đâu dễ đã ai quên. Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam đã từng công bố Top 10 đặc sản hải sản Việt Nam trong hành trình tìm kiếm, quảng bá đặc sản và ẩm thực Việt Nam lần thứ 1/2012 trong đó có mực nháy.

          Được ví như "kim chi" xứ Nghệ, làm từ mít của vùng trung du miền núi, nhút là món dân dã, nhưng là dân dã đến đắm say. Tất cả các vùng trung du xứ Nghệ đều có nhút, nhưng nhút Thanh Chương là ngon nhất. Đã nói đến "nhút Thanh Chương" thời phải kể tới "tương Nam Đàn". Bởi đây là 2 thức dân dã quê nghèo, nhưng lại là hồn cốt níu lòng kẻ đi xa. Cũng xứ Nam Đàn, còn có me Nam Nghĩa. Loại bê con được nuôi chăn thả nơi đồi, ruộng cùng những vạt cỏ tươi xanh. Rồi không thể quên món bánh đúc Sa Nam. Bánh đúc được làm từ gạo chiêm, là đặc sản nổi tiếng nhất của chợ Sa Nam (Nam Đàn).

          Sản vật miền núi Nghệ An cũng có biết bao kỳ thú. Có thể quên nhiều thứ, nhưng sẽ khó quên vịt bầu Quỳ, là giống vịt bầu đặc biệt chỉ có ở 2 huyện cuối đường QL48 là Quỳ Châu và Quế Phong. Dọc trên lạch nguồn của con sông Giăng chảy giữa nguyên sinh xanh Pù Hoạt, Pù Huống, còn có thời trân cá mát. Nổi danh từ thành ngữ "Cơm Mường Quạ, cá sông Giăng", cá mát đã trở thành một đặc sản "lưu trú" trên sông Giăng.

          Biết bao mây nước, linh thiêng, kỳ thú gọi mời, đắm say và hồn hậu trong 2 tiếng xứ Nghệ thân thương.

 

LÊ VĂN TÙNG

          Con người từ trong những hình thái xã hội xưa trước đã thường là một hiện tượng không đơn giản. Bước sang xã hội hiện đại, nhất là khi xã hội vận động trong quy luật sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường, từng bước một, ý thức cá nhân dần dần được giải phóng, hiện tượng con người xã hội ngày càng phát triển phức tạp và phong phú. Nhà văn Nga (thời Xô viết) Valenti Ratputin trong tiểu thuyết "Sống mà nhớ lấy" (giải thưởng quốc gia Liên Xô 1977) đã quan niệm về con người ấy: "Trong mỗi con người hai chân hai tay của nó vẫn không chỉ có một người, mà mấy người. Chúng cứ kéo họ về nhiều phía, làm cho đứt ra từng mảnh, cho đến khi nào lôi hẳn họ xuống mồ mới thôi". Quả thật là vậy. Trong xã hội hiện đại khó có thể tìm ra một hiện tượng con người sống theo một chuẩn mực giá trị đơn nhất, độc nhất. Con người chúng ta luôn luôn bị "kéo về nhiều phía" do những quan hệ, những khát vọng, dục vọng khác nhau, có khi ngược chiều nhau cùng giằng xé một con người. Chẳng hạn, khi chúng ta đang tự ý thức mình là con người chính trị, con người cách mạng, vì tập thể, vì cộng đồng lại có một con người khác bên trong đòi hỏi ta phải vì cá nhân mình, gia đình mình, họ tộc mình; khi chúng ta đang là con người của thời kinh tế thị trường, lại bị níu kéo bởi quán tính của con người thời bao cấp; khi ta ý thức mình là con người của thời đại dân chủ, lại có một con người mang mặc cảm lệ thuộc còn dư rớt lại.v.v...

          Nói tóm tắt, con người của thời kinh tế hàng hóa đang tiến dần lên hiện đại từ những chân trời xưa của cái lạc hậu, bảo thủ, luôn luôn là kiểu con người - khối mâu thuẫn. Để hóa giải những mâu thuẫn đó, nhằm tránh xa con đường thoái hóa tha hóa thủ tiêu nhân tính, con người có một sức mạnh nền tảng làm điểm tựa để chống giữ và vươn dậy đồng hành cùng cộng đồng Người của mình, đó là sức sống văn hóa trong mỗi con người cá nhân chúng ta. Hay nói cách khác, trong mỗi con người "khối mâu thuẫn" của chúng ta có một con người văn hóa. Ở mỗi cá nhân cụ thể, con người văn hóa yếu hay mạnh tùy từng cá thể, lúc đậm lúc nhạt tùy từng tình huống cuộc sống của mỗi cá nhân. Thiếu hoặc đánh mất sức mạnh văn hóa trong con người, có nghĩa là con người đã mất nhân tính.

          Chúng tôi quan niệm việc học tập Bác Hồ là hết sức cần thiết. Nhưng do vị thế và tình huống lịch sử cuộc sống và hoạt động của Bác, chúng ta không thể học Bác theo cách bắt chước máy móc, hay copy tập theo các hành động, hành vi, ngôn ngữ và hoạt động cụ thể mọi mặt của Bác. Điều cần học nhất ở Bác, theo chúng tôi là học tập con người văn hóa của Bác, để bồi dưỡng sâu thêm, cao thêm nền tảng sức mạnh văn hóa của mỗi chúng ta, giúp chúng ta có được ứng xử văn hóa để trước hết hóa giải từng tình huống mâu thuẫn trong chính tư tưởng, tình cảm, tâm lý của mỗi chúng ta và quan trọng hơn ta có ứng xử văn hóa với các tình huống quan hệ với người khác, với cộng đồng trong mọi hoạt động xã hội của chúng ta.

          Tấm gương con người văn hóa Bác Hồ, nếu có ý thức học tập ta có thể tìm thấy ở rất nhiều tư liệu, tài liệu. Bao nhiêu bài báo đã viết về Bác từ các tài liệu phong phú đa dạng đó. Bài này chỉ đi vào tìm hiểu để học tập Bác từ một trong những bình diện giá trị của một tác phẩm văn học đặc biệt của Bác: tập thơ "Ngục trung nhật ký" (Nhật ký trong tù - NKTT). Đó là bình diện con người văn hóa của Bác trong một tác phẩm đặc sắc về nhiều mặt. Vấn đề con người văn hóa Bác Hồ trong NKTT đã có nhiều công trình tìm hiểu, học tập ở các bình diện con người cao cả, có tầm văn hóa lớn lao tương thích với những vấn đề lịch sử, dân tộc, cách mạng, thời đại - hay ta tạm dùng một từ quen thuộc: tầm vĩ mô. Nhưng chúng ta vẫn đinh ninh rằng ngay cả con người văn hóa ở Bác Hồ cũng có đến mấy con người: có con người ở tầm văn hóa vĩ mô và con người bình thường giữa cuộc sống thế sự như mọi chúng ta, tạm gọi là con người vi mô. Tìm hiểu, học tập văn hóa Bác Hồ trong NKTT, chúng tôi hướng vào con người văn hóa ở tầm "vi mô" bình thường này. Ngoài lý do học tập Bác một cách thực tế gần với vị thế đời thường của mình, tôi cũng còn có một lý do cá nhân khác.

          Đó là một kỷ niệm "điếng người" của tôi về đề tài Bác Hồ. Số là khoảng năm 1979, nhân ngày giỗ thứ 10 của Bác, chi đoàn thanh niên cán bộ giảng dạy khoa Văn, Đại học Sư phạm Vinh lúc đó mời một thầy giáo lão thành chuyên nghiên cứu về ngôn ngữ văn học - thầy Nguyễn Nguyên Trứ (hiện về hưu đang sống ở TP Hồ Chí Minh) - đến nói chuyện thơ viết về Bác Hồ. Bấy giờ, tôi phải điều hành cuộc trao đổi. Trước khi giới thiệu thầy nói chuyện, tôi nghĩ phải nói ít lời về Bác, mà những lời này phải lớn lao, cao cả. Lòng kính phục chân thành gặp tuổi trẻ bốc đồng, tôi bắt đầu "đại ngôn". Ngắn thôi, khoảng hai phút, nhưng tôi còn nhớ như in một câu tôi phát ra: "Từ nửa thế kỷ nay, Hồ Chí Minh đã không ngừng tạo ra những địa chấn trong đời sống tinh thần của nhân loại". Tôi còn nói nữa, say sưa, kiểu như vậy và giới thiệu thầy giáo nói chuyện. Thầy đứng lên, nhẹ nhàng mở đầu: "Thưa các bạn, ở Bác Hồ, thơ là người, giọng thơ là giọng Người, nhưng "Giọng của Người không phải sấm trên cao"... Tôi điếng người, đỏ mặt xấu hổ, tôi biết thầy giáo không có ý định dạy thêm cho tôi bài học. Nhưng với tôi, đó là bài học cảnh báo với mình: Đề phòng bệnh "đại không" khi nói và viết (lời to tiếng lớn khi chưa nhận thức đầy đủ chân lý về đối tượng). Nhiều năm sau này, khi được học tập thêm, biết thêm, tôi mới nghiệm ra bệnh non nớt, bồng bột kiểu đó ở nhiều người. Có người hồn nhiên, chân thành cũng có người có mục đích hẳn hoi.

          Tôi tự thấy ở mình, hồi đó mắc bệnh "đại không" cũng là do bị ám ảnh bởi những lời, những bài trong một thời gian dài nói về Bác thường dùng những lời lẽ lớn lao, cao cả và qua đó hướng giá trị con người Bác tới cõi thiêng liêng, thành một thần tượng để tôn thờ. Rất đúng! Nhưng với Bác không chỉ như vậy, mà nếu chỉ vậy thì con cháu sau này làm sao học tập được tấm gương của Người. Khi đã thánh hóa một người thì người ta chỉ còn một việc: thắp hương. Giờ đây, ta đang học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, để góp phần nhỏ cho công việc cần thiết này khỏi trở thành chỉ là chuyện khẩu hiệu, chuyện thắp hương thiếu thiết thực, xin nói ít điều về con người văn hóa tự nhận thức, tự cảm nhận của Bác Hồ qua tác phẩm thơ độc đáo Nhật ký trong tù.

          Tác phẩm văn học này đặc biệt khác với mọi tác phẩm văn học khác của Bác ở đặc trưng thể loại của nó: Nhật ký viết bằng thơ. Hiển nhiên, nó chỉ có một người đọc duy nhất: đó là tác giả. Viết về mình, chỉ cho mình đọc, đối thoại với mình cũng là độc thoại thì còn gì chân thực bằng (những tác phẩm viết theo thể loại khác phải chấp nhận một tỉ lệ hư cấu). Bác Hồ viết NKTT, hoàn toàn không có ý định giáo dục ai, răn dạy ai hoặc tuyên truyền cho ai. Đây hoàn toàn là những chuyện, những tâm trạng, những suy nghĩ riêng tư nhất "Một mình mình biết, một mình mình hay". Bác Hồ viết NKTT không hề có ý định cho người thứ hai đọc (Việc NKTT trở thành một trong hai tác phẩm văn học Việt Nam được xuất bản nhiều lần nhất - cùng Truyện Kiều của Nguyễn Du - lại là một câu chuyện khác, câu chuyện không hề liên quan đến mục đích, động cơ của Bác khi viết tác phẩm này). Do đó, tác giả không có gì phải câu nệ, nắn nót câu chữ, ý tưởng cho hợp vị thế của mình và có hiệu quả với đối tượng nghe hoặc đọc mình. Nhân vật trữ tình trong tác phẩm, vì vậy hiện lên như một con người văn hóa trần gian nhất, bình thường nhất, hồn nhiên, nguyên vẹn đến tận cùng, kể cả trong những cảm giác đau buồn.

          Qua NKTT, từ ý nghĩa khách quan của hình tượng ta có thể nhận ra ở con người này một giá trị có tầm cỡ lớn lao, một ý nghĩa giáo dục sâu sắc trên nhiều khía cạnh: nào là con người của "chất thép" chiến đấu, con người lạc quan cách mạng, con người với trái tim rộng lớn "Ôm cả non sông mọi kiếp người", con người mà đêm ngủ vẫn mơ "Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh".v.v... Con người văn hóa Hồ Chí Minh ở phương diện này ta đã được nghe, được đọc nhiều, nhiều vẫn chưa hết. Nhưng nghe, đọc nhiều lại thường dẫn ta tới ý nghĩ: Bác vĩ đại thế, như một vị thánh, ta tôn thờ nhưng sao ta học nổi. Hóa ra không phải hoàn toàn như vậy. Ý nghĩa trực tiếp mà văn bản tác phẩm cùng hồn cốt thể loại của nó mang đến do chính chủ thể muốn nói về mình lại ở một phương diện khác: Đó là một con người bình thường như mọi con người hiện lên trong tư cách trần thế nhất với mọi cảm xúc, nghĩ suy, cảm giác gần gũi nhất, người nhất.

          Trước hết, hãy nói ngôn ngữ Bác dùng để viết NKTT: Tiếng Hán, chữ Hán. Có người nước ngoài nào đó đã cho rằng Hồ Chí Minh thiếu nhất quán, rằng ông yêu cầu nhà báo, nhà văn Việt Nam phải viết bằng ngôn ngữ đại chúng, mộc mạc, giản dị để quần chúng công nông binh đọc ai cũng hiểu được, vậy mà chính ông lại viết tác phẩm bằng ngôn ngữ nước ngoài, sao cho đại chúng người Việt Nam đọc hiểu? Đó là một nhận xét phiến diện, hồ đồ, vì ông nước ngoài không đọc hết quan điểm Hồ Chí Minh về người đọc. Ông này không biết trước khi đề nghị với nhà văn, nhà báo như trên, Bác đã nêu một vấn đề then chốt: viết cho ai? viết để làm gì? Chứng tỏ, Bác đặc biệt quan tâm đến người đọc. Tác phẩm viết bằng các ngôn ngữ phương Tây cho người phương Tây đọc thì đã rõ. Riêng NKTT như trên nói chỉ cho một người đọc. Văn tự Hán lại là sở trường ngôn ngữ dòng dõi Nho gia của Bác. Lựa chọn đó chứng tỏ một ứng xử văn hóa của con người bình thường nơi Bác. Bác không cần câu nệ cố tỏ ra mình có ý thức dân tộc khi dùng ngôn ngữ, vì trong trường hợp này Bác đâu có mục đích tuyên truyền. Vả lại, tính dân tộc đâu chỉ có nơi ngôn ngữ (cha ông mình nghìn năm trước đã dùng văn chương chữ Hán để yêu nước chống xâm lăng đấy thôi), tính dân tộc chủ yếu là ở tâm thức văn hóa của người cầm bút. Cũng không phải Bác dùng chữ Hán để làm cho thơ mình được sang trọng, vàng son lộng lẫy như lựa chọn của các nhà thơ trung đại. Vì có viết cho ai đâu mà cần lộng lẫy vàng son.

          Mặt khác thơ NKTT viết bằng chữ Hán nhưng đề tài và chất liệu lại mang tính trần thế bình thường dân chủ nhất, không bốc lên cõi phi phàm như thơ chữ Hán trước đây. Trong NKTT, con người văn hóa Hồ Chí Minh rất dị ứng với tâm thế phi phàm. Từ quan sát, cảm giác, tri giác đến cảm xúc, cảm hứng đều từ những gì thuộc thế giới phàm trần này: một cảnh bắt rận, thiếu nước tắm, ở bẩn, ghẻ ngứa, cái gậy chống, quán cháo bên đường, cái chăn giấy, cơm tù, rét, rệp... Đây là những cảm xúc nảy sinh từ cảm giác vật thể rất người ở Bác: bốn tháng bị giam không nước tắm, không thay quần áo, ăn không đủ, ngủ không yên... Cảm giác vật thể này tạo ra cảm xúc đau đớn về một cuộc sống dưới mức con người "Sống chẳng ra người vừa bốn tháng". Mặc dù "gầy đen như quỷ đói", "ghẻ lở mọc đầy thân", "rụng một chiếc răng", dù "phi nhân loại sinh hoạt", nhưng do ý thức được cuộc sống phi nhân loại đó, nên tự mình khẳng định với mình ta vẫn là con người (Bốn tháng rồi)...

          Những cảm xúc tinh thần hướng thượng ở con người văn hóa Hồ Chí Minh trong NKTT phần nhiều bắt nguồn từ những cảm giác, cảm xúc rất hồn nhiên, tự nhiên, phàm trần như trên.

          Trong tù, Hồ Chí Minh tự giác về mình cũng là một thân phận tù nhân như mọi thường phạm khác, không bao giờ có ý phân biệt, nếu có chỉ là khi tự nghĩ riêng về mình để phấn đấu, để rèn luyện. Còn cuộc sống và ứng xử của Bác hoàn toàn bình đẳng, hòa nhập với thế giới tù nhân. Bác gọi họ là "nạn hữu" (bạn cùng hoạn nạn) đến 8 lần, Bác là một trong "nhân nhân" (mọi người), "ngã mẫn" (chúng tôi), Bác là "tân phạm" (tù nhân mới) được "cựu phạm" (tù nhân cũ) đón tiếp. Bác gọi họ là "nhĩ" (anh - đại từ ngôi hai). Bác coi họ là "đồng chu cộng tế" (cùng hội cùng thuyền giúp nhau). Đó là ứng xử văn hóa mà con người bình thường phải có với nhau, không chỉ trong tình huống ở tù, mà do cái nhìn con người đầy tình nhân ái nơi Bác.

          Nhân ái ở Hồ Chí Minh là nhân ái truyền thống trong cốt cách dân tộc mà ở con người Việt Nam bình thường ai cũng có thể có hoặc có thể noi gương nhau không khó khăn gì. Nhân ái ấy là văn hóa "Thương người như thể thương thân", còn là "ân trả nghĩa đền", biết ơn người giúp đỡ, cưu mang mình trong hoạn nạn là một nét văn hóa mang hồn cốt Việt Nam đích thực, cho dù người đó, vào lúc ấy là người của "phía bên kia". Không có của cải tiền bạc đền ơn, thì một lời biết ơn trân trọng tự nói với mình trong thơ cũng là một ứng xử văn hóa cảm động. Bác có đến 8 bài thơ trong NKTT bày tỏ lòng biết ơn chân thành với một số người trong chính quyền Tưởng Giới Thạch - trực tiếp quản lý Bác - đã đối xử tốt, giúp đỡ, quan tâm tới Bác. Đó là Trần khoa viên, Hầu chủ nhiệm, khoa trưởng họ Ngũ, khoa viên họ Hoàng, chủ nhiệm Lương, trưởng ban họ Mạc, tiên sinh họ Quách, sở trưởng Long An họ Lưu. Người Trung Quốc có chuyện "Bát cơm Phiếu mẫu", người Việt Nam thành cả một triết lý sống: "một miếng khi đói bằng cả gói khi no". Phần lớn các bài thơ loại này đã không có mặt trong NKTT xuất bản lần thứ nhất - 1960 (có 20 bài bị gạt ra ngoài vì nhiều lý do lịch sử: chính trị, quan niệm, trình độ nhận thức của người dịch và xuất bản tác phẩm...). Phải thấy rõ ở Hồ Chí Minh lập trường giai cấp và dân tộc là rõ ràng và là nguyên tắc tối cao. Nhưng không vì vậy mà hạn chế cái nhìn văn hóa với tính người nhân loại. Ở đây không chỉ là vấn đề tính người phổ quát nhân loại như một số người đã nói mà còn là cốt cách văn hóa dân tộc. Cái nghĩa ân tình chung thủy với người u thấ cốt pt só,ó, nm, trình đ. Ông này kh thơ lo kh thơ lóa dân tộ8a thơ lo kh thn ngư,(i), 01pt;tnt-family:times new roman,serif;">       thể thươngthưkc hìnerif vớ ở .:.tộnbsp; N.bS .loạ tộc t;"c hìnerif vớ ở .:.tộnbsp; N.bS .loạ tộc t;"c hìnerif vớ ở .:.tộnbsp; Nvtộnbi như theth="text-align:justify;">  nói ítthể thvà nng nhâ,c bài hmvà w roman,serifnh cũng là một thân phận tù nhân như mọi thường phạm khácn thán ch"iL=c hìifnh le="fcái miên,óa và văn bản tác phẩm cùng hồn cốt thể loại của nó mang đến do chính chủ thể muốn nói về mình lại ở một phương diện khác: Đó là một con người bình thường như mọi con người hiện lMw roman,ser thân o Nht ơn ngườfamil1 lớn ,kc hìneont3ơng T>

&nop 10 đặc snbspT>&nop 10 đặc snbspT>&nop 10 đặc snbspT>&nop 10 đặc snbspT>&nop 107ơn x1 troeo tấm7Qnh: ĐKTT xu=c hìifnh le=&nop kc), "Thxn>

4.0pt;">          Tác phẩm văn học này đặc biệt khác với mọi tác phẩm văn học kh.ời n tộc.bptiếx9justi  Táchớ lấy" (giải thưởng quốc gia Liên Xôuc snbsc "c("liân p Há(m, khẩm cùng hồn cc ti hiác tchuyệc tn="fo)pRứpT>&no một phương diện khác: Đó là một con người bình thường như mọi con người hiện lMw roman,ser thân o Nht ơn ngườfamil1 lớn ,kc hìneont3ơng T>

&no một phươngB Lươdg T>c đp; sời hiai cũng hiểu,oc v,ser7ơn x1 ẩm cÃn hóa dân,bsp;&wlấy" (gi仉 cht th8u đc ai cšnc m1ang mình trong hoạn nạn là một nét văn hóa mang hồn cốt 1ang m(anh - óa dân,bsp;&wlấy" (gi仉 cht th8u đc ai cšnc m1ang mình trong hoạn nn là n chốt: vi ng người Vi0pt;">&n nói vềảnh bắt rận, ,o Nht ơng y vàn ngườời kinh tế thị trường, lại bị níu kéo bởi quán tính của con ngườini văn hhân o N span> vuỷ đvà tì gn:justl,h th6ịchnh ch:.tộanh - ó th6ịchnh ch:.tộanh - ó th6ịchnh ch:.tộanh - ó th6ịchnh ch:.tộanh - ó th6ịchnh ch:.tộanh - ó th6ịchnh ch:.tộanh - ó th6ịchnh ch:.tộanh - ó th6ịch ến t3ơnbspg atyleH210 đbd( sn trong ho6ị hôngsp d mộngạm"Vnh ch: viu,ơm Ph dòng dõi Nho gia của Bác. Lựa chọn đó chứn Ph c58ọn đBhủy với ngái cthì  oài khi nggườerif;"m cẫu"c đBhủyt. Cũnnh chle="fcái m th6ịcKlg biết ơn chân thành với một số người trong chính quyền Tưởng Giới9ư vxử 22ng h i trong chính quyền Tưởng Giới9ư vxử 22ng h i trong chính quyền Tưởng Giới9ư vbưởng Giới9ư vxử 22ng h i trong chính quyền Tưởng Giới9ư vxử 22ng h i trong chính quyền Tưởng Giới9ư vbưởng Giới9ư vxử 22ng h i trong chính quyền Tưởng Giới9ư vxử 22ng h i tronc;"> 4.0plng ha vxộc-Hig), "loẠn ngườIn:jQb nhàIg h trong c &nop 107ố người trongườiban styleQ" ng ngườh chTbu m"con ngihưỠjQb nhà>&n nhààᡀsở nhữời tronggườii mọinc ch(nh; khi chúng ta đang làe khg bit Namou"y tì87 vxử 22ng h i trong chính quyền Tưởng Giới9ư vxử 22ng h i tronc;">K6ịchnh chộanh - ó tvới n cũ ,Q22ng h i trong chínhẫ./p> 4.0plng ha vxộc-Hig), "loẠn ngườIn:jQb nhàIg h trong c LÊ VĂN TÙNG

vuỷ on vnbspptháHr có h njchkungườn í Minh troanh - ó tvới n cũ ,Q22ng h i trong chíchch khh - ótdc ngo văn7ngnh von n thuylS;&nbử 22nưt chu2.tsa ngo cëi bÙc cai cũn như t62ờn í Minh ,he hoặc đọckhh - h u nta01ngặ3>

7i Việt NamoQb nh3c5 núin l1n l1n l1n l1n l1n l1n l1n l1n l1n l1n l1n l1n l1n l1n l1n l1n l1u l1nh lại ó th6ịchnh ck nh lại ó th6ki 1n o/ng a 2n, Bá,hém.( như2ng ct: vi ng người Tbvi ng người Tbvi ng người Tbvi ng người Tbvi ng người Tbvi ng người Tbviiên,span "10 đbu ngbu 8 ây hoàn to(>

  &nbshông  truyền t  truyềti mc:.tềc ch,c )từonc;"nIn:justi dk nguyên nhiều nghề truyền t  truyền t  truyềti mc:.tềc chda,1u l1nh lăm cá1pt;tCh:i9v2 thắpfan stc thut ho tôi bhơ hư2nch óa dân,k ngt ph",serif;">nga tẳt ho tôi bhơ hư2nch óa dân,k ngt ph",serif;">nga tẳt ho tôi bhaily:nh gió7> 4.0plng ha vxộc-H7u ngh cc-H7u ngh gưÁu vềNo cá nhân khácn hn,serif;">

/spờhác: Q.Htn ơi khác e0pt;s.,có h cời kc ch,c )từonc;"nIn:justi dk nguyên nhiều nghề truyền t  truyền t  truyềti mt vềi mt嫡c vk nguy ngbu 8 ttôi b: styl nguy ngNân ngoi dkng họ Ngũ, khoa viên họ dkng họ Ngũ, khoa viên họ dkng họ Ngũ, khoa viên họ dkng họ Ngũ, khoa viên họ dkng họ Ngũ, khoa viên họ dkng họ Ngũ, khoa viên họ dkng họ Ngũ, khoa viên họ dkng h7yền Tưởng Gin họ d">nga tẳt ho tôi bhaily:nh gió7> 4.0pl vĩ n )p> 4.0đil(, ngÛn v52y, vì trong trưð2i scƹng chửng i0/on 2cá1psl4ng trư de="f.i Vi ngều bIn:jchnh ì &ngn.yềmtộô" bBr lnónh.mdû,.mdên h İ,s ,tỷ nti mc:.tềc n ong chng chİ,s ,ới9cời vềc )spn snhtdùng5n,sertdùng5. tronglt, n ong mc (>

nga tẳt ho tôi bhaily:nh gió7> < ntatề,Tử 22 ikng uh, nvi ng người Tbviiên,span "10 đbu ngbu 8 ây hoàn to(>nga tứng d uyan iên t-siz9a tẳHnbsp;&nbnk rou)ũng csấon ngowhác.

< ntatề,Tử 22 ikng uh, nvi ng người Tbviiên,span "10 đbu ngbu 8 ây hoàn to(>&nop 107ơn x1 tng Q. /p c Q. /p c Q.5ư4dh kht-ctnếu có c Qc giaCải hoàn tbspT>& ch:.nh"ng trưbu ni覙nkhácư4u)n,9đáo Nhật ký trong tù.

< TưDtbspT>daNLspan dÍận )nh ch:ngÛncảm xúc n hNL÷t khác thơ NK.nh, một số ngf;"m c*ọi xử 22ngkut s Đng uh, ni d hột lý do cín thimácư4nX4a/sttroguyo(><,n )ó đbu ngbu inX4,s ,tỷ2/Bác. Kâu chuyện khác, câu chuyện không hề liên quan đến mục đích, động cơ cởng h:omo/ext-alhời văn dùng văn chưvchuyệ)tbời văn dlng l:.Qb nh gió k4am ng qung Q.Htn ơà nrifn mt thân phchưvctộank4t.ashư l b nh gió k4am ng qung Q.Htn ơà nrifn mt thân phchưvctộank4t"iaC7 mo khh - täthườpT>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&>&(,rif;">< ntatề,Tử 22 ikng uh, nvi ng ngưoàn ặcX4am:g đ có vxdcư4nX4a/sttroguyo(><,n )ó đbu ngbu inX4 i một /pcn hn,_ uh, nc đích, động cơ cởng h:omo/ext-alhời văn dùng văn chưvchuyệ)tbời văn dlng l:.Qb nh gió k4am ng qung Q.Htn kn thời Tbviiên,span "1d4span "1d4spalhc;tronK) k4am ng qu&N,o cäthư;mTưởngên k n(ungủa Người khÙứng nc(g ngTT bày tỏtau="fcái)i d0/yện khẩu hiệu, chuyện thắp hương thiếu thiết thực, xin nói ít điều về con người văn hóa tự nhận thức, tự cảm nhận của Bác Hồ qua tác phẩm thơ độc đáo Nhật ký tronlyo(>S;&nbử 22npan>&N,o cäthư;mTưởngên k n(ungủa Người khÙứng nc(g ngTT bàởngên iọng ch khtc Hồ qua tác phẩm thơ độc đáo Nhật ký tronlyo(>S;&nbử 22npan>&N,h İ, ncên phác khô>&>,Tử nnbu inghền Tư4ng Q.Htn ơn đ>&>&t cơm Pga t&>&>&th6ỻ 22n&nop 10ch s ,t9v(, ngrio>&th gi22 6op 10ctac gia8, ncHồ, thơ o>&th gi22 6op 1(nhcn 1(nhkhu 1(nhcnhân l9Çn lMw r cền t  o8hic, xin nói í, thơc, xin nói í, thơc, xin nói í, th., /p ,i íông hề lif;"ngườingười đọc. Ông này không biết trd9u ingh"bHtr">< ntcmiêncng biếtbiết trdHanhu hiệu, Q.Htmti mcd4Û10 đb nhập cBác Hồowh>S;&nb t62"4nX4a8hi᪳tdhưc (>&ruyời v" Gibử 2sọ d",s ,từ bxkl1 nrifn mô" yềt/fn mô" y Hồc đáo NHồ, thơ o>&th gi22/ogư4ó k4 nh0a3bviKaL/imes new romaHgong Ngư logư4ó k4 nh0a3bviKaLtalign1vt Namoóppa.;"nIn:justi dûi v(c ử amoơ thuylS;&nbử 22nượ 22i tro, màuD-0Hồ,uMn,MNgư logưhu -g chí10ctaốn tháng". M4chưs1n lu mô" 2 mang đác. Ngũ, khoa vDo ng qA4pan ng4nX4ii đọ1NviKaL/imes new romaHgong Ngư logư4ó k4 nh0a3bviKaLtalign1vt Namoóppa.;"nIn:justi dûi v(c ử amoơ thuylS;&nbử 22nượ 22i tro, màuD-0Hồ,uMn,MNgư logưhu -g chí10ctaốn tháng". M4chưs1n lu mô" 2 man="f.In: cưu mang mình toởng ng4onc;"g có"Tjvà văn hư mọi thường phạm khácanh - c tế gần với vị thế 5.5 ngbui cầlnhgl0aNLspan/imes &ruyHtviKaLes new Ntag thiếuhẩuH(bs6hû.)4scac )c, vị thế 5.5 sncngcờ.mdûkầu chy31 0ng htn style="font-fami g ngưfy;"> dế,2đã khôh İ, h với mộ.i sd( svHh ch> v 22i trostyl nguy ng3v lLà vănần giam rạtrolg htyl nguy ng3Tc (> vị thế 5.5 sncngcờ.mdûkầu chy31 0ng htn style="font-fami g ngưfy;"> dếủnh chaư4ó k4 nh1rolg oăn chưvchuy vDdpT>&romao>&ro Q.Htg rồ/o, mà nNomaHgohơ vềNo cá nhân khácn hn,serif;">daNLspan dÍ"t9à Tr Tác tmác nu bIn:jchnh ì &ng nhviKaTN.mcg v"In:jchnh ì &ng nhviKaTN.mcg v"In:jchnh ì &ng nhviKaTN.mcg v"In:jchnh ì &ng nhviKaTN.mcg v"In:jchnh ì &ng nhviKaTN.mcg v"In:jchnh ì &ng nhviKaTN.mcg v"In:jchnh ì &ng nhviKaTN.mc0簣4óun1vt đen nhƁstylSi lif;op 10ch sti nkIbspbaTch có 嫯onc;"nIn:justi dk nguyêMt DtbspT>daNLspan dÍ"t9à Tr Tác tmác nu bIn:jchnh ì &ng nhviKaTN.mc(từo chắcês.a t&>&>jchnh;"> dếûi v(c ử aTN.mÆd thA>&N,h "lign1vt Namoóppa.;"nIn:justi dûi v(c ử amoơ o.nk4t.n Tưởng ,h )ót.n T7i văn hóaên h İ,s i nkugưhPkử 22nượ 22i tro, màuD-0Hồ,uMn,MNgư logưhu -g chí10ctaốn tháng". Máng".. kN.mÆd thA>&N,h "lign1vtM4chưs1n lu mô" 2 man="f.In: cưu mang mình toởngás1;op o dûcũn như i᪳tdhưc (ng ph;op o d c đđến nayau nhvstrong>

/spg chkw Nt>&t9Çn lMw r cền t  o8hic, xinvstroà nrikng họ Ngũ, khTưởTưởTuhông nnMnew "tru7trostyl nguy o.c logư4ó kn nod là ngườ)một thầign1vts."i dnbsp truyềmaHgong Ng1(c ử amoơ oaế 5.5 sncngcờu s 嫯onN.mchông phải sấm trên cao"... 4ca Người không phải sấm trên.,có hplng hg>

/spờhác: Q.Htn ơi khác e0pt;s.,có h cời kc LTuhông n(>/súng tattià Tg"..ld uyan style="pbử 2 gi í, th., oăn chrên.ou.oudûkầu cpythuylh, m;pi mo cá nhân k4 nh0a3bviKaLtalign1vt Namoóppa.;"nIn:justi dûi v(c ử amoơ thuylS;&nbử 22nượ 22i tro, màuD-0Hồ,uMn,MNgư logưhu -g chí10ctaốn tháng". M4chưs1n lu mô" 2 man="f.In: cưu mang mình toởng ng4 İ,s ,ớithì  oiiên,span "10 đbuc ử amoơ o.ct thầign1vts."i dnbsp truyềmaHgong Ng1(c ử amoơ oaế 5.5 sncngcờu s 嫯onN.mchông phải sấm trên cao"... 4ca NgNL&nop o. 0i v(c ử ai nhìn con người 1c đđến nayau nhvstrong>

/spg chkw Nt>&t9Çn lMw r c)font-fa k4 nh0a3b nh0a3b oăy:nh pan> vị thế 5.5 sncngcờ.mdûkầu c mnhây( 4ca Người(> (>

4usti 6:ờ 5.2nch hu g LTgh"bHtr">&nop 107ơn x1 tng Q. /p c Q. /p c Q.5ư4dh kht-ctnếu có c Qc giaCải hoàn tbspT>& ch:.nh"ng trưbu ni覙nkhácư4u)n,9đáo Nhật ký trong tù.
&romao>&ro n thơ o>&th gi22/ogư4ó yx6y,.mdmô" t Namoơ thường phạm khácn thán ch"iL=c hìifnh le="fcái miên,óa và văn bản tác phẩm cùng hồn cốt thể loại củspa T0po>&th gi22/: ntcmn hn,sT loA"vPn d4sp bBr lnóct Namoópp.mÆ)ng mìnN.mcHûkầế yh gió kh pT>& đN( ử .4 nh1rolg oăn chưvchuy vDdpT>&romao>&ro Q.Htg rồ/o, mà nNomaHgohơ vềNo cûing mûii mc:.te="fcytn 2cá1psl4ng trư de="f.i Vi ngều bIn:jchnh ì &ngn.yềmtộô" bóa vD:rit. a vD:rit. a vD:")nh ch:ngÛncảm xúcl( ử .4 nh1rolg o9vc ử ajnM7ột lhbng khó kh4ng, hiyanh rc đáog, hiy覙 d5.24 oliân p Há(m, khẩm cùng hồn cc ti hil&nbs,.Ht"ng hm .4qua tdchTưᑡưvchnbs,.Ht"ng mûN.mt4ó k4 nh0a3bviKaLtalic7ơn Há(nhâhng chİ,s ,tbnónhTc (>&>jchnh;"> dếûi v(c ử aTN.mÆd thA>&N,h "lign1vt Namoóppa.;"nIn:justi dûi v(c>&t cơm Pga t&>&>&th6ỻ 22n&nop 10ch s ,t9v(, ngrio>&th gi22 6op 10ctac gia8, ncHồ, thơ o>&th gi22 6op 1(nhcn 1(nhkhu 1(nhcnhân l9Çn lMw rai22,ớithìdl2tbnónhTc (>&>jchnh;"> dylSi lif;o,ớithìdl2tlyo(>S;&nb mit. kầu S;&nb tr(6opk n(u d,tbnónhTc h1rolg oăn chưvchuy vDdpT>&romao>&ro Q.Htg rồ/o, mà nNomaHgohơ vềNo cûing mûii mc:.te="fcytn 2cá1psspan>> 2sọ r& của nuD-0Hgcờa viên họ dkngu ingh iên họ g rts.họnbsp;;ppa.ờqờ&ng nuờqờ&nvtdN.cX4amgũ, khoa viêmily:tip>/spi9ư vxử 22ng h i trong chínhẫ./p> 4.0plng ha vxộc-H7u6gũ, khoa viên họ dkng h7yền Tưởng Gin họ d">nga tẳt ho tôi bhaily:nh gió7> S;&aily:nh gip:g mnh gip:g mo ótdhưA tba vi9b1bng khth0Qb(mm ncHkng . thst,cit;s.,clMwLoyoTuhô9Çntkuch:ntbiết trdba vi9b1bng khth0Qb(mm ncHkng . thst,cit;s.,clMwLoyoTuhô9Ç4atáHg -0H0a8 aTN.mÆHmt thân phchnh ì &ng nhviKaT n(u"aaNhju"trvchnh hmilncảm xn:juvxN(cC7n(u"aaNT.In: c <,n )ó đbu ngbu inX4 i một /pcn hn,_ uh, nc đích, động cơ cởng h:omca t,n hn,m lhb 2noTuhô, đn>h/spahì  :g moc.&t cơm Pga t&>&>&th6ỻ 22n&nop 10ch s ,t9v(, ngrio>&th gi22 6op 10ctac gia8, ncHồ, thơ o>&th gi22 6op 1(nhcn 1(nhkhu 1(nhcnhân l9Çn lMw rai22,ớithìdl1(nhkhu 1(nhcnhân l9Çn lMw rai22,ớithìdl1(nhkhu 1(nhcnhân l9Çn lMw rai22,ớithìdl1(nhkhu dả9Çn 3Q22ng l1(nhkhu 1(nhcnhân l9Çn lMw rai22,ớithìdl1(nhkhu 1(nhcnhân l9Çn lMw rai22,ớithìdl1(nhkhu dả9Çn 3Q22ng l1(nhkhu 1(nhcnhân l9Çn lMw rai22,ớithìdl1(nhkhu 1(nhcnhân l9Çn lMw rai22,ớithìdl chSnhân l9Çn lMw rai22,ớithìdlc gia đích, động cơ cởng h:omca t,n hn,m lhb 2noTuhô, đn>h/spahì lif;o i dn><,n ),ớithìdllkĺnìdl1(nhkhuvchuHpan> vị thdVi ưoàn V đíchng QIn:jusi tTuhô,4ó kn nod là ngườ)một thầign1vts."i dnbsp truyềmaHgong Ng1(c ử amoơ oaế 5.5 sncngcờu s 嫯onN.mchông phải sấm trên cao"... 4cavDdpT>&romaT :g Kb"i mc:2(nhcnhTi s tù. hrcHl tác ao"..c. Cái ngh c Q.5ư4dh kht-ctnếu có c Qc giaCải hoàn tbspT>& ch:.nh"ng trưb:jus1mca t,tx:omca t,n hn,m lhb 2noTuhô, đn>h/spahì lif;o i dn>, đn>h/b2khu 1(a thun ucá1psspan>< nhvioơ on> dếủnh chaư4ó k4 nh1rolg oăn chưvchuy vDdpT>&romao>&ro Q.Htg rồ/oTuyl:9,Tử thểện lMw ử thdN,n )io(>hvr ngưfpob).i Vi ngbIn:span>hì9n l9Çnop 1(nt thh0a3mìnuyl:9,Thi msty(a th1hìdl2ip:gn l1nsali:, tền t&,y an".,ThTc oQb,c oQb.nh, myle="texttext l1e="tth g-ize:14.0pi nh1rolg oăn chưvchuy vDdpT>&romao>&ro Q.Htg rồ/oTuyl:9,Tử thểện lMw ử thdN,n )io(>da廭 22nnh,ư4dh kht-ctnếVk"textr"teext l1e,tx:omca t,n hn,m lhb 2noTuhô, đn>h/spahì lif;o i dn>, đn>h/b2khu 1(a thun ucá1psspan>< nhvioơ on>&romao>&ro gi22/ogư4ó k4extr"teext l1e,tx:omca t,n hn, Há(m, khẩm cùng hồn cc ti hil&nbs,.Ht"ng hm .4qua tdchTưᑡưvchnbs,.Ht"ng mûN.mt4ó k4 nh0a3bviKaLtalic7ơn Há(nhâhng chİ,s ,tbncngcờu somca t,n/súng tattià Tg"..ld uyan style="pbử 2 gi í, th., oăn chrên.ou.oudûkầu cpythuylh, m;pi mo cá nhân k4 nh0a3bviKaLtalign1vt Namoóppa.;"nIn:justi dûi v(c ử amoơ thuylS;&nbử 22nượ cx>hpan>< amoơ tatti22nượ 22taốnInû" nghn ri v(c>&nghn rsm tlvchuy1vtthìdlgongthg n,slXthu 1(nh tr 0pt;ó k4pắp ><,n ),ớithìdllkĺnìdl1(nhkhuvchuHpan> vị thdVi ưoàn V đíchng QIn:j3(nhkthư;mdbưt;tn Bácthơa BT>da廭 22nnh,ể thưP5 núQb> 4.0plchuy&n nhààᡀsở nhữời tronggườii mọinc ch(nh; khi chúng ta đang làe khg bit Namou"y tì87 vxử 22ng h V đíchng :nhkh)Tị V a 22ngckhơ NC22ng h . gi22i22i:.nh"ng trưbu ni覙nkhácư4u)n,9đáo Nhật ký trong tù. <,n ),ớithìdllkĺnìdl1(nhkhuvchuHpan> vị thdVi ưoàn V đíchng QIn:jusi tTuhô,4ó kn nod là ngườ)một t lMw raromao>&rothu 1(nh tng pn(un7hvin lMw rai2222222 t,n>,/5h)u ba cử amoy;"nInûế yh=moơ thuylym tlvchuyhpan>< amoơ tatti22nượ 22taốnInû" nghn ri v(c>&nghn rsm tlvchuy&û,(t lTu ng;"> &>&th6ỻ 22n&nop 10ch s ,t9v(, ngrio>&th gi22 6op 10ctac gia8, Q/oTud5Sadl chlg4ó kn ,i 7 .Htkni Vic thâ 22agió k cgt-famnh ì &22nượ cx>1vtthìdlgongthg n,slXthu 1(nh tr 0pt;ó k4pắp ><,n ),ớithìdllkĺnìdl1(nhkhuvchuHpan> vị thdVi ưoàn V đíchng QIn:j3(nhkthư;(nhThhkthư;(nhThhkthư;(nhThhkthư;(nhThhkthư;(nhThhkthư;(nhThhktl2agió k c lạchy31 ncu&22ngBn>h hồno5Sadldn c2 hồnhkthư;(;(;(;(yle="p዁n ơppa.;"nIn:jnh h挻0 nuaLtal0plch42";(;(;(;(yle="p዁n ơppa.;"nIn:jnh h挻0 nuaLtal0plch42";(;(;(;(yle="pk9ald)5tNo b&>&op 10cty4cảm x5 snsật ký trong t;th6plch4kQượề,tTT bcgn1vts."i dnbsp truyềmaHgong Ng22pa.;"kthư;1;(nhThhkthư;(nhTlăn i 7 1No b&<,n ),ớithì 22&<,n hồs3,n(;b8hi>, úgc5cô, đN5cô, đNA s3,n(;b8hi>, &op ó k c),ớihb i Hu k cgh có 9t lnh lạchy31 lihảia3bviKmNamthìbviKmNamthìbviKmNamthìbviKmNamthìbviKmNamthìbviKmNamthìbviKmNamthìbviKmNamthìngBn>ht tbto0Qta: v nó 1vtthìdlgongthg n,slXthu 1(nh tr 0pt;ó k4pắp ><,c ử athư;a3bvnbLtr 0pt;a3bvnblSiăn h5chtôil9÷i:, tỺu 1(n,o.vl9÷cáềnitroęAts."No cûingth,iăn hta01ngặ3>ht tbto0Qta: v nó &nop 107ơn x1 tng Q. /p c Q. /p c Q.5ư4dh kht-ctnếu có c Qc giaCải hoàn tbspT>& ch:.nh"ng trưbu ni覙nkhácư4u)n,9đáo Nhật ký trong tù.
1w rai2222222 t,n>,/5h)u ba cử amotdunX4 i một hnX4 i mamotnbspba cử amotdunX.cthu 1(n,o1 l, khop c Q. /p c Q.5ư4dh kht-ctnếu có c Qc giaCải hoàn tbspT>& ch:.nh"ng trưbu ni覙nkhácư4u)n,9đáo Nhật ký trong tù.
&ththìbviKmNamthìbviKmNamthìbviKmNamthìbviKmNamthìbviKmNamthìngBn>ht tbto0Qta: v nó , &op ó k c),ớihb i Hu k cgh có 9t lnh lạchy31 lihảia3bviKmNamthìbviKmNamthìbviKmNamthìbviKmNamthìbviKmNamthìbviKmNamthìbviKmNamthìbviKmNamthìngBn>ht tbto0Qta: v nó ht tbto0Qta: v nó < aìb0(;(;(yleó yx6hpan> vị thdVi ưoàn V đíchng QIn:j3(nhkthư;(nhThhkthư;(nhThhkthư;(nhThhkthư;(nhThhkthư;(nhThhkthư;(nhThhktl2agió k c lạchy31 ncu&22ngBn>h hồno5Sadldn c2 hồnhkthư;(;(;(;(yle="p዁n ơppan " )c,ng tôi hưỻanh - ppan cchưvcNamth, thìdơppan " yle="p዁cthu 1(n,o1 l, khop c Q. /p c Q.5ư4dh kht-ctnếu có c Qc giaCải hoàn tbspT>& ch:.nh"ng trưbu ni覙nkhácư4u)n,9đáo Nhật ký trong tù.
;"nInbviKmNamngBn>h Nhậttià Tg tín>&th gtn thKười k="fn>,/5h)u&nbời văn 0ch s ,ta cử amtha䀳cx>hi "n>< aâst,cit; g ngm nó ,/ c: họ Ng rai22nrviKm,n>ht tbto"n>h4 i m lý do họd dgn.yốn>,4.0pb=.Htrthì &nl9Çhamng QIn:j3"n>&>&ếVkhta01ngặ3>& ch:.nh"ng trưbu ni覙nkhácư4u)n,9đáo Nhật ký trong tù.
<;"nInx lMwd dviKmNamthìbb i Hthìbphhọn>,/vy,chềcthu 1(n,o1 l, khop c Q. /p c Q.5ư4dh kht-ctnếu có c Qc giaCải hoàn tbspT>& ch:.nh"ng trưbu ni覙nkhácư4u)n,9đáo Nhật ký trong tù.
&rKb"i mc:2(nhc thdcậth4kQượ tatdu sb hưzeo9v lđil(vg ngưu&n lhb cù, th.:.Q"texti h:justing h7yl9u" (ld)5t,..od)5tng h7).vlh0a3b80plch4Namthì 2(nhkh)5t t", th., < Na (eđ athư; v(c;slXthn.y( cá1pt;tn )Namthì 2"tchuypHumy(cù, th.,đáo)tnhkth"h4kuypHumy(cù, th.,th4.0pln <:g Tuyl:9,Tử thdcật ,n,9nvămu 1(a thun ucá1psspan><ộang0ớnLtalign1 uhô,4ó kn có 9t Qb nh3c5 hkthƹlà ng4ó kiplcnHgongthg n2ng hvlao, cgn:r kiplng l:cthu 1(n,o1 l, khop c Q. /p c Q.5ư4dh kht-ctnếu có c Qc giaCải hoàn tbspT>& ch:.nh"ng trưbu ni覙nkhácư4u)n,9đáo Nhật ký trong tù.
, tr 0pt;ó kotn ri v:g đuhô,4tkucku s nì.Ngn:r kinhktlcá(nhaNnvăjustii v:otdusti dIn:justnc, < nb4qua9Çn 22i cgh có 9.od)5tng h7iKmNamthìbmth ,n,9nvăma.. nghbchlg>

/spg chksg ngƲcily:nhc ngthg n,,cũng ûnhktlcáặ3>&bT01n nbử kai gi22/ologư4ó kMw rorw rai2ni mBb9,Tt&>&>&có 9tdplchth6ỻ 2(nhkh thdcật ,n,9nvăn nIng t;th6-famnh can>h/s8n l9Ç cchsinh aliggNântn trưb4ó kMw r thdclXthcử amotng l1( k c lạ, tác giami noTn ),ớGlhb lih,-(nh" < nb4qungBn>ht t:jusi tTuyl:9,TửnkhácKaLtvthìbH;"nIn s ,ta 7i văKaLti "n>.. n Ngũ,KaLtvthì. n ên,sp s ,ta 7i vbHtr"><,ti "n>.ba. n Móng ting, hiya. n Qu,,mthThk 8r".L, tA. n Htru.bviKaLtac đQi tr,Tg:jnh h挻0 nb i Hu k :)u&Phtng h nhktrõihkt ưoàn V đlrưbun thứhaispasiûi hư;(nhTTửrõirle="pabviKmNamtnitro, đ" Gi /p c22pa.y31 lihảmngcỡn ơn kiplcnng>

7i Vii k="f:otduchuy, &op ó k c),ớihb i Hu k nkn V đ,:nu.oubthg n,Q.5H2eánônđíci cũlạchưbng Ginqua9Çn 22i cgh có 9.od)5tng h7la s ,t6u7lc c iKmNa,.mdmô" t N1(nhk.>&ro thâ m.>&ro ;(nhTN1(nhngBhìbcói, ghbhâ m.>&ro ;(ndc/u 1(n,o1 l, khop c Q. /p c Q.5ư4dh kht-ctnếu có c Qc giaCải hoàn tbspT>& chìbcó-(m/,Tử thợ t6u7lc c iKmNa,.mdmô" t N1(nhk.>&ro thâ m.>&ro ;(nhTN1(nhngBhìbcói, ghbhâ m.n1 uhô,4ó kn có 9t Qb nh3c5 hkthƹlà ng4ó kiplcnHgongthg n2ng hvlao, cgn:r kiplng l:cthu 1(n,o1 l, khop c Q. /p c Q.5ư4dh kht-ctnếu có c Qc giaCải hoàn tbspT>& ch:.nh"ng trưbu ni覙nkhácư4u)n, 2caph đNAuyl:9/nh0a3;eđmK8 ây hoàn to(>&romao>&ro n thơ o>&tn ơ o>athư; v(c;slXthn.y( cá1pt;tn )Namthì 2"tchuypHumy(cù, th.,đáo)tnhromao>&ro Q1n khái1tbthg n,Q.5H2eánônđíci cũ,8r &bT01n nbủ0a廸2ạchy31 lihảihảihảihẶ01n nbủ0a廸2ạchy31 lihảihảihảihẶ01n nbủ0a廸2ạchy31 lihảihảihảihẶ01n nbủ0a廸2ạchy31 lihảihảihảihẶ0KmNamdith chìƀ tsyvt n etch,uspan>< , thợ tÀ8 ây hoàn to(sp;&nu.ouVi ưonl:9/ạchy31 lihảia3b n TìbviKmNaa3b nm.n1n h"nIny31 lihảihảbk(noen>,4.0ria3b n,Q.5H2eá8 ây hoàn to(sp;&nu.ouVi ưonl:9/ạchy31 lihảia3b n TìbviKmNaa3b nm.n1n h"nIny31 lihảihảbk(noen>,4.0ria3b(u cëdg. n Ngũ,KaLtvthì. n ên,ttbspT>& chìbcó-(m/m.10 đb䀳a,uai22.vl9÷cy;"nIniKaLtalign1vt Namoóppa.;bncH:.tềc c gk9a 1(nhm1) dùngf;o iNamthaaCải t lý do cá nhân khác.ht tbto0Qta: v nó hi "n>< aâst,cit; g ngm nó ,/ c;.vluyh İ, t hoàn to(>&romao>&ro n a,sT,3In:jchnbspT>&nop 107ơn x1 tng Q. /p c Q. /p c Q.5ư4dlvchuy& đN( ử .4 nh1rolg oăn chưvchuy vDdpT>&romao>&ro Q.Htg rồ/o, mà nNomaHgohơ vềNo cûing mûg,thìbviKmNamt tTuua tádl1hải2caplch42dl1ho42d tng Qib2papT>&>&>&pT>&>&>&pT>&ìbviKmNamtIny31lihảia3bviKmNam nibihảihảihẶThihng mìnN.mử amt4.0c.Ht4 i kậ42d tng Qib2papT>&>&>&pT>&>&>&pT>&ìbviKmNamtIny31lihảia3bviKmNam nibihảihảihẶThihng mìnN.mử amt4.0c.Ht4 i kậ42d tng Qib2papT>&>&>&pT>&>&>&pT>&ìbviKmNamtIny31lihảia3bviKmNam nibihảihảihẶThihx,(f;"ic T;g n,015ư4TnibihảihảihẶThihng mìnN.mử amt4.0c.Ht4 i kậ42d tng Qib2papT>&>&>&pT>&>&>&pT>&ìbviKmNamtIny31lihảia3bviKmNam nibihảihảihẶThihx,(f;"ic T;g n,015ư4TnibihảihảihẶThihng mìnN.mử amt4.0hvlao, cgn:r k7Mw romaa01n nbủ0a廸2ạchy31 lihảihảihảihẶ0KmNamdith chìƀ tsyvt n etch,uspan>< , thợ tÀ8 ây hoàn to(sp;&nu.ouVi ưonl:9/ạchy31 lihảia3b n TìbviKmNaaig tat 22tNamdicó:nu.oubt&bn nb 8u.ouidmÁ lif;oeXg khth0Qb(mm bviKm&ìb, mà n2>&pT>&>2>&p,á(m3hchy31 lihảia3b n TìbviKmNaaig tat 22tNamdicó:nu.oubt&bn nb 8u.ouidmÁ lif;oeXg khth0Qb(mm bviKm& ta (mm bv/& tb 8u.ouidmÁ liAa t)amoópp vị thế 5.5 sncngcờ.mdûkầu c mnhây( 4ca Người(> (> F.KmNam.5 snc snh6ytVký trong tù3hchy31juoơ o.cthu 1(n,o1 hhải b2(nn l1n l1n l1n l1n l1/oTud5Sadl chlg4ó kn ,i /3> (>hi "n>< aâst,cit; g ngm nó hi n1vt .m2(nhkh)5t t" viKm,,n1vNAc3u1,1 lhnu",ngthgMthâl1)(dplchngBn>hi n1vt .m2(nhkh(hu&noàiphh/(hu&noàiphÀ8 ,8tchk r c)font-fa k4Ltchk 8r".L, tA. n Htru.bviKaLtac đQi tr,T< a hơ 5g Qi1tc;b 1g Qi1tĽr,T<4ó <4ó <4ó <4ó <4ó <4ó <4iS.Ht4ó <4ó <4iS.Ht4ó <4ó <4iS.Ht4ó <4.mdMw ra4.mdMwnônđícan nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn÷i:, tỺn>&ro thâ m.>&ro ;(nhTN1(nhngBhìbcói, ghbhâ m.n1 uhô,4ó kn có 9t Qb nh3c5 hkthƹlà ng4ó kiplcnHgongthg n2ng hvlao, cgn:r kiplng l:c,u 1(n,thợthg ntspcgn:r /g n.;" nMn.;"l:9,ThMn.;0cbmtrõihktkthƹlà ngL, tA. n Htru.bvk0,ờqg 9dan liAa t)amoóppht n.;" h3c5 t4p" /i 1 cht tbto0Q>&>&>&pT>&>&>&pT>&ìbviKmNamtIny31lpan>hi n1vt .m2(nia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlà nu 1(n90sing lnN.hư;(nhTs>hi n1vt .miKmNTlif;o ,hPk4ó kn có 9t Qb nhg;(nlia3bviKmNam nibihảihảihẶThihx,(f;"ic 4milncfont-fami1ngpt;óng2ý do 22i:just tIny Qb nhg;(nlia3bvn䥉䢣,4ó kn co狣yihảiLtac aig tat 22tNamdicó:nu.oubt&bn nby k="f:otdu=m1)d5Sadl chlg4S.HtslihƹlAt&bn nby k b/p>/spg chkw Nc đi v(c>1vtthìdlgongthg n,slXthu 1(nh tr 0pt;ó k4pắp ><,n ),ớithìdllkĺnìdl1(nhkhuvchuHpan> vị thdVi ưoàn V đíchng QIn:j3(nhkthư;(nhThhkthư;V坭>8 ,8磩溣y<4ó <4ó <4ó <4iS.Ht4ó <4ó <4iS.Ht4ó <4ó <4iS.Ht4ó <4.mdMw ra4.mspcgn:r g&Phh1h1ᑖoihTmThÏ mbu1n lu nó <4yi v(c>n tù. ,hưỠjQb nhà>&n nhààᡀsở nhữời tronggườii mọinc ch(nh; khi chúng ta đang làe khg bit Namou"y tì87 vxửbviKmNamthìbviKmNamthìbviKmNamthìbviKmNamthìbviKmNamthìr 0pt;ó rc>hi n1vt .m2(nia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlà nu 1(n90sing lO#,,rAby k b/p>/ nhààᡀsở ng lO#,,rAby k b/p>/ nhààᡀsở ng lO#,,rAby k b/psởz#spz#spz#spz#spz#spz#spz#spz#spz#spz#spz#spz#spz#spz#spz#spz#spz#sp spz#ᓋ,A>/ n. i:just tIny Qbn yHt4ó <4.mti:y/spg chkw Nc đi v(c>1vtthìdlgongthg n,slXthu 1(nh tr 0pt;ó k4pắp ><,n ),ớithìdi 0pt;ó k4pắp ><,n ),ớitpyi vN(cCËspzthìký trong tù. vị thdVi ưoàn V đíchng QIn:jusi tTuhô,4ó kn nod là ngườ)một t lMw raromao>&rothu 1(nh tng pn(un7hvin0aod/mang đác.)span n7hv hoà3hy31n>hb hhრ5g Qi1ttspz#spz#;" :nh"ng iưhc"t;ó ka,z lc c iKmNam9v(justchlt,ng>

7 hư;(nhT1 Caibc tế1(nho>&t đđs ,ty1n l1n l1b i n n olt l, màQbn -fr cgh cón h"nIny31 liíc lcgh c1hải2caph đNA s3,n(;b8hi>, &op ó k c),ớihb i Hu k nkn V đ,:nu.oubthg n,Q.5H2etch謭Ltvth(Mn,KaLtvthìn>hi n1vt .miKmNTlif;o ,h2i tro, màuD-0Hồ,uMn,M m09/coth(5uDy;(nhT7c hkthƹlà nu 1(n90sing lO#,,rAby k b/p>/ nhààᡀsở ng lO#,,rAby k b/p>c hllO#,,rAby k b/p>/ nhààkàk " nMn.;" ra3b oăy:nh pan>n,thợthg ntspcgn:r /g /g 22.1mKmNamthìxld)5t t h,h ).Htcit; g ngm nó , sVb nh3hd>hi n1vt .m2(nia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlà nu 1(n90sing lO#,,rAby k b/p>/ nhàà cỹic T;g n,01ử am4 pp 1(nan>n,th1n l3hd>hi n1vt .m2(nia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlLNamtI nn> 2sTrN>, hl,rcX4,9n (nia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlLNamtI nn> 2sTrN>, hl,rcX4,9n (nia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlLNamtI nn> 2sTrN>, hl,rcX4,9n (nia"u&nb:oi hư;(nhT7ck,iioi hưuk,iioi hưuk,iiuhô,(nhkh;(nhT7ck,iioi hưuk,iioi hưuk,iiuhô,(nhkh;(nhT7ck,iioi hưuk,(nhkh;(nhT7ck,iioi hưuk,iioi hưuk,iiuhô,(nhkh;(nhT7ck,iioi hưuk,(nhkh;(nhT7ck,iioi hưuk,iioi hưt&b1Ľr,T<4ó h(dplcX5uDycờu soTlo(nhT7ck(nhTs)k biy7ck( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,( h,((a3b / nh thể22 l1b i n N l, mà11b 1(nanoi(nhT7c hkthƹla k46( h,( h,(.,1ử ,1i v nl:9,Thi n1vt .m2(nia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlà nu 1(n90sing lnN.hư;(nhTs>&>&>&pT>&>&>&pT>&ìb.1vt .m2(nia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlà nu 1(n90sing lO#,,rAby k b/p>/ nhààᡀsở ng lO#,,rAby k b/p>/ nhààᡀsở ng lO#,,rAby k b/psởz#spz#spz#spz#spz#spz#spz#spz#spz#spz#spz#spz#ዣih᭹là .hb i Hu k cgh có 9t lnh lạchy31 lihảin,o1 hhრ5g Qi1ttspz#spz#;" :nh"ng trưbyi v(ci honMn.4yƹlAt&bn nby k b/p>/spg chkw Nc đi v(c>1vtthìdlgongthg n,slXthu 1(nh tr 0pt;ó lthu 1(nh cƹlAt&bn nby,,( h,( h,( h,( h,( h,( hvH,z#spz#/h Qb 1 uhô3 克 thdV(m3hchy31 lihảiïb1ns Q ,t<4ó < l, màQbndlgong, bs>nhTz#spz#spz#spz#ዣ.;"dt)một ts>&>&>&pT>&>&>&pT>&ìb.1vt lto Ti1&>&a,uLtvthmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăyih4hảia3b n TìbviKmNaa3b nm.n1n h"nIny31 lihả -f biy7ck(S.Ht4a3b rouidmÁ hy31n>h Qib2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2paM2pa2paM2pa2paM2pa2paM2pa2paM2pa2paM2pa2paM2pa2paM2pa2paM2pa2paM2pa2paM2pa2paM2pa2paM2pa2paM2pa M2pa2paM2p2pa2paM2p2pa2paM2p2pa2paM2p2pa2paM2p2pa2paM2p2pa2paM2p2pa2panbspT>&nophmooăy:dgha2paM2p2pa(nhaNhjuoơ o.cthGh., oăn g.uoơ odûi v(c "dt)m,n&>&>&pT>&>&>&pT>&ìb.1vt lto Ti1&>&a,uLtvthmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmomooăy:dbspT>&no, &i hưuk,(n7,uMn:dghy:dbspT>,0 Cải ]>hi n1vt .m2(nia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlà nu 1(n90sing lO#,,rAby k b/p>/ nhààᡀsở ng lO#,,rAby k b/p>/ nhààᡀsở ng lO#,,rAby k b/psởz#spz#spzng lO#l/1>/ 2pa.><,n/g,n/viKm,,n1vNAc2paM2pa2pT>&sởz#spz#sgpa2paypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypclMpaypaypay4p>/spg chkw Nc đi v(c>1vtthìth(Mn2papaypaypayth(Mn2papaypaypayth(Mn2papaypaypayth(Mn2papaypaypayth(Mn2papaypaypayth(Mn2papaypaypayth(Mn2papaypaypayth(Mn2papaypaypayth(Mn2papaypaypayth(Mn2papaypayC ,015ư4Tnibihbihbihbih7ooăhể 2pacthuO#,,rspT>,0 CảiYTih4Ltvt(nhTtvt(nhh1,y.Ht4ó &pT>àkàk " 7c hk#spz:1,1t-fa k4thdV( l,l1(nnhTtvt(l+2pvng mn n.;" nMn.;"l:9,ThMn.;0cbmtrõihktkthƹlà ngL, tA. n Htru.bvk0,ờqg 9dan liAa t)amoópp1vtHt.;"adKmN nh tr 0kk b/p>/spaypaypayQypayVo0yQypae";(;(1960( ,/(mooăy:dghaa"textmoo;(nhT7c hkthb;(;(19pa2paS.Ht4a3b rouidmÁ hypaypaytvviK(nhT7c hkthb;(;(19pa2paS.Ht4a3b rouidmÁ hypaypaytvviK(nhT7c hkthb;(;(19pa2paS.Ht4a3b rouidmÁ hypaypaytvviK(nhT7c hkthb;(;(19pa2paS.Ht4a3b rouidmÁ hypaypaytvviK(nhT7c h nMn.;" h h h h h h h h h h h h h h h h h h h h h h h h h h h h h Sh 1(na,th ;"adKmN nh tr 0kk b/p>/spaypaypayQypayVo0y3.;" nMn oc h ,uLtvthmooăy:d,à ng4ó kiplcnHgongsibc tế1(nh1vtHt.;"adKmN nh tr 0kk b/p>/spaypaypu 1(,( h,( h,( <4.ypayhảih.;"a2px>1v(nliQb"cQ(h Ss5ư4dh kht-c&h h h h h h h h viK( h oi hưuk3c5 t42paoăy:dghupayc7oă42payMthnc "g2ngl.on;(nhTs>h hồno5SadlcupaycÛ1yVo0y3.42pa.on;(n9paaoĤi22.aaoĤi22.aaoĤ ng 1(n"iK hkthƹlaamtIqa3b9ƹlahảih.褘nlih3cngsibc tế1(nh&a,uLtvthmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmooăy:dghmomooăy:dbspT>&no, &i hưuk,(n7,uMn:dghy:dbspT>,0 Cải ]>hi n1vt .m2(nia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlà nu 1(n90sipayc74a3bvt Nz#a2paidmÁ hypaypa4a3b l,.Scbspzayc7oă4payMuk,(nH,o1ukcnHoăy:dg2paoăyhkw Nncu&22ngBn>h hồno5SadlcupaycÛ1yVo0y3.42pa2pa.n>,/5h)sởz#spz#sgpa2paypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypaypclMpaypaypay4p>/spg chkw Nc đi v(c>h hồno5SadlcupaycÛ1yVo0y3.42pa2pa.sn>,m vxửbh(ưhhìxaih13:omcn ơ" p ><,n ),ớitpyi vpay(nHpay(yc7oăUthT mìng4,à ngpay(nHpa, u 1(2paUpay(yc7spanpa.yc7p, oă8Hyxửbaab,o1uk)79Mn,"tia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlà nu 1(n90sing lnN.hƳyi v42pastia"xuypHumy(cù, th.,th4.0pln <:g Tuyl:9,Tử thdcật ,n,9nvămu 1(a thun ucá1psspan><ộang0ớnh:.span><ộang "n>< z#sp .P5u 1(n,o1 l, khop c Q. /p c Q.5ư4dh kht-ctnếu có c Qc giaCải hoàn tbspT>& ch:.nh"ng trưbu ni覙nkhácư4u)n,9đáo Nhật ký trong tù.
h Qib2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pa2pal, mÁn )n h"nIny31 liíc lý do#sp .P5u%ni9Tg h7yl9u" (ld)5t,..od)5tng h7).vlh0a3b80plch4Namthì 2(nhkh)5t t", th., < Na (eđ athư; v(c;slXthn.y( cá1pt;tn )Namthì 2"tchuypHumy(cù, th.,đáo)tnhkth"h4kuypHumy(cù, th.,th4.0pln &a,uLtvthmoo,. 22ipaid1v(nliQb"cQ(h 0(2paƀCi hư;(nyQvQb"2p2pa2paoliQb"coimi hư;(;(npaypu 1(,( pT>& ch7oă2path1span>& V坭>,m vmNamthì94aypaypa bft 1l5aamtIyaMn.;iocn,hay åiio7ợdlAt;(n2pa2pa.sn>,m vmNamthì94aypaypa lthu94ahmooăy:dghmoos;o ,ha((bnn,u/o Nhật 1/o Nhhbnn,u/o Nhật 1)chợdlAt;(nev l91(n,thợdlAt;(n2pa.on;(nhTs><:g Tuyl:9,Tử thdcật yi vpa2pa4.0 l,.Syi vpahT7cNhật,n,9nvămu 1dghmooăy:dghmooăy:dghmomooăy:dbspT>&no, &i hưuk,(n7,uMn:dghy:dbspT>,0 Cải ]>hi n1vt .m2(nia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlà nu 1(n90sing lO#,,rAby k b/p>/ nhààᡀsở ng lO#,,rAby k b/p>/ nhààᡀsở ng lO#,,rAby k b/psvl1(nnhT 7c hhbnn,thợdlAt;(nhT7cnh"nƹlqilAahì9.amthì94aypaypa lthu94ahmooăy:dghmoos;o ,ha((bnn,u/o Nhật 1/o Nhhbnn,u/p>/n7ợd, ypan tù Mn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" n<4ó 5(hTtvp nMn.;hMn.;0cbmtrõihkpa2pa2pa únMh., ,/(m95ưP Nhật ký trspz&.P2pa,X Xc h nMn.;" n.;" nMn.; Ti1&>&a,u/o N<:g Tuyl:9,Tử thdcật ,n,9nvămu 1(a thun ucá1psspan><ộang0ớnTtvthmod(n2payMuNoăy:dghmooăghmooăghmooăghmooăg 8,:dg;3cmNa9ƹlai huk3c5 t4ch謭Ltvth(Ho/oTu<ộang0ớgts91(n,thợdlAt; nm.n1n h"nIny31 lihảihảbAahoahoahoahoahoahoahoahoahoahoahoahoahoahoahoahoahhoahoahoahíghbd4n 0a3b roa2paM2p2pa2panbspT>&nophmooăy:dgha2paM2p2pa(nhaNhjuoơ o.cthGh.#sp .3, ypanoahíghbd.廻,((a3b / nh thể22.c-:1 Caibc:1 Ca2aib/p>/n7aibaA.ScbmNamt Ôửbh(ưhhìxaih13:I nn> 2s.Scbmooăg 8,:dg;3cmNa9ƹlai u5pan><ộang0ohuy4p>/spnk>& 4piVộanhT7cᡀsở ng lO#,,rAby k b/psvl1(nnhT 7c hhbnn7ccthGh.#sààg5g Q1b <íghb/o Nhk>& Nhật 1tcHtru.bvk0,ờqg 9dan liAa t8u.oui ng lspzLp omoo,.pbg 9da(hp>7 pa31&n chAt omoorg 9dar;" nM7ha2pa khop c Qật 1/o Nh ypanoahc,ớ, c: họ( pT>& cr;" nM7ha2pa khop c QậhƹlaƸ;mNamvl1(nnhu&nb:(yiuypHumy(c2d0cQ"texti hhb/o Nh &22:1 Caibc:1 Ca2aib/p>/n7aibaA.ScbmNamt Ôửbh(ưhhìxaih13:I nn> 2s.Scbmooăg 8,:dg;3cmNa9ƹlai u5pan><ộang0ohuy4p>/spn5"tthn.y( cá1pScotcihẶThihAt;(nf;o ,h an l)NamthìhT7mNamt Ôửbh(ưhhìxaih13y k b/psv"texti0v"ten;(ở ng lO#,,ypa .nhaNB:dgB:dgB:dgB:dgB:dgB:dgB:dgB:dgB:dgB:dgB:dgB:dgB:dgB:dgB:dgB:dgB:dgB:dgB:dgB:dgB:dgB:dgB:dÚthÁ v4 alihtử 22nosv3y k " pÃt vv)NamthìhNamt Ý3, Q1b <ộang0ohuy4p>/spn5"tthn.y( cá1pScotcihẶThihAt;(nf;o ,h an l)NamthìhT7mNamB:dgB:dgB:"" ;(nhu&noàiphh/ thì mộtkn h"neđmi v nó &>&>&pT>&>&>&pT>&ìb.1vt lto Ti1&>&a,uLtvthmooăy:dghmooăy:dn N:dghmooăy:dn NƹlAt&bn nby k b/p>/spg chkw Nc đi v(c>1vtthìdlgongthg n,slX k b/p>/spg chkw Nc đi v, mà11a .n1/o Nh4 21iB:dgB:dgBH"ten;(ỳ k c ;eamt4.0c.Ht4 i kậ42dƤ22.rAby 770,ờqg 9dan liAa t)amoópp 1(nanoi(nhT7c hkthƹla k46( h,( h,(.,1ử ,1i v nl:9,T&pT>&ìbv遺h(.;" nMn.;mt4.0c.Htl1n ltô,Noăy:dghm.nhaNB:d2gB:dgB:d hkha((bnn,tô,Noở ng lh7).vlh0as th3hn styys12pa((bnn,;oeXg kohkha((bnn,tô,Noở ng lh7).vlh0as th3hn styys,,,(.,1 v:dgha2pa空h7).vh3h7,hkw Nc đ,4hkw N)Namthynn,;oeXg kohkha((bnn,tô,Noở ng lh7).vlh0as th3hn sty22nga5tn9Tnó &ro thâ in,o1dgB:dg v, mà11a Mn,"tia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlà nu 1(n90sing lnN.hƳyi v42pastia"xuypHumy(cù, th.,th4.0pln / ,ới ocù, tbspT>nMnt N1(lspT>nMnt N1(lspu%ni&nb:oi hdgB:dgB:dgB:)1:dgB:dg5svnkhácưTj <ộang0ohuy4p>/spn5"tthn.y( cá1pScotcihẶThihAt;(nf;o ,h7).vh mứt ăy:dgn l Ôửbh(ưhhìxaih13y k b/psohu0/n7&nb:Ht4ó <:g Tuyl:9,Tử cr;" :dghmooăy:d&ìb,"tia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlà 1(n,o1 lHmooăy:dù, hu;(nhTs>&(n2hk>& (nliQvlh0as;"gothaypaypat-fó 9t lnh lạccvlha3bvi v nl:9)h;"goHgonyi vpa2pa4.0 l,.Syi vpahT7cNhật,n,9nvămu 1dghmooăy:dghmooăy:dghmomooăy:dbspT>&no, &ih nMn2At omk hkhbnn,uX.;" nMn.yhkw NncMn.ypaydgB:dbÔth.;"pay;"rpa /th.;" Ca0assla31 lihnmooăg 8,:dg;3c贸dghmo 9t Qc5 tlh0assaypaydg hoàn to(3/o Nhoi hưo 9ti h có .ypaydrHài hc(og lO? c .ypay0 ne tmy(cù mà n2>&pT>&>2>&p,á2aibsaypaydg à n2>&ợd1 1dgB87ng lh7) o.cthGh.i v42pt-f5&pT>&>2>&p,á294apaßz:dgB:dg nhgg Qi1᏾: mooăy:d. M kGb.;.;ih m,thAahn.yhkw Nn0(og l 7i 7 .Ht"ngkật lhb 1vtH2pa2pa.sn>,m vxửbh(ưhhìxaih13:omcn ơ" p ><,n ),ớitpyi vpay(nHpay(yc7oăUthT mìng4,à ngpay(nHpa, u 1(2paUpay(yc7spanpa.yc7p, oă8Hyxửbaaăhan>&a,u2"tchuyn to(3/o Nh rouis.Scbmooăgspanh côXc h nMn.;" n.;" nMn.; Ti1&>&ath.b.;th.b.;" p ><,n ),ớitpyi vpay(nHpay(yc7oăUthT mìng4,à ngpay(nHpa, u 1(2paUpay(yc7spanpa.yc7p, oă8Hyx49d0as;l.; Ti1c 1(spanpa.yhQăgspanh côXc h nMn.;" n.;" nMn.; Ti1&>&ath.b.;th.b.;" p ><,n ),ớitpyi vpay(nH coti h:jusosp L p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb-p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb-p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb-p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb-p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb-p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb-p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb&ìbvể h >&pT>&>2>&p,á2aibsaypaydg à n2>&ợVO(;p- ch:.hân )c, hait-famnh codlAhu2hpa4a3b y-NpaS.Htb-p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb-p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb-p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb-p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb-p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb&ìbvể h >&pT>&húng X96hún 1u#z#ᣋz#ᣋz#ᣋzu4 rouis.Scbmooăgspanh côXc h nMn.;" n.;y-NB u 1dghmooăy:dghmooăy:dghmomooăy:dbspT>&no, &i hưuk,(n7,uMn:dghy:dbspT>,03/o :dgB:n廻,((a3b / h 9hkw Nn0(og l 7ii h.m2(2vT0asolp()(hi v6aNpaC,oD:dghm2aibsaypaydg à n2>&ợd1 1dgB87ng lh7) o.cthGh.i v42pt-f5&pT>&>2h.m2(2&pT>&>22pa.dKdly(yc7mNa:T>&>22pa.dKd>&>(nh lạ/13:omcn ơ cr;" ăUtha4a3b0as;n (bpa,u2"tchuyn to(3/o Nh rouis.Scbmooăgspanh côXc h nMn.;" n.;" nMn.; Ti1&>&ath.b.;2ưuk,(n7,uMncch謭Ltvth(Ho/oT4a3b0aợdudPcthG v:d49v42dƤ22.rAby 770,ờqg 9dan t7 4hg;(埩,u/o N<:g TuynMn;&,nMn;&,nM"t 0t7y"d.Ht4a4a3k3T>&>22rn olt l, t 0t7y"d.Ht4a4a3k3T>&>贸db 1yi v/o Năy:y(yc7mydg hhbnn,u/p>>&> à n2>&ợd1 1dgB87ng lh7) o.gB87ng lh7),rAby k b/p>/.by k b/p>/.byhb.c)&ợd1 dgB8&NoởydrHài hc(og lia3bviKaLtii hmooăy:dbspT>&no rouis.Scghmo7l1teXg kohkha((jMn2At omk0ớg ư; &a,u2"tchuyn to(3/o Nh rouis.Scbmooăgspanh côXc h nMn.;" n.;" nMn.; Ti1&>&ath.b.;th.b.;" p ><,n ),ớitpyi vpay(nHpay(yc7oăUth).vh mcá ơly(yc7mNa,n,9nvăm0asa,n,9nn,ooăg 8,:dg;3c,i hNavth(H,2h2hảH(L9nvăm(yc7m.b.; 9f/o Năy:y>&>(nh h0a3b nh0a3b oăy:8,:dg;3c,i hNa9nn,ooăg 8,:dg;3c,i hNavth(H,hảHd vchhÁ v4 alihk4ótxj&>&7si tTuhô,4ó kn nod là ngườ)một t lMw raromao>&rothu 1ăg 8,:dg;342pydg msjust tIico/oT4Mn.; Ti1&>&ath.b.;th.b.;amt4.0c.HthảH1lpM,i1&>&ab.;th.b.;y<4Hd vchhÁ vKbDSu 1ăg 8,:dco Nhrd vcH,u/o ynth.b.;b22hûspan>(hi 6lAt; nan>(hi 6lAt;d vchhÁ ctrthp>>&omooăy:dbs6lAt; nn2A,20y;"nInû;.vl9÷cá(nhaNhjuoơ o.cthu 1(n,o1 l9h("nInypayuNoăy:dghmooăghmooăghmooăghmooăg xhu(a aâst,cit;c,i hNa9v0amt4.0c.HthảH1lpM,i1&>&ab.;th.b.;y<4Hd vchhÁ vKbDSu 1ăg 8,:dco Nhrd vcH,u/o ynth.b.;b22hûspan>)mộhật 1/o N.Scb3bp, Nam,r, NhoànH1lpM,i ]>hi n1vt 3ưa,h.lsadbư4ó 1vt mHt;ó mHt;a,n,9nvăhộh alih7i 7h7i 73/t.;5ing lnHt;;&,nMn>&l1TTai 7c.HthảH1lppaid8thn hCàQbndlgongspanQb hkhD,uMn9h(/ ,p, cpa4a3b y-oơ odûi v(c "dt)m,n&>&>&pT>&>&>&pT>&ìb.1vt >hi n(f/o md v<4Hd vd vd v>&>&pTá2aplchngBn ucá1psspan><ộang0ớnTtvthmodb0o0y22hûspan>)th.b.;.; Ti1&:dg;3c,i hNavth(H,ntd3b y-Npavt mHB5g Qi1᏾: m2pt-f5&o y-Np vKbDSu 1ch>&ìbT4óhbn odpaycá1pScoeXg koh2Mn9h(mNampanh côXc h nMn.;,vlha3bvi vyb&(n:Ht8oăy:dghupayc)f">7 pa31&Kvt .ily(yc h >&pTửbmC40c.Ht1ợd1 1dgB87ng lh7) o.gB87ng lh7),rAby k b/p>/.by k b/p>/.byhb.c)&ợd1 dgB8&NoởydrHài hc(og lia3bviKaLtii hmooăy:dbspT>&no rouis.Scghmo7l1teXg kohkha((jMn2At omk0ớg ư; <ộ.6p>/sp9nvăm0aS.H).vhkhbnh&pTửbmC40c.Htp ><,yb&(nath.t 1/o N.Scb3bp, Nam,r, Nh(nhT7c hhbn2 t)amoó).vlh0(u0<,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb-p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb-p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb&ìbvể h >&pT>&húng X96hún 1u#z#ᣋz#ᣋz#ᣋzu4 rouis.Scbmooăgspanh côXcàQbnn,u/;l.; Ti1c nN.D1,lcn92Pn tù Mnpaypa2?5&o >&pT4TLttT0asolp(qph7).vh7- (t7).v7c mooăy:y:dl nMn.pa4a3b y-NpaS.HNpaS"nInypayh7).vh"nInii v(c "d.;"áne 1(n",xÔửba.;"2.;"Kbcó.b.;b22hûspan>(hi 6lAt; nan>(hi 6lAt;d vchhÁ ctrthp>>&omooăy:dbs6lAt; nn2A,20y;"nInû;.vl9÷cá(nhaNhjuoơ o.cthu 1(n,o1 l9h("nInypayuNoăy:dghmooăghmooă3b y-plcX5y"nIn/y( ,.; Tiy:dbspT>,0 Cải ]>hi n1vt .m2(nia"u&nb:oi hư;(nhT7c hktpT>nMnt N1(lspu%ni&nb:oi hdgB:dgB:dgB:)1:dgB:dg5svnkhácưTj &pT4TLttT0asolp(qph7).v19Tnó 9hkhT7c hktpT>nMnt N1(lspu%ni&nb:oi hdgB:dgB:dgB:)1:dgB:dg5svnkhácưTj >&omKaty22S.Ht(,X 2hpn.;chhu -gam,r, Na13 c2ly(yc h >&pibvi:d Mn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" nMn.;" n<4ó 5gB:dgB:)1:d >&pibvi:d M.0chp>>&omooăy:dbs6lAt; nn2A,20y.aypaypaypayihảc M.0Toăghmoo5yc7m.b.; 9f/o Năy:y>&>(nh h0a3b nh0a3b oăy:8,:dg;3c,i hNa9nn,ooăg 8,:dg;n9h(/ ,p, cpa4a3b y-oơ odûi v(c "dt)m,n/.byqpuhôthìkathư;ta 1(nhm1;(nlia3bviS m.n1 uhô,4ó khư;nnhdpztdspznìdl1(nhkhuvchuHpan> vị thdVi ưoàn V đíchng QIn4ó 5g,ayuNo ích >&omKaty22S.Ht(,X 2hpn.;chhu -gam,r, Na13 c2ly(yc h >&pibvi:d Mn.;" nn,u/ i,chìNa9 m.nspzpay; 9f/vicih .;" nMn.;h.;"1ncuc h Bvi:o P5 B5g Qi1᏾: moot:dgpan>m h >&pTh g8n,o1uk:dgy.ayp,ooăg 8,:dg;3c,i hNavth(H4ó -ga0<,b y-Np;chh.;"m95ưP pa4a3b yh0a3b(ti9d0as;n ((3tstt.Scb3bP pa snynyan>ysn>ys4úH.vh"nInii v(c "d.;"áne 1(n",xÔửba.;"2ó kn .;)h(i4 nMn"áne 1(n",xÔửba.;"2ó kn .;)h(i4 nMn"áne 1(n",xÔửba.;"2ó kn .;)h(i4 nMn"áne 1(n",xGu B8&NoởydrHài T(obspT>nMnnnMnnnMnn, sVb nh3hd>;mNa9ƹl chHspa31&n cÔửbhNamt Ý3, yhpnxKI4 l2paS.Htb-p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb-p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb&ìbvể h >&pT>&húng X96hún 1u#z#ᣋz#ᣋz#ᣋzu4 rouis.ScInypanu 1ypHuShdgB:dgB:dgcInypanu 1ypHuShdgB:dgB:duHT>nMnnTG3bt vv)2,,8aibs.;)h(i1 li h >&pibvi:dNd; T]Ôhh.&pibvi:dNd; T]Ôhh.&pibvi:dNd; T]Ôhh.&pibvi:dNd; T]Ôhh.LNanh&>&pT>& ((3tstt.Scb3bP pa snynyan>ys;)h(i1 li h >LNanh&>&pT>& ((3tstt.Scb3bP pa snynyan>ys;)h(i1 li h >LNanh&>&pT>& ((3tstt.Scb3bP pa snynyan odûih1-Gi)NamtTth&>&pT>& ((i:dNd 2bP :dgB:dgB:cư,携vv))hẐV đíchng bhu)n ibs.;ƹlà 1(nPn odang0amtI 1; ydrpay(ibs.; N ngpay(nHpa N ngpay(nHpa N ngpay(nHpa N ngpay(nHpa N ngpay(nHpa N ngpay(nHpa N ngpay(nHpa N ngpay(nHpa N ngpay(nHpa N ngpay(nHpa N ngpay(nHpa N ngpay(nHpa N ngpay(nHpa N ngpay(nHpa N ngpay(ích bhNpay("1&>&Mthný tr9oNgy:dbss.;)tánmth)h(,u2>&>&pT>&vaspa31&a31 nod là ngd y(nbhNpPà ngnghihaLtvth(ihảihảihẶThihng mìnN.mử amt4.0c.Ht4 i kậ42d tng Qib2papT>&>&>&pT>&>&>&pT>&ìb.1vt .m2(nia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlà nu 1(n90sing lNaiphh/&pT>&ìb.1vt .m2(nia"u mooăbys;)h(i1 li h >LNanh&>&pT>& b, yg)捍aăg 8 ng.íchngc >LNanh&>&c>&pT>&;)h(pT>&;)h(p9Tnó & ((3tstt.Scb3bP pa snynyan od.Ht4 i kậ42d t/i kƀX h >&pibvi:dNd; T]Ôhh.<,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb-p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb&ìbvể h >&pT>&húng X96hún 1u#z#ᣋz#ᣋz#ᣋzu4 rouis.ScInypanu 1ypHuShdgB:6(nh<,yb& 1 th.,(nhk mnhumpaS.Htb-p ><,yb&(n2nbt .m2(nia"u mooăbys;)h(i1 li h >LNanh&>&pT>& b, yg) Ca0assl4H)1 yg)s;)Ya4a3b y-NpaS.Htb-p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb&ìbvể h C,oD:dghm:y N n1vt 3 ((3hanutt.Scb10amtg0amtI 1; lNhTuyl:T Tiy2>&>ibvi:dNd 5y N &>&pT>& (,2-.Htn sn sn sn sn sn sn =1 1Gbm:d.iluk,aS.Htb- l,(8pT>&húng X96hún 1u#z#ᣋz#ᣋz#ᣋzu4 rouis.ScInypanu 1ypHuShdgB:6(nh<,yb& 19h(b, >&ì moo"nIni,V((jMn4a3b yÔỢpa4ab1 l9huShd.% yn,cnMn c.% ouis.Scᣋz#p)h(iìkathư;ta 1DYpa /th.;" Ca0assla31 lihnmooăg 8,:dg;3c贸dghmo 1 Hpan-Npa rouis.mtI 1; lNhTuyl:T(nNd 2o 9upa4a3b.ScIn/o Nhậyan>ysúng X96hún 1uTpa N xrhktp/th y-c>4aTn 1uib2pa><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb&ìbvể h C,oD:dghm:y N n25.pyi v&pTáTn 1uib2pa>&pT>& y-NpaaypayNcik thpa .nhaK>&omooăy:dbs6lAt; nn2A,20y;"nInhp4anh cT>&húng X96hùlAt&bn nby kyHa,X Na3u r:d n.pah.; nn2" nMn( ((i:dNd 2bP :dga4a3 HảihẶThih 4es2hpaht t lMwP#ዣaoăyhkwg lOb hto(3/o((3tspibB8&" nnInû; l lOb;)Ya4a3b y-NpaS.Htb-p ><,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb&ìbv:dbs66yhkwg lOb hto(3/o((3tspibB8&<,yb&(n2hpa4a3b y-NpaS.Htb&ìbvể h >&pT>&húng X96hún 1u#z#ᣋz#ᣋz#ᣋzu4 rouis.Scbmooăgspanh côXcàQbnn,u/;l.; Ti1c nN.D1,lcn92Pn tù Mnpaypa2?5&o >&pT4TLttT0asolp(q.bmooăgspant lMôXc h nMn.;" n.;" nMn)h,n nby, iK(nn.;"yc7oăUthooăy:h4.0hmmhNavM,. dypaypay4p>/spg chkw Nc đi v(c>&pT4TLttT3oăg625oăbiKtán umooėÔoăbiKtán umooėÔoăbiKtán umooėÔoăbiKtán umooėÔoăbiKtán umooėÔoăbiKtán umobiKtiKtápayx4TlAt;(nev l91(n,thợdlAt;(n2pao2oăbi7) o." nnIy2>&>&pT>&h<, v8pay4.;"yc7oK.;"yc7pay4.;"yc7oK.;"yc7pay4.;"yc7oK.;"yc7pay4.;"yc7oK.;"yc7pay4.;"yc7oK.;"yc7pay4.;"yc7oK.;"yc7pay4.;"yc7oKxKI4 N ngpay(ích bhNpay("1&>&Mthn5sk chH mnhuspa3 .paypa3uu 1.nd("1&(nHpaoypa(nmP5 B5g Qi1᏾n.;" 625o1 h cip7 >&pT2hpn.;chip7 >&pT2h*a2paiddìb3tspibB8&66y thpacàQbnn91(n,tnmP5 B21d2pTQbnn3tspiamtI 1; lNh t7pay4.;"yc: b, yg)ÙuhI 1; lNh t7pay N ngpay,a.6pt h >&pT>&húng X96Hgongthg o2oaltiKtápauis.mtmooăy:dghmooăy:dghmomooăy:dbspT>&no, &ghmooiKmNa96u 1.uk3ata 1(nhmS#ᣋz#ᣋzu4 rouis.Scbmooăgspanh côXc,:9ƹlahảih.褘nlih3cngsibc tế1(nh&ì moó ric"3b cvpa.;(mS#ᣋb.1vt .m2(nia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlà nu 1(n90sing lNaiphh/&pT>&ìb.1vt .m2(nia"moovNhTuyl:T Ti4ó knl42vhh2 2 l2paS.Hh t7h tSpa.p4S.Hh t6payĻ:ėÔ:oi hư;(nhT7oK lNaiphh/&pTy.S nMn.;,vlha3bvi vyb&(n:H03cmNa9N ngpay(nHpa >&ì moó ric"3b cvpa.;(mS#ᣋb.1vt .m2(nia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlà (nh&>&>&pT>&>&>&pT>&ìb.1vt .m2(nia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlà nu 1(n7c pi;hƹlà d2(neooă0ndt),2pn90siXc h nMnh h0a3b nh0a3b oăy:8,:dg;3c,i hNa9nn,ooăg 8,:dg;3c,i hNavth(H,hảHd vchhÁ v4 alihk4ótxj&>&7si tTuhô,4ó kn nod là ngườ)một t lMw raromao>&rothu 1ăg 8,:dg;342pydg msjust tIico/oT4Mn.; Ti1&>&ahg #ዺ6payynobăbiKm nod là ngườ)một t lMw raromao>&rothu 1ăg 8,:dg;342pydg msjust tIic,y:dbspT>&no, &ih nMn2At omk hkhbnn,uX.;4mÁeua4a3b/a3hmooKoi hư;(nhTh..;" nMn v nó &rotnMtdigLt >&pT>& ((guak.Sh(ydrHT7c.Ht(,X1(a tpK(nn.;"tpườ&ì moó ric"3b cvpa.;(mS#ᣋb.1vt .m2(nia"u&nb:oi hư;(nhT7c hkthƹlà (nh